MẬT TẠNG PHẬT GIÁO VIỆT NAM TẬP II Ban phiên dịch: Thích Viên Đức, Thích Thiền Tâm Thích Quảng Trí, Thích Thông Đức Cư sĩ Huỳnh Thanh, Như Pháp Quân ---o0o--- ---o0o---
MẬT TẠNG PHẬT GIÁO VIỆT NAM
TẬP II
Ban phiên dịch:Thích Viên Đức, Thích Thiền Tâm
Thích Quảng Trí, Thích Thông ĐứcCư sĩ Huỳnh Thanh, Như Pháp Quân
---o0o---
---o0o---
Mục lục
MỤC LỤC MẬT GIÁO BỘQUYỂN HAI
ĐẠI CHÁNH NGUYÊN BẢN
ĐẠI TẠNG KINH 1- Phật Tâm Kinh Phẩm. Q. Thượng, MT Bộ 2 . Số 920 (Tr. 02 - 08)2- Phật Tâm Trung Tâm Ấn. Q. Hạ, MT Bộ 2. Số 920b (Tr.08 - 15)3- Kim Cương Đỉnh Kinh Quán Tự Tại Vương Như Lai Tu hành phápMT Bộ 2. Số 931 (Tr.72 - 75). 4- Phật thuyết Vô Lượng Thọ Công Đức Đà-La-Ni Kinh. MT Bộ 2. Số 934 (Tr.80).5- Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh - Phẩm Nhập Pháp Giới- Tứ Thập Nhị Tự Quán Môn. MT Bộ 2. Số 1019.6- Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh - Phẩm Nhập Pháp Giới- Đốn chứng Tỳ-lô-giá-na Pháp thân Tự luân Du già Nghi quỹ. MT Bộ 2. Số 1020.7- Đại Thừa Vô Lượng Thọ Kinh. MT Bộ 2. Số 936 (Tr.82 - 84).8- Phật thuyết Đại Thừa Thánh Vô Lượng Thọ Quyết Định Quang Minh Vương Như Lai Đà-la-ni. MT Bộ 2. Số 937 (Tr.85 - 86).9- Cửu Phẩm Vãng sanh A-Di-Đà Tam-ma-địa Tập Đà la ni Kinh. MT Bộ 2. Số 933 (Tr. 79 - 80).10- Phổ Biến Quang Minh Thanh Tịnh Xí Thịnh Như Ý Bảo Ấn Tâm Vô Năng Thắng Đại Minh Vương Đại Tùy Cầu Đà-La-Ni Kinh. Quyển Thượng. MT Bộ 3. Số 1153 (Tr. 616 - 632).11- Phổ Biến Quang Minh Thanh Tĩnh Xí Thịnh Như Ý Bảo ấn Tâm Vô Năng Thắng Đại Minh Vương Đại Tùy Cầu Đà-la-ni Kinh. Quyển Hạ. 12- Phật thuyết Thần chú Tùy Cầu Tức Đắc Đại Tự Tại Đà-la-ni Kinh MT Bộ 3. Số 1154 (Tr.637 - 644).13- Kim Cương Đảnh Du già Tối Thắng Bí Mật Thành Phật Tùy Cầu Tức Đắc Thần Biến Gia Trì Thành Tựu Đà-la-ni Nghi quỹ. MT Bộ 3. Số 1155 (Tr.644 - 649).14- Đại Tùy Cầu Tức Đắc Đà-la-ni Minh Vương Sám Hối Pháp. MT Bộ 3. Số 1156 A (Tr.649 - 650).15- Tông Quyến Tăng Chánh- Khẩu truyền của Đường Quốc Sư. MT Bộ 3. Số 1156 B (Tr.650 - 651).16- Dược Sư Lưu Ly Quang Thất Phật Bổn nguyện Công Đức Kinh Niệm tụng Nghi quỹ. Quyển Thượng. MT Bộ 2. Số 925a (Tr.33 - 37).17- Dược Sư Lưu Ly Quang Thất Phật Bổn nguyện Công Đức Kinh Niệm tụng Nghi quỹ. Quyển Hạ. MT Bộ 2 Số 925b (Tr.37 - 41). 18- Dược Sư Lưu Ly Quang Thất Phật Bổn nguyện Công Đức Kinh Niệm tụng Nghi quỹ Cúng dường Pháp. MT Bộ 2. Số 926 (Tr.41 - 48). 19- Dược Sư Thất Phật Cúng dường Nghi quỹ Như Ý Kinh. MT Bộ 2
Số 927 (Tr.48 - 62).20- Dược Sư Thất Phật Cúng dường Nghi quỹ. MT Bộ 2 Số 928 (Tr. 62 - 67). 21- Công Đức Thiên Pháp., 1 quyển. MT Bộ 1 (Tr. 874 - 877). 22- Quán Tự Tại Thành Tựu Du già Liên Hoa Bộ Niệm tụng Pháp môn. MT Bộ 3 Số 1030 (Tr.01 - 04).23- Cực Lạc nguyện văn. MT Bộ 2 Số 935 (Tr. 80 - 82).24- Mẫu Lê Đà la ni Chú Kinh . MT Bộ 2 Số 1007 (Tr.657 - 668).25- Tăng Huệ Đà la ni Kinh. MT Bộ 4 Số 1372 (Tr.889).26- Phật thuyết Túc Mạng Trí Đà la ni Kinh. MT Bộ 4 Số 1383 (Tr.904).27- Phật thuyết Túc Mạng Trí Đà la ni Kinh. MT Bộ 4 Số 1382 (Tr.904).28- Phật thuyết Đại Kiết Tường Thiên Nữ Thập nhị Danh hiệu Kinh. MT Bộ 4 Số 1252 (Tr.252). 29- Phật thuyết Đại Kiết Tường Thiên Nữ Thập nhị Danh hiệu Kinh. MT Bộ 4 Số 1252 Bis (Tr. 252 - 253). 30- Đại thừa Đại Kiết Tường Thiên Nữ 12 Khế 108 Danh Vô Cấu Kinh. MT Bộ 4 Số 1253 (Tr. 253 - 255). 31- Ma-lợi-chi Bồ tát Niệm tụng Lược pháp. MT Bộ 4 Số 1258 (Tr. 258). 32- Ma-lợi-chi Thiên Nhất Ấn Pháp. MT Bộ 4 Số 1259 (Tr.285). 33- Pháp Sử Chú Kinh. MT Bộ 4 Số 1267 (Tr.297 - 298)34- Ma-hê-thủ-la Thiên Yếu pháp. MT Bộ 4 Số 1279 (Tr.339 - 340).35- Phật thuyết Thánh Diệu Mẫu Đà-la-ni Kinh. MT Bộ 4 Số 1303 (Tr. 421 - 422).36- Phật thuyết Chú trị bệnh thời khí Kinh. MT Bộ 4 Số 1326 (Tr.41937- Phật thuyết Nhất thiết Như Lai Danh hiệu Đà-la-ni Kinh. MT Bộ 4 Số 1350 (Tr.864).38- Phật thuyết Bảo Sanh Đà-la-ni Kinh. MT Bộ 4 Số 1412 (Tr.916).39- Phật thuyết Đại Cát Tường Đà-la-ni Kinh. MT Bộ 4 Số 1381 (Tr.903 - 904).40- Phật thuyết Chiên Đàn Hương Thân Đà-la-ni Kinh. MT Bộ 4 Số 1387 (Tr.906).41- Kim Cang Hàng phục Tập hội Phương Quảng Nghi quỹ. Quán Tự Tại Bồ tát Tam thế Tối thắng Tâm Minh Vương Kinh. MT Bộ 3 Số 1033 (Tr.09 - 16).42- Thiên Chuyển Đà-la-ni Quán Tự Tại Bồ tát Chú. MT Bộ 3 Số 1035 (Tr.17 - 18).43- Thiên Chuyển Đà-la-ni Kinh. MT Bộ 3 Số 1036 (Tr.18 - 19).44- Thanh Tịnh Quán Thế Âm Phổ Hiền Đà-la-ni Kinh. MT Bộ 3 Số 1038 (Tr.21 - 23).45- Kim Cang Đảnh Giáng Tam thế Đại Nghi quỹ Pháp vương Giáo Trung Quán Tự Tại Bồ tát Tâm Chân ngôn Nhất thiết Như Lai Liên Hoa Đại Mạn Noa La Phẩm. MT Bộ 3 Số 1040 (Tr.30 - 32).46- Quán Tự Tại Bồ Tát Tâm Chân ngôn Nhất Ấn Niệm tụng Pháp.
MT Bộ 3 Số 1041 (Tr.32 - 33).47- Thánh Quán Tự Tại Bồ Tát 108 Danh hiệu Kinh. MT Bộ 3 Số 1054 (Tr.69 - 70).48- Phật thuyết Liên Hoa Nhãn Đà-la-ni Kinh. MT Bộ 4 Số 1411 (Tr.927).49- Phật thuyết Bí Mật Bát Danh Đà-la-ni Kinh. MT Bộ 4 Số 1366 (Tr.884).50- Phật thuyết Đại Thất Bảo Đà-la-ni Kinh. MT Bộ 4 Số 1368 (Tr.888).51- Bảo Tạng Thiên nữ Đà-la-ni Pháp. MT Bộ 4 Số 1282 (Tr.342 - 343).
MỤC LỤC
MẬT TẠNG PHẬT GIÁO VIỆT NAMTẬP II
Lời nói đầuThay lời tựa* Mật Tạng Việt Nam số 19:
- Phật Tâm Kinh Phẩm, quyển Thượng, - Phật Tâm Trung Tâm Ấn, quyển Hạ,
* Mật Tạng Việt Nam số 20:- Kinh Kim Cương Đỉnh- Pháp Tu hành của Như Lai Quán Tự Tại Vương,
* Mật Tạng Việt Nam số 21:- Phật nói Kinh Vô Lượng Công Đức Đà-la-ni,
* Mật Tạng Việt Nam số 22:- Kinh Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm- Phẩm Nhập Pháp Giới- Tứ Thập Nhị Tự Quán Môn- Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm- Phẩm Nhập Pháp Giới- Đốn chứng Tỳ-lô-giá-na Pháp thân Tự luân Du già Nghi quỹ.
* Mật Tạng Việt Nam số 23:- Kinh Đại Thừa Vô Lượng Thọ.
* Mật Tạng Việt Nam số 24:- Phật thuyết Đà-la-ni Đại Thừa Như Lai Thánh Vô Lượng Thọ Quyết Định Quang Minh Vương.
* Mật Tạng Việt Nam số 25: - Kinh Tập Đà-la-ni Cửu Phẩm Vãng sanh A-Di-Đà Tam-ma-địa.
* Mật Tạng Việt Nam số 26: - Dẫn nhập: Bồ Tát Đại Tùy Cầu. - Kinh Phổ Biến Quang Minh Thanh Tịnh Xí Thạnh Như Ý Bảo Ấn Tâm Vô Năng Thắng Đại Minh Vương Đại Tùy Cầu Đà-la-ni, quyển Thượng.
- Kinh Phổ Biến Quang Minh Thanh Tĩnh Xí Thịnh Như Ý Bảo Ấn Tâm Vô Năng Thắng Đại Minh Vương Đại Tùy Cầu Đà-la-ni. Quyển Hạ.- Chân ngôn âm Phạn, y theo bản đời Minh (cf-P.618).- Tùy Cầu Đại Hộ Minh Vương Đại Tâm Đà-la-ni, bản đời nhà Minh (cf.P.626).- Phật thuyết Kinh Thần Chú Tùy Cầu Tức Đắc Đại Tự Tại Đà la-ni.- Nghi quỹ Kim Cương Đảnh Du già Tối Thắng Bí Mật Thành Phật Tùy Cầu Tức Đắc Thần Biến Gia Trì Thành Tựu Đà-la- ni.- Pháp Minh Vương Sám Hối- Đà-la-ni Đại Tùy Cầu Tức Đắc.- Tông Quyến Tăng Chánh (Truyền khẩu của Đường Quốc Sư.
* Mật Tạng Việt Nam số 27:- Nghi quỹ Niệm tụng Kinh Dược Sư Lưu Ly Quang Thất Phật Bổn nguyện Công đức. Quyển Thượng, trang 195. - Nghi quỹ Niệm tụng Kinh Dược Sư Lưu Ly Quang Thất Phật Bổn nguyện Công đức. Quyển Hạ.- Kinh Dược Sư Lưu Ly Quang Thất Phật Bổn Nguyện Công Đức. Pháp Nghi quỹ niệm tụng cúng dường.- Kinh Dược Sư Thất Phật Nghi quỹ cúng dường Như ý Vương.- Kinh Dược Sư Thất Phật Nghi quỹ Cúng dường. Bản tựa khắc lại.- Nghi quỹ lập Đàn tu Pháp Dược Sư.
* Mật Tạng Việt Nam số 28:- Pháp Công Đức Thiên.
* Mật Tạng Việt Nam số 29: - Pháp môn Niệm tụng Quán Tự Tại Thành tựu Du già Liên Hoa Bộ.
* Mật Tạng Việt Nam số 30: - Cực Lạc Nguyện Văn.
* Mật Tạng Việt Nam số 31:- Kinh chú Mẫu Lê Đà la ni.
* Mật Tạng Việt Nam số 32:- Kinh Tăng Huệ Đà la ni.
* Mật Tạng Việt Nam số 33:- Phật thuyết Kinh Túc Mạng Trí Đà la ni.- Phật thuyết Kinh Túc Mạng Trí Đà la ni.
* Mật Tạng Việt Nam số 34: - Kiết Tường Thiên Nữ.- Phật thuyết Kinh Đại Kiết Tường Thiên Nữ Thập nhị Danh hiệu.- Phật thuyết Kinh Đại Kiết Tường Thiên Nữ Thập nhị Danh hiệu.
* Mật Tạng Việt Nam số 35: - Kinh Đại thừa Đại Kiết Tường Thiên Nữ 12 Khế 108 Danh Vô Cấu.- Chân ngôn theo bản đời Minh,. Cf.P. 254 C.
* Mật Tạng Việt Nam số 36: - Lược pháp Niệm tụng Bồ tát Ma-lợi-chi.- Pháp Nhất Ấn Ma-lợi-chi Thiên.
* Mật Tạng Việt Nam số 37:
- Kinh Pháp Sử Chú.* Mật Tạng Việt Nam số 38:
- Pháp yếu Ma-hê-Thủ-La Thiên.* Mật Tạng Việt Nam số 39:
- Phật thuyết Kinh Thánh Diệu Mẫu Đà-la-ni.* Mật Tạng Việt Nam số 40:
- Phật thuyết Kinh Chú trị bệnh thời khí.* Mật Tạng Việt Nam số 41:
- Phật thuyết Kinh Nhất thiết Như Lai Danh hiệu Đà-la-ni.* Mật Tạng Việt Nam số 42:
- Phật thuyết Kinh Bảo Sanh Đà-la-ni.* Mật Tạng Việt Nam số 43:
- Phật thuyết Kinh Đại Cát Tường Đà-la-ni.* Mật Tạng Việt Nam số 44:
- Phật thuyết Kinh Chiên Đàn Hương Thân Đà-la-ni.* Mật Tạng Việt Nam số 45:
- Nghi quỹ Kim Cang Hàng phục Tập hội Phương quảng. Kinh Bồ tát Quán Tự Tại Tam thế Tối thắng Tâm minh Vương. - Phẩm thứ hai: Việc thành tựu. - Phẩm thứ ba: Thành tựu báu Như ý. - Phẩm thứ tư: Trị liệu tất cả bệnh. - Phẩm thứ năm: Tất cả hữu tình kính niệm. - Phẩm thứ sáu: Thành tựu nghĩa lợi. - Phẩm thứ bảy: Thành tựu nghi quỹ. - Phẩm thứ tám: Thành tựu phổ thông . - Phẩm thứ chín: Thành tưu tâm chân ngôn.
* Mật Tạng Việt Nam số 46:- Thiên chuyển Đà la ni Bồ tát Quán Thế Âm chú.- Kinh Thiên chuyển Đà-la-ni.
* Mật Tạng Việt Nam số 47: - Kinh Thanh Tịnh Quán Thế Âm Phổ Hiền Đà-la-ni.
* Mật Tạng Việt Nam số 48: - Kim Cang Đảnh Giáng Tam thế Đại Nghi quỹ Pháp vương Giáo trung Quán Tự Tại Bồ tát Tâm Chân ngôn Nhất thiết Như Lai Liên Hoa Đại Mạn Noa La Phẩm.- Phẩm Tâm Chân ngôn Liên Hoa man.- Phẩm Tâm Chân ngôn Tam muội gia Man Noa La.- Phẩm Yết Ma Man Noa La.- Phẩm Ấn.
* Mật Tạng Việt Nam số 49: - Bồ Tát Quán Tự Tại Pháp Niệm Tụng Tâm Chân ngôn Nhất Ấn.
* Mật Tạng Việt Nam số 50:- Kinh Bồ Tát Thánh Quán Tự Tại 108 Danh Hiệu,.
* Mật Tạng Việt Nam số 51:- Phật thuyết Kinh Liên Hoa Nhãn Đà la ni.
* Mật Tạng Việt Nam số 52:
- Phật thuyết Kinh Bí Mật Bát Danh Đà-la-ni.* Mật Tạng Việt Nam số 53:
- Phật thuyết Kinh Đại Thất Bảo Đà=la-ni.* Mật Tạng Việt Nam số 54:
- Bảo Tạng Thiên.- Pháp Thiên nữ Bảo Tạng Đà-la-ni.
LỜI NÓI ĐẦU
Nam mô Thập phương Thường Trụ Tam Bảo.
Nam mô Ma ha Tỳ-lô-giá-na Phật.
Nam mô Nhất thiết Tôn Pháp Bí mật Đà-la-ni tác đại chứng minh.
Hơn hai ngàn năm trăm trước, Đức Bổn sư Thích Ca Mâu Ni ra đời chỉ với mục đích " Khai thị chúng sanh, ngộ nhập Phật tri kiến ".
Trải qua 49 năm thuyết pháp, Đức Phật nói ra nhiều Pháp môn tùy theo căn cơ, trình độ của mỗi chúng sanh, trong đó Mật giáo là một. Vẫn biết các Pháp môn vốn không có cao thấp, như Phật đã nói: "Nước trong bốn biển có cùng vị mặn, giáo pháp của ta cũng có cùng một vị- đó là vị Giải thoát ".
Tuy nhiên, Mật giáo theo như chư Tổ đã nói: "Muốn tìm hiểu và tu tập, cần phải trải qua phần Hiển giáo". Vì thế, từ lâu nay trong giới tu hành - đời lẫn đạo- không theo con đường chư Tổ đã dạy, nên gây ra nhiều hiểu lầm về Pháp môn nầy.
Để cho chư vị có nhân duyên với Pháp môn nầy, cũng như để làm sáng tỏ một ít vấn đề, giải đáp một ít sai lạc của người tu hành, người tìm hiểu, nghiên cứu. Tôi xin thay mặt cho hết thảy quí vị dịch giả, cố gắng dịch ra những kinh điển của Pháp môn nầy, truyền bá rộng rãi cho kẻ hữu duyên.
Được gia đình Cư sĩ Liên Hoa ( Thanh Minh ) phát nguyện đem hằng tâm, hằng sản ấn tống toàn Bộ Mật tạng, lần lượt theo phương tiện gia đình Phật tử có được.
Năm 2000 đã in ấn được quyển Mật tạng Phật giáo Việt Nam tập một. Lần nầy, Mật tạng Phật giáo Việt Nam tập hai ra đời và lần lượt các tập khác v.v... Mong rằng chư vị hữu duyên với Pháp môn nầy có tài liệu nghiên cứu và tu học, còn các vị khác có Kinh sách để tìm hiểu đường lối và mục đích của Mật giáo.
Như trong Kinh có nói: "Như có một người vào rừng chiên đàn, đập phá cây cối. Tuy vậy, họ vẫn được mùi thơm của cây thấm vào". Mong rằng hết thẩy chư vị khi có duyên cầm đến quyển Kinh nầy, dầu tùy thuận hay dầu phỉ báng, vẫn được lợi lạc.
Cầu xin mười phương chư Phật gia hộ cho gia đình Cư sĩ Liên Hoa ( Thanh Minh ) được trọn phần công đức trong việc in ấn, phát tâm nầy.
Trong sự phiên dịch cũng như in ấn, không làm sao tránh khỏi lỗi lầm. Một phần vì chúng tôi tài hèn, một phần Cư sĩ Liên Hoa ( Thanh Minh ) gia duyên ràng buộc, không làm trọn vẹn được. Ngưỡng mong chư vị xem xong, hoan hỷ bỏ qua và xin quí vị thấy có chỗ nào không hợp, mong nhờ chỉ dẫn cho. Chúng tôi rất mong sự đóng góp của quí vị.
Chúng con cúi đầu đảnh lễ Tam Bảo, cầu xin từ bi gia hộ cho chúng con được sám hối.
Và trong công việc dịch thuật và ấn tống nầy, có được một chút công đức nào. Chúng con đồng xin hồi hướng đến chúng sanh trong ba cõi đều được thấm nhuần Pháp nhủ, phát tâm Bồ đề, tinh tấn tu hành đạt đến Giải thoát.
Nam mô Chứng Minh Sư Bồ Tát.
Nam mô Cầu Sám Hối Bồ Tát.
Thay mặt cho hết thảy quí vị Dịch giả. Tỳ kheo Thích Quảng Trí
THAY LỜI TỰA
Kính lễ chư Phật ba đời khắp cả mười phương
Kính lễ chư Tôn Pháp Tu-đa-la tạng đà-la-ni môn ba đời khắp cả mười phương
Kính lễ chư Hiền Thánh Tăng ba đời khắp cả mười phương.
Sau nhiều tháng chậm trễ vì gia duyên ràng buộc và vì biết bao nhiêu sự xáo trộn trong cuộc sống của người cư sĩ tại gia, cho đến hôm nay, một lần nữa, gia đình chúng con kính dâng tâm hương lên Tam Bảo ở khắp mười phương cùng Bổn Tôn Bồ Tát Đại Bi Quán Thế Âm và chư vị Thiên Long Bát bộ tác đại chứng minh cho việc hoàn thành sự ấn tống Tập II của Bộ Mật Tạng bằng chữ Việt, dâng cúng cho Phật giáo Việt Nam.
Dù gặp rất nhiều sự khó khăn, cùng sức người có hạn, nhưng hoài bão đóng góp vào việc lưu truyền những giáo pháp cao siêu của Đức Từ Phụ – nhất là về Mật thừa- Tông phái mà con đang tu tập, hành trì và muốn chia sẻ cùng tất cả mọi người hữu duyên để cùng lợi lạc.
Tập I của Bộ Mật Tạng đã được ấn tống vào năm 2000, gia đình chúng con đã dâng cúng các chùa, các Tự viện ở tại nước ngoài cũng như đã được chuyển về Việt Nam, như một đóng góp nhỏ nhoi trong việc bảo tồn và lưu truyền giáo pháp của Đức Từ Phụ.
Nhớ lại năm 1981, sau khi Thầy Thích Viên Đức viên tịch, ngọn đuốc Mật thừa đang bừng bừng ngời sáng và làm nhiêu ích cho nhiều người đang khổ nạn, cần cứu, bỗng nhiên bị ngưng đoạn. Những lần qua Chùa Thiền Tịnh ở Thủ Thiêm, Thủ Đức để dự lễ "Thất thất lai tuần" của Thầy, lòng vợ chồng con thật bùi ngùi xúc động. Thầy ra đi, nhưng ước muốn hoằng truyền Mật giáo như vẫn còn ẩn hiện trên di ảnh của Thầy. Công việc phiên dịch, truyền bá và phát triển Mật thừa v.v.. trong giai đoạn nầy thật là một việc vô cùng khó khăn, phức tạp vì đây là Tông phái Bí Mật đặt nặng trên sự hành trì và tu chứng, nhưng vì đại nguyện độ sanh, vì muốn làm ích lợi cho nhiều người có duyên với Tông Mật, Thầy đã dõng mãnh, miên mật, thể nhập vào Tâm của Như Lai Đại Nhật và từ đó, đã công khai truyền bá Mật giáo vào hậu bán thế kỷ thứ 20, mặc dầu còn dang dở, nhưng Thầy đã hoàn tất trong giai đoạn đầu với biết bao nhiêu ngộ nhận, vinh nhục, thăng trầm, dù vẫn biết bát phong chỉ là mây khói, ảo ảnh, vô thường.
Và, hình ảnh Thầy Thích Quảng Trí đã xuất hiện trong thời gian 1980 nầy. Là người từng phụ Thầy Thích Viên Đức dịch Kinh thuộc Mật tạng, Thầy đã đứng ra để tiếp nối ngọn đuốc Mật thừa, âm thầm, đơn giản, nhưng kiên quyết, và đã đem hết tất cả tâm lực cho sự phiên dịch Kinh Mật điển thuộc Bộ Kinh Đại Chánh Nguyên Bản Đại Tạng từ Hán ra Việt văn. Kính phục và cảm kích tấm lòng vị Đạo, vì sự xiển dương Mật giáo và hạnh nguyện lợi tha của Thầy, gia đình con đã hỗ trợ và gắn liền với Thầy kể từ thời gian đó và Thầy trò đã vượt qua được đoạn đường dài, đầy khó khăn. Từng dòng Mật nhủ,
từng trang Kinh, rồi từng bộ Kinh điển thuộc Mật tạng đã được phiên dịch, cho đến nay, hầu như gần hết trọn Bộ Mật tạng từ Hán văn đã được dịch ra tiếng Việt ( Bộ Đại Chánh Nguyên Bản Đại Tạng Kinh gồm có 3 quyển Thượng, Trung và Hạ ). Đó thật là kỳ diệu, thật cao cả, một công trình quá đồ sộ lại là công phu của một ít người, thay vì ngày xưa, đó là công trình của một Ban Phiên Dịch gồm có nhiều vị Cao Tăng Thạc Đức v.v..với sự hộ pháp của các vị Vua và Triều đình.
Trong một ngôi Chùa nhỏ nằm ở Gò vấp, ẩn khuất sau những dãy nhà cư dân chung quanh; mái lợp tôn nóng bức, nền Chùa bằng đất, thiếu tất cả tiện nghi, một vị tu sĩ khiêm cung, một vị Du già Mật giáo, đã ẩn dật nơi đó và dành trọn suốt bao nhiêu năm dài qua để tu, để thể nghiệm Tất-địa, và âm thầm phiên dịch những Kinh điển thuộc Mật giáo. Kỳ công của Người chỉ vì mục đích duy nhất là Duy trì và Truyền bá Mật giáo và góp phương tiện cho tất cả mọi người hữu duyên với Giáo pháp nầy, làm thuyền vượt qua biển khổ đau của cuộc lữ hành.
Ngưỡng bạch Tăng bảo ở khắp mười phương cùng chư Tôn Đức hiện tiền Tăng .
Gia đình cư sĩ con phước mỏng, nghiệp dày, sanh ra đời không gặp được Phật, nhưng may mắn còn gặp được các bậc Tôn Đức, còn có duyên lớn gặp được Giáo pháp của Đức Từ Phụ Thích Ca Mâu Ni- do các Ngài gìn giữ và truyền bá làm ân ích cho chúng sanh. Nay, vì học hỏi theo Hạnh của Bồ Tát Phổ Hiền, để báo ân Phật, ân Thầy Tổ cùng Tứ ân, nên chúng con xin phát tâm ấn tống Tập II của Bộ Mật tạng để dâng cúng cho Phật Giáo Việt Nam.
Để trợ duyên cho hạnh nguyện của Thầy Dịch giả Thích Quảng Trí, từng Bộ Kinh thuộc Mật tạng đã được gia đình chúng con trân trọng phát tâm in ấn. Tuy nhiên, lại có nhiều ý kiến cho rằng: “Ấn tống những bộ Kinh thuộc Hiển giáo, vừa dễ đọc tụng, vừa dễ thâm nhập và thực hành v.v...Còn về phần Mật giáo thì không thích hợp với thời hiện đại, vì chỉ dành riêng cho những người có căn cơ đặïc biệt, cho nên nếu không có sự hướng dẫn của những vị Đạo sư chân truyền, dễ đưa đến những sự sai lạc".
Trong vườn hoa văn hóa của nhân loại, đã có biết nhiêu là tôn giáo nẩy sanh, trưởng thành và đem hết tinh túy tư tưởng, giáo lý của mình để xây dựng nền tư tưởng Chân-Thiện-Mỹ đóng góp cho sự lợi lạc và thăng hoa tâm linh của con người. Đức Phật Thích Ca Mâu Ni- một bậc Đại Giác Ngộ và Giáo pháp của Ngài đem lại cho nhân loại biết bao nhiêu là sự Tươi mát, Hạnh phúc, An lạc. Giáo pháp của Ngài chỉ cho con người thấy Phật tánh nơi chính mình và sự liên hệ của con người với vạn hữu theo tư tưởng "tương duyên tương sanh", do đó, đưa con người đạt đến bình diện nhân bản đích thực, tự tại. Mười Tông phái đã khai triển và nở rộ trên đường truyền bá để "khế cơ khế lý" với từng loại chúng sanh và Mật giáo là một.
Trước sự sụp đổ của bao giá trị tinh thần hiện hữu, với bao thảm cảnh xẩy ra trên toàn thế giới do vô minh, do tâm tham sân si tạo ra, Đạo Phật phải lên tiếng và có nghĩa là tất cả mọi giáo lý của đức Phật phải lên tiếng, có mặt để đáp lại lời cầu cứu nầy hầu giúp cho con người vượt qua những khổ đau để được tự tại, an lạc. Đạo Phật xuất hiện vì con người, vì muốn chỉ rõ Thực tướng của vạn pháp, giúp con người đạt được Hạnh phúc
Chân thật, và Mật giáo đã thành hình trên căn bản nầy. Đó là một tông phái mà trên bình diện Đạo đế, giúp cho con người đạt được giải thoát, an lạc và về mặt Tục đế, làm cho con người ý thức được giá trị đích thực của mình với người và vạn hữu trong giáo lý Duyên khởi và Tánh không. Do đó, nếu vì cổ xúy hoặc phát triển chỉ cho một Tông phái hoặc một phương tiện nào đó hoặc chỉ chọn một bông hoa trong vườn hoa Giải thoát, cao siêu của Đạo Phật, thực sự có đúng và thích ứng với tất cả mọi sự cầu cứu đau khổ của các chúng sanh không?
Vì thiển nghỉ như thế, nên gia đình con nguyện nhờ công đức của chư Ngài và nhờ phước báu ấn tống Kinh, xin hồi hướng cho tất cả mọi Giáo pháp làm lợi lạc, an vui cho chúng sanh của Đức Từ Phụ được trường tồn và phổ biến.
Kính thưa quý học giả, các nhà nghiên cứu, các hành giả đang tu học Mật giáo.
Như quý vị từng biết, trong Kinh Pháp Hoa có nói: "Đức Phật ra đời là vì một nhân duyên lớn, đó là chỉ cho chúng sanh đạt được Tri kiến của Phật". Vì thế, tất cả giáo pháp của Ngài đều như chiếc bè để đưa chúng sanh đạt đến sự Giác ngộ và Giải thoát. Là một tông phái của Đạo Phật, Mật giáo tuy bề ngoài mang lấy nhiều sắc thái huyền bí, nhưng đi sâu vào nội dung, Mật giáo đặt nặng trên sự giải thoát khỏi khổ đau và luân hồi làm cứu cánh. Vì Mật giáo là pháp môn nghiên cứu về tâm và tâm thì muôn sai vạn biệt, phức tạp ... cho nên, chúng ta thấy Đàn pháp của tông phái nầy có nhiều sự sai biệt. Có nhiều người đặt câu hỏi: "Cần gì phải có nhiều Đàn pháp, Thần chú v.v.., chỉ cần quán chiếu nội tâm, nhìn thấy dòng tư tưởng trôi nỗi, sanh diệt, để từ đó nhận ra Chủ và Khách, và tâm giải thoát ra khỏi mọi ràng buộc, cố chấp, đạt được Chân tánh". Hỏi như vậy thì cũng đúng, nhưng đó chỉ là biên kiến, nhìn thấy một mặt chứ không phải tổng thể. Như đã thưa, tất cả mọi Tông phái của Đạo Phật chỉ là phương tiện thiện xảo để đưa con người đến điểm duy nhất là An lạc, Tự tại và Giải thoát, thì phương tiện của Mật giáo cũng chỉ là một. Chúng ta không thể lấy một phương thuốc duy nhất để dùng chung cho tất cả mọi tâm bệnh.
Mặc dù Mật giáo có nhiều Đàn pháp và Bổn tôn khác nhau, nhưng tựu trung gồm có Ngũ Bộ như: Phật bộ, Kim cang bộ, Liên hoa bộ, Bảo bộ, Yết ma bộ và cách thành lập Đàn cũng khác nhau như Đàn tròn, Đàn vuông, Đàn tam giác, Đàn bán nguyệt v.v.. tương ưng với Ngũ Bộ, nhưng đó chỉ là những biểu tượng cho vũ trụ hay nhân cách đích thực của một con người. Điều nầy không có gì kỳ lạ hay huyền hoặc đối với những hành giả đã từng nghiên cứu về Mật giáo hay đang hành trì miên mật Chân ngôn, nhưng dĩ nhiên, rất xa lạ và huyền bí với những người chưa bước qua Hiển giáo. Một ví dụ đơn giản của đời sống thường nhật như đang chạy xe, khi nhìn thấy bảng " Stop " và chúng ta ngừng xe lại. Biểu tượng nầy có cần phải được đắn đo, suy nghĩ là tại sao lại ngưng khi có bảng Stop và nghĩa là gì, do đâu có, tại sao như có ma lực làm xe phải ngưng lại ??? v.v.. Thật rất đơn giản là vì biểu tượng nầy đã có nội dung và giá trị phổ quát với mọi người.
Theo Kinh Viên Giác, trong biển Pháp thân Tỳ-lô-giá-na vẫn hằng vắng lăïng, thanh tịnh nhưng tâm vì vô minh vọng động nên biến thành sơn hà đại địa, nhưng vẫn chưa bao giờ uế nhiễm như vàng dù vẫn còn nhiều tạp chất hay thay hình đổi dạng v.v... nhưng tinh chất vàng vẫn không bao giờ thay đỗi. Và đây là điểm chánh hay cứu cánh mà Mật giáo
nghiên cứu dựa theo nhiều biểu tượng khác nhau bị biến dạng theo vô minh hay trần cấu của vọng tâm, để từ đó, tìm và đạt đến Tất địa hay Tánh giác. Cho nên, có thể nói Đàn là vũ trụ, là tâm của con người và qua đó, qua những vọng động, lăn tăn, tham sân si v.v..người hành giả nhìn thấy rõ Bản lai diện mục hay Bổn tôn của chính mình. Chúng tôi ước mong rằng tất cả những ai khi nghiên cứu hay hành trì về Mật giáo, cũng cần phải chuẩn bị kỷ lưỡng và đầy đủ hành trang hay tư lương về những giáo lý khác của Đạo Phật, để khi đi vào thế giới tâm của Mật giáo, chúng ta không bị hoang mang hay có ý nghĩ sai lạc về Tông phái nầy như đã từng xảy ra, để khỏi bị mang tội vì khinh chê Bảo pháp của Đức Từ phụ mà các vị Bồ tát, cùng chư Tổ và biết nhiêu vị Du già sư hay các Hành giả, đã gìn giữ và lưu truyền đến ngày nay.
Như Bộ Mật Tạng Tập I, Bộ Mật Tạng Phật Giáo Việt Nam Tập II bằng chữ Việt nầy được dịch từ chữ Hán của Bộ Đại Chánh Nguyên Bản Đại Tạng Kinh. Chúng tôi vẫn chia Mục lục ra làm 2 phần để tiện nghiên cứu và làm tài liệu tu học, như:
1- Của Bộ Đại Chánh Nguyên Bản Đại Tạng Kinh.
2- Của Mật Tạng PGViệt Nam, số thứ tự tiếp theo Bộ trước.
Như thường được cẩn trọng khi ấn tống Kinh thuộc Mật giáo, nếu có người nào hữu duyên và khi nghiên cứu những Bộ Kinh trong Tập II của Bộ Mật Tạng PGViệt Nam này, muốn bước theo chân những vị Du già cầu giải thoát ra khỏi biển sanh tử luân hồi qua phương tiện siêu thoát của Mật giáo, người hành giả cần phải được truyền trao Ấn Pháp bởi một vị A-xa-lê thâm hiểu với đầy đủ hai nghĩa: Hành thâm và chứng đắc, và quan trọng hơn hết, là hành giả phải có sự nghiên cứu và học đầy đủ những giáo lý căn bản khác của Hiển giáo.
Trong sự in ấn nầy, nếu có sự sai sót hoặc lỗi lầm nào, chúng con xin sám hối. Còn như được chút công đức nào, nguyện xin cho Phật Giáo Việt Nam được trường tồn, và Giáo pháp Từ Bi Hỷ Xã, khai phóng, siêu thoát của Đức Phật được truyền đến mọi nơi chốn, và chất đề hồ nầy sẽ nuôi dưỡng tâm thức của mọi người, làm nẩy nở những bông hoa Giác ngộ, Giải thoát. Nguyện hồi hướng phước báu nầy đến mọi loài chúng sanh, tình hoặc vô tình, noãn thai thấp hóa, được nhờ ánh sáng vô lượng quang minh của chư Phật chiếu soi, đều thành Phật đạo
Nam mô Bổn tôn Đại Bi Quán Thế Âm Bồ tát tác đại chứng minh.
Mùa Thu năm Nhâm Ngọ 2002Thành phố Monroe, Louisiana, Hoa kỳ. Phật lịch 2546
Gia đình Cư sĩ Liên Hoa ( Thanh Minh )
---o0o---Chân thành cảm ơn Gia đình Cư Sĩ Liên Hoa đã gởi tặng phiên bản
điện tử bộ sách này. (T. Nguyên Tạng, 4/2005) ---o0o---
Mục Lục Mật Tạng Tập II 19 | 20 | 21 | 22 | 23 | 24 | 25 | 26 | 27 | 28 | 29 | 30
31 | 32 | 33 | 34 | 35 | 36 | 37 | 38 | 39 | 40 41| 42 | 43 | 44 | 45 | 46 | 47 | 48 | 49 | 50
51| 52 | 53 | 54---o0o---
MẬT TẠNG PHẬT GIÁO VIỆT NAM
TẬP II
Ban phiên dịch:Thích Viên Đức, Thích Thiền Tâm
Thích Quảng Trí, Thích Thông ĐứcCư sĩ Huỳnh Thanh, Như Pháp Quân
---o0o---
MẬT TẠNG VIỆT NAM SỐ 19
PHẬT TÂM KINH PHẨM
( Cũng thông với Đà La Ni Đại Tùy Cầu )
Mật Tạng Bộ 2 . No- 920 ( Tr.02 - Tr.08 )
Quyển Thượng
Tam Tạng Bồ Đề Lưu Chi phụng chiếu dịch Phạn ra Hán
Sa môn Thích Quảng Trí dịch từ Hán ra Việt văn.
Ta nghe như thế này: Một thời Phật trú tại đỉnh núi Kim Cang nước Cu Diễm Di, xem khắp mười phương thấy toàn là màu sắc như lửa cháy. Thấy thế, Đức Phật khẽ thở
dài nghĩ thương chúng sanh sai đường lạc lối, lấy gì cứu thoát; đang suy nghĩ như thế, thời thế giới của Chư Phật, cảnh giới của Bồ Tát, trên đến Ba mươi ba cõi Trời, dưới đến tận cùng Kim Cang Tế, cung điện của các Ma thảy đều rung rinh. Đồng thời, ba đời Chư Phật thảy đều suy nghĩ như vậy, lại các Bồ Tát nơi tự tâm bất động, các hàng Kim Cang khiến các quyến thuộc làm các Kim Cang sự nghiệp không thể ngồi yên nơi tòa, bay đi khắp mười phương. Các hàng Chư Thiên, Tiên, Ma đều sợ sệt không biết chạy nơi nào. Bấy giờ có mười Bồ Tát Kim Cang Tạng sửa sang y phục, bạch Phật rằng:“Bạch Thế Tôn! Đây là điềm gì? Là Thiện hay là Ác?”
Lúc bấy giờ Đức Thế Tôn lo suy nghĩ nên không trả lời. Khi đó, ở trong Hội có một vị Bồ Tát tên là Kim Cang Mẫn bảo Bồ tát Kim Cang Tạng rằng:“ Đây là tướng không tốt. Nay Phật đang nhập Từ bi Tam muội, nên cần tịnh tâm chờ Phật giải thích"
Bấy giờ, lại có một vị Bồ Tát gọi là Đức Tạng hỏi Bồ tát Kim Cang Mẫn rằng: “Vì sao gọi là Từ bi Tam muội? ” .
Bồ Tát Kim Cang Mẫn đáp rằng:“ Lành thay! Lành thay! Các ông có biết chúng sanh đang bị đắm chìm trong vô minh hay không? Ta vì tất cả chúng sanh không biết được Pháp, không biết được tâm, không tự điều phục, bị các Ma sai sử, lấy gì để cứu hộ, lấy gì để nhiếp phục các độc” .
Liền đó, tức có ba chục ngàn vạn ức Bồ Tát đều là các Bậc Quán Đảnh Đại Pháp Vương Tử, đầy đủ đại oai đức tự tại, lại bạch Phật rằng:“ Bạch Thế Tôn! Bọn chúng con có thể làm được gì không?”.
Phật trả lời: “ Không được” .
Lại có trăm ngàn hằng hà sa số thế giới Kim Cang Mật Tích, mỗi vị Mật Tích có bốn Thiên hạ Lực sĩ cũng bạch Phật rằng:“ Bạch Thế Tôn! Còn chúng con có thể làm được chăng?”.
Phật bảo:“Không được?” .
Lại các vị Đại Tự Tại Thiên trong tất cả Thế giới hay biến thân làm Phật, lại bạch Phật rằng:“ Bạch Thế Tôn! Sức biến hóa của chúng con có thể nhiếp được chăng?”.
Phật bảo:“ Sức huyễn hoặc của các ông cũng không thể được”.
Lúc ấy, trong Hội có một vị Bồ Tát tên là Bảo Đức bạch Phật rằng: “Bạch Thế Tôn! Tất cả chư Bồ Tát, Kim Cang, Thiên Tiên, cũng không ai nhiếp phục. Nay Thế Tôn lấy gì để cứu chúng sanh ra khỏi các nạn? ”.
Thời Đức Thế Tôn bảo Bồ Tát Bảo Đức rằng: “Chỉ có thần lực của Như Lai Tâm Trung Tâm là không thể sánh kịp.Vì sao vậy? Vì hay khiến các Ma sanh lòng từ mẫn, hay khiến các Pháp hiện tiền, Chư Phật thường không xa lìa, hay khiến Chư Bồ Tát làm quyến thuộc, các Kim Cang ban cho oai lực, hay khiến Chư Thiên thường luôn ủng hộ,
các Đại Dạ Xoa, La Sát làm người trị Pháp, lại hay khiến tất cả các Đại Ma Thần sanh lòng hoan hỷ, hay khiến hành giả sức như Phật, tâm như Phật, trí như Phật, oai như Phật, hay khiến hành giả ra làm việc gì đều được tùy tâm, hay chặt đứt tất cả chướng nạn. Đế Thích, Phạm Vương đều theo phò trì, khiến cho đến Bồ Tát trọn không thối chuyển, tất cả sự nghiệp thế gian đều tự hiểu biết, cho đến tất cả quá khứ, hiện tại, vị lai, tất cả thế giới có thông không thông, có trí không trí, hiền hay không hiền thảy đều quy phục".
Bấy giờ, Đại chúng nghe xong thảy đều muốn dược nghe. Bỗng nhiên, ở nơi đại chúng phát ánh sáng rực rỡ hơn trăm ngàn mặt trời .
Bồ Tát Bảo Đức lại bạch Phật rằng:“ Bạch Thế Tôn! Vì nhân duyên gì mà có ánh sáng này?”.
Phật bảo: “ Đây là ánh sáng hoan hỷ từ Tâm Trung Tâm sanh ra, ánh sáng này không có hạn lượng, không thể xưng tán, ca vịnh, cũng không ấn khả được. Vì sao vậy? Vì đồng với Chư Phật vô ấn khả, đồng với Như Lai vô sở đắc, và tất cả các tướng cũng đều vô kiến vậy! Hay gìn giữ các căn không xả ly, khiến các Ma không sai sử và thường ngăn các đạo Ma chướng ngại vậy! Do các nhân duyên trên, nên gọi là Tâm Trung Tâm” .
Bấy giờ tất cả Đại chúng đều bạch Phật rằng:“ Chúng con đã từng theo Phật tu hành, chưa từng được nghe ca tụng công đức đại oai thần lực như vậy. Cúi xin Thế Tôn vì chúng con mà nói Chương cú tu chứng Giác địa, giúp chúng con được thọ trì Pháp này” .
Khi đó, Đức Như Lai bảo rằng: “ Này các Thiện Nam Tử! Nay Ta sẽ nói, muốn tu thành Phật thì có mười cách nhất định sau đây sẽ thành tựu. Thế nào là mười?
- Thứ nhất: Trì tâm bình đẳng, nơi Pháp không nghi, nơi Phật sanh tín, sanh lòng thương xót chúng sanh, không đắm sắc dục.
- Thứ hai: Trì giới không phạm, thường nhiếp tâm không nói láo, hay giúp cho chúng sanh đoạn trừ ngã mạn.
- Thứ ba: Không làm ác, không được sát hại, không ăn ác thực (thịt, cá v.v...), thường xét kỹ mình không thấy lỗi của người.
- Thứ tư: Ở nơi các Pháp không sanh phỉ báng, dùng Phật Pháp ngăn ngừa tội lỗi, ở nơi Chư Tăng xem như cha mẹ.
- Thứ năm: Không quên lời nguyện, đối với giàu nghèo có tâm bình đẳng, hay tùy thuận người.
- Thứ sáu: Lời Phật nhớ kỹ, tu các Pháp cần cố giữ gìn, có người cầu xin thì phải dạy bảo, không cần xem xét căn Thượng, Trung, Hạ.
- Thứ bảy: Trì các ấn khế, không được dơ uế, không kết trái thời, không vì khen hay lợi lộc mà kết ấn, không lìa bỏ chúng sanh.
- Thứ tám: Nơi tất cả không tham lam, không đoạt lý làm ác, không dua nịnh , giữ gìn Phật Pháp như giữ thân mạng, cho đến dẫu đói nghèo cũng không sanh hai lòng.
- Thứ chín: Thường cứu các nạn không được thối tâm, trừ kẻ không chí thành, không được khinh hay phỉ báng Pháp hoặc khiến kẻ khác cũng làm như vậy, thường phải chân thật nói lời mềm mỏng, hay thích việc lành, lòng đầy Từ bi.
- Thứ mười: Diệt trừ các tà hạnh, lòng tin bền chắc không từ lao nhọc, trong đại chúng có Thiện trí thức cần nên lễ bái và thường gần gũi. Nếu nơi suối rừng thanh tịnh, tự có phát nguyện rộng cũng không được quên lãng, luôn luôn nhớ niệm, không khởi các tà kiến,.
Như vậy, mười điều khiến người tu trì quyết định được bất thối chuyển, mau đến Bồ đề, thành Bồ Tát, chứng thân Kim Cang không khó”.
Khi ấy, các vị Bồ Tát nghe Phật dạy xong, đồng bạch Phật rằng:“Bạch Thế Tôn! Chúng con xin nguyện tu học, cúi mong Thế Tôn lấy tâm Đại bi nói Thần chú này, đệ tử chúng con muốn được thọ trì” .
Phật bảo:“ Các Thiện nam tử! Lắng nghe! Lắng nghe! Ta sẽ vì các ông mà nói” .
Thời Đức Như Lai dùng Bồ Đề Tâm khế, khiến cả đại chúng tâm không vọng động, mà nói chú rằng :
- Úm- bạt ra bạt ra sam bạt ra sam bạt ra ấn địa lặc da vi du đạt nễ hàm hàm rô rô giá lệ ca rô giá lệ ta phạ ha .
(OM- BHARA BHARA SAMBHARA SAMBHARA INDRIYA VI’SODHANE HÙM HÙM RURU CALE KURU CALE SVÀHA).Ø
Thứ nhất, kết Ấn Bồ Đề Tâm Khế :
Trước hết, hai tay hai ngón vô danh co lại để nơi lưng hai ngón giữa, hai ngón cái vịn đầu móng hai ngón út, hai ngón trỏ co lại móc đầu hai ngón vô danh, chắp tay lại để nơi tim tức thành .
Nếu có người kết Ấn khế này, tức được tâm Bồ đề, đầy đủ trí của Bồ Tát, đầy đủ các môn Ba La Mật ở nơi tâm. Tất cả Pháp môn bí mật của Chư Phật và Bồ Tát đều do Ấn này mà thành. Ở nơi tịnh thất, thọ trì Ấn khế này trải qua bảy ngày, tất cả Pháp yếu đều hiện tiền, tất cả Ma đạo, chúng sanh, đạo quỷ thần, đạo ẩn hình dấu thân, trì Ấn khế này tức biết được chỗ ở của họ, khiến không thể biến hóa ẩn dấu được Các Thiện nam tử, nếu được Ấn khế này, vừa khởi niệm liền có mười phương Chư Phật vân tập trên đảnh, khởi niệm tức có mười phương Bồ Tát làm Thị giả, mười phương các Kim Cang theo sai khiến, mười phương Chư Thiên gần gũi cúng dường. Tất cả loài Ma và quyến thuộc bỏ
chỗ ở, lại giúp cho Pháp thành tựu, tất cả Tỳ Na Dạ Ca cũng đều lại cúng dường. Các Thiện nam tử! Nếu muốn hàng phục cácMa oán ngoại đạo, trước kết Ấn khế chú 21 biến để nơi tim, đứng thẳng xoay bên trái một vòng; đại địa tức thời rung rinh, tất cả loài Ma liền ẩn trốn xuống đất không dám xuất hiện, nếu có xuất hiện là do Phật thương xót cho phép, tâm không dám oán giận. Người trì chú không được giận dữ, vì như vậy Chư Phật không hoan hỷ, mười phương không yên. Ấn khế này là đầu Chư Phật, mẹ của các Pháp, vua của các ấn, mười phương Chư Phật do đây sanh ra, như Chư Phật Thế Tôn không ai dám vượt qua, cần phải xét kỹ không được lạm dụng, xem việc lớn nhỏ mà dùng. Nếu muốn trì các Pháp, trước lấyẤn khế này làm đầu. Không có Ấn khế này, các Pháp như không có chủ; dẫu có thành tựu, thân tâm cũng không quyết định, chư Thần không vừa ý, khiến làm các Pháp hay bị chướng nạn, nên thật cẩn thận, không được bất tịnh dùng Ấn.
¯ Thứ hai, Ấn Bồ Đề Tâm Thành Tựu:
Còn gọi là Mười Phương Như Lai Đồng Ấn Đảnh Khế. Trước, lấy hai tay hai ngón giữa xoa nhau phải đè trái, đầu ngón ló ra nơi hổ khẩu, hai ngón vô danh co lại đè lưng hai ngón giữa, hai ngón cái đầu dựa nhau dựa trên lưng hai ngón vô danh, hai ngón trỏ cũng dựa trên lưng hai ngón vô danh đầu dính nhau; hai ngón út dựa nhau đứng thẳng, đầu ngón dính nhau, tức thành.
Nếu các Thiện nam tử, Thiện nữ nhân được Ấn khế này chuyển nghiệp tiêu chướng, mau chứng Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề. Hay trì Ấn khế này, được “Văn trì bất vong” (nghe nhớ không quên), các Pháp yếu tự nhiên hiểu biết. Từ trước tới giờ dầu chưa tu trì, khởi tâm làm việc gì đều không sai. Khi trì tụng, có các ngoại đạo và Ma Ba Tuần lại làm não loạn, khởi tâm liền lui. Có cầu việc gì, lấy Ấn khế chỉ đó tức lại, dù cho các loại dùng các pháp biến hóa mê hoặc, kết khế khởi tâm liền hiện nguyên hình. Cần dùng phục tàng trong lòng đất, bảo châu nơi Long cung, kết khế khởi tâm tức thời đem lại. Các Pháp yếu trong mười phương thế giới, trong tâm mong muốn, trong niệm chỉ bảo rõ ràng. Cầu việc nhỏ không quá 3 ngày, việc lớn không quá 7 ngày. Trong mộng Phật tự ấn đảnh, tự hộ công lực. Nếu muốn thấy Chư Phật, Bồ Tát, Kim Cang, Quỷ thần, Tinh linh v.v… kết Ấn khế nơi mắt chú 108 biến tức thấy, cần phải an nhiên không được sợ sệt khiến thất tâm . Nếu nơi bổn thổ có các tai họa, kết khế chú 108 biến, lấy khế chỉ lên trời viết chữ Phật, tai họa tức tiêu trừ. Nếu trì Ấn khế bị các Ma làm não loạn, chỉ nói tiểu tặc không quá ba lần tức bỏ đi. Tất cả bệnh tật, tai nạn ở thế gian đều trừ không nghi, kết khế chú mãn một ngày, bệnh cùi hủi tiêu trừ, trừ không chí tâm. Nếu cần Pháp yếu nơi Long Tạng, kết khế kêu tên Long Vương, không quá một đêm các Pháp tự hiện. Khi thấy được rồi phải gắng thọ trì không được lãng quên. Nếu được, cần phải giữ bí mật không được truyền cho phi nhân. Cẩn thận! Cẩn thận! Phải biết việc lớn nhỏ mà dùng khế này, việc lớn nên dùng, việc nhỏ chớ dùng, dùng sẽ mất linh nghiệm. Nhớ kỹ, nhớ kỹ!
¯ Thứ ba, Ấn Khế Chánh Thọ Bồ Đề:
Còn gọi là Nhiếp Thọ Chư Mật Môn Khế, hay còn gọi là Đảnh Luân Khế.
Trước lấy hai ngón vô danh để ló đầu nơi giữa hai ngón trỏ và ngón giữa. Đầu hai ngón trỏ và hai ngón giữa dựa nhau, đầu bằng nhau, hai ngón cái vịn tiết trên hai ngón giữa, hai ngón út đứng thẳng, đầu dựa nhau, chắp tay lại tức thành .
Các Thiện nam tử, muốn trì tâm pháp của Chư Phật, Bồ Tát, Kim Cang, tùy theo Ấn này khởi niệm tức được Trí Bất Động biến khắp mười phương. Là Thánh không phải Thánh, là Ma không phải Ma, cho đến các Thiên Tiên, Tứ Thánh quả, Đại Quỷ Thần v.v... đồng thời ấn Bổn Tôn tức được khế hợp. Tất cả sự nghiệp nơi thế gian, phải hay không phải, do Ấn này đồng tâm Phật không khác.Vì sao vậy? Vì được Tam muội của Chư Phật, các Bí tạng của Chư Phật, đều do Ấn này nhiếp hết; các Phật Đảnh Luân cũng do đây mà thành; các Kim Cang cũng do đây mà an trụ; tất cả chúng Thánh đều lại quy y; tất cả các ác đều hướng thiện và đều tự nhiếp tâm vậy; tất cả các chướng tự nhiên tiêu trừ; Thiên Ma Ba Tuần tự nhiên hàng phục; Lõa hình ngoại đạo tự biết xấu hổ; tất cả Long Tạng tự nhiên khai mở; tất cả các Thần phục tàng tự đem ban cho; Long Vương bảo châu tự nhiên xuất hiện; Diêm La Thiên Tử, Ngũ đạo thần quan tự lại sám hối. Tất cả các Pháp không hiện tiền do Ấn này tự nhiên hiện tiền; tất cả các Pháp môn hoặc thuận hoặc nghịch của Phật, Bồ Tát tự nhiên hiểu biết; tất cả oai quang của Chư Bồ Tát không che được thân hành giả vậy; việc nhỏ hay lớn cầu nguyện đều được. Nếu có kẻ trai lành, người gái tín được Ấn khế này thọ trì, trước phải tịnh tâm không cho tán loạn, thường ở nơi Định, trước thọ Tam quy và các Tâm giới, sau kết ấn khế này. Ngay lúc đó, Địa thần ở mười phương bưng lư hương cúng dường hành giả. Đế Thích Phạm Vương hiện ra trước mặt, nói rõ các bổn nguyện giữ gìn. Các Đại Thần Vương ở hai bên làm chứng minh. Quán Đảnh Luân Vương và các Thần Chấp Kim Cang ở trước sau, tay cầm phất giữ gìn hành giả. Các Đức Như Lai ở mười phương phóng bạch hào quang chiếu thân hành giả. Các Kim Cang Tạng ở trên hư không mưa các hoa báu an ủy hành giả. Trong hào quang có Hóa Phật cầm ấn Đại Pháp Luân, hành giả được ấn đảnh rồi, các môn Phật Pháp đều tự hiểu biết. Nếu muốn kết Ấn khế này, thiêu ba thứ hương, một là Đàn hương, hai là Huân Lục hương, ba là Trầm hương, mỗi khi thiêu hương, ba đời Chư Phật đều hiện trước mắt. Muốn triệu Chư Phật, Bồ Tát, Kim Cang, Thiên Địa Thần kỳ, Nhật nguyệt Tinh tú, Ngũ đạo phù quan, Tư mạng Tư lục, kết Ấn khế này chú 21 biến, vận tâm khắp mười phương làm ba lần, tất cả đều đến. Nếu muốn triệu mười phương các Thần Bảo tàng, Long Tàng, Phục Tàng, kết Ấn chỉ lên trời, liền hiện trước mặt. Nếu muốn sai khiến Thần quỷ, Kim cang, Thiên Thần, Bồ Tát, cho đến tất cả các bậc có đạo lực, kết Khế để nơi miệng đọc thầm 7 lần hoặc 21 lần, tức thời hiện tiền tùy ý sai sử. Mỗi ngày không luận đêm ngày sáng chiều, kết Khế tụng 1000 lần, mười phương Như Lai tức hộ công lực. Các loại Nội đạo, Ngoại đạo, các loại có Pháp thuật làm huyễn hoặc, muốn phá khởi tâm tức phá.Tất cả các loại tật bệnh, dùng tâm Đại bi mà cứu hộ đều được trừ lành. Có các bệnh khổ lại cầu cứu, không cần đi, chỉ kết Ấn khế miệng bảo:“ Hãy đến bên bệnh nhân” tức có Thánh giả tự biến hóa thân lại mà trị. Muốn dùng Pháp này cần phải nén hơi thì thầm, không được bất tịnh dùng Pháp, nếu có bất tịnh các Pháp không thành. Nếu các ấn Pháp trì lâu không thành, kết Ấn khế này ngày tụng 1000 lần, không quá 7 ngày tức thành tựu. Không được tiết lộ, nhớ lấy, nhớ lấy, không được truyền phi khí nhân. Cần khổ luyện qua 21 ngày, được thành Phật, Bồ Tát .
¯ Thứ tư, Như Lai Mẫu Kheá:
Còn gọi Kim Cang Mẫu, còn gọi Bồ Tát Mẫu, còn gọi Chư Phật Trí Mẫu, Chư Pháp Mẫu, Chư Ấn Mẫu, Tự Tại Thiên Mẫu, còn gọi Khế Trì Mẫu, Tổng Trì Mẫu.
Hai tay chắp lại, hai ngón út trong lòng bàn tay, hai ngón trỏ như câu hai đầu ngón út, hai ngón cái áp lên lóng giữa hai ngón trỏ, hai ngón vô danh đứng thẳng đầu dựa nhau, hai ngón giữa đặt lên lưng hai ngón vô danh, đầu bốn ngón bằng nhau, chắp cổ tay lại tức thành.
Ngồi Kiết già phu, tụng Chú nho nhỏ tức linh nghiệm. Nếu có kẻ trai lành, người gái tín muốn trì Ấn khế này, tâm niệm mười phương Chư Phật 7 lần, sau đó kết Ấn. Ngày Rằm kết Ấn tụng vạn biến, mười phương thế giới tất cả tự tại Pháp môn tức thời hiện tiền, cho đến ba mươi ba cõi trời cần đến, tức đến không sai khác. Chư Phật trường sanh ta cũng trường sanh. Chư Phật thành đạo, ta cũng thành đạo. Chư Phật vô ngại, ta cũng vô ngại. Chư Phật hóa thân, phóng quang, tịch định, tam muội, thuyết pháp, không ăn, thì ta cũng hóa thân, phóng quang, tịch định, tam muội, thuyết pháp, không ăn; cho đến tất cả việc gì Chư Phật làm, ta cũng có thể làm như vậy.Vì sao thế? Vì ở trong tám loại Mẫu và tám tự tại, Chư Phật thường nói tám tự tại. Ta cũng từ trong đó mà ra không khác. Khế ấn này hay nhiếp lực tự tại trong tám phương, mỗi mỗi phương giới đều có tám tùy tâm. Tám loại như sau: Một Tùy tâm biến hóa, hai là Tùy tâm từ bi, ba là Tùy tâm cứu khổ, bốn là Tùy tâm thuyết pháp, năm là Tùy tâm tự tại thuận nghịch, sáu là Tùy tâm Nhiếp chư yếu khế tự lai tương trục, bảy là Tùy tâm mà tất cả độc ác khiến đều hướng thiện cho đến thành Phật không thốùi chuyển, tám là Tùy tâm mà tất cả quả báo phước đức ở nơi thế gian cần cho thì cho, cần bỏ thì bỏ cần tu thì tu, muốn thành tức thành, muốn phá tức phá. Này Thiện nam tử, như vậy trong các loại Tùy tâm, mỗi loại đều có trăm ngàn việc tùy tâm không thể nói hết. nếu có cầu việc gì sáng chiều kết Khế ấn mà cầu đều, nếu không như vậy Chư Phật tức vọng ngôn. Nếu có kẻ trai lành người gái tín muốn trì Ấn khế này, cầu Phật vị, cầu Bồ tát vị, cầu Kim Cang vị, Thiên thần vị, cầu hiện mười phương, cầu sanh Tây phương, cầu sanh hạ phương, cầu sanh trong mười phương tự tại, cầu trí thế gian biện luận giỏi v.v… chỉ cần chí tâm suy nghĩ việc đó, ngày tụng 1000 biến, trong bảy ngày tức được một lần ra khỏi, không có trở lại. Vì sao vậy? Vì đồng thân Phật được Phật thần thông, vì đồng tâm Phật được Phật từ vậy, vì đồng Phật nhãn thấy như Phật, vì đồng Phật lực được Phật giữ gìn, vì đồng Phật hành ở nơi thế gian, vì đồng Phật ấn gần gủi lãnh thọ, vì biến hóa đồng với Chư Phật, vì được Pháp thân nên chư Ma Ngoại đạo tự hàng phục; lấy gì hàng phục? Thấy hai thân tức thấy một thân, thấy hai Phật tức thấy một Phật. Thiện nam tử! nên biết Khế này chỉ Phật với Phật mới có kẻ nhớ trì, không phải kẻ sơ tâm, không phải Kim Cang. Phật chỉ cho Khế này, không phải là kẻ hạ căn vậy. Thiện nam tử, nếu đem Khế này mười phương thế giới các chỗ thông linh, không có gì không biết, không gì không nhiếp thọ được, không ai không đảnh lễ, không ai không theo, không ai không ủng hộ. Mười phương Như Lai thảy đều ấn khả, làm cho trăm ngàn hằng hà sa số thế giới, đại địa thảy đều tràn ngập, núi Tu Di nát như bụi, chỉ có Phật thân là không thay đổi. Nên biết Khế này Chư Phật nắm giữ, nếu có Bồ Tát không từ nơi Phật thọ Khế này mà biết là điều vô lý, hết cả thế giới Chư Thiên không thể thấy nghe được. Vì sao vậy? Vì chư Phật cho không vậy!
Thiện nam tử! Nên biết Khế này có vô lượng lực. Nếu hay chí thành, trì qua ba ngày, đại địa chấn động như Phật ra đời, ánh sáng mặt trời mặt trăng tự nhiên lu mờ.Vì
sao vậy? Vì do oai lực của Khế. Thiện nam tử! Kết Khế ấn này của Ta, mọi việc làm Ta chỉ là phụ thuộc; đồng như tâm Ta, Ta cũng chỉ phụ thuộc; đầy đủ Đại từ bi, Ta cũng chỉ là phụ; trưởng dưỡng Pháp tánh, Ta cũng chỉ phụ thuộc; hay độ chúng sinh cho đến Bồ đề, Ta cũng chỉ phụ thuộc; y theo kinh giáo nhớ nghĩ nơi tâm, Ta cũng chỉ phụ thuộc; hay vì chúng sanh làm việc quyết dịnh, Ta cũng chỉ phụ thuộc; hay khiến chúng sanh tu hành giới hạnh, đối với chúng sanh làm các chế ước (điều kiện giao hẹn) khiến không dám sai, Ta cũng chỉ là phụ thuộc. Thiện nam tử! Nên biết Khế này, trì tụng trăm lần đưa lên đến đầu tức hay phóng quang, vì Khế này là tâm Như Lai. Kết Khế, trì trăm biến tự được tâm Phật. Nên biết Khế này là mắt Như Lai, trì Khế trăm biến đưa để nơi mắt trái tức thấy như Phật, đưa để nơi mắt phải tức thấy như Bồ Tát, đưa để giữa chân mày tức thấy như thần thông Kim Cang bất hoại. Thiện nam tử! Nên biết Ấn này là thần thông biến hóa của Như Lai, kết Khế trì trăm lần để đùi bên trái tức đồng vô biên thân Như Lai, ở trong thân quán thấy chúng sanh đầy đủ tự tại. Đưa Ấn nơi đùi phải, tức chuyển đại địa vào trong thân. Thiện nam tử! Nên biết Ấn này là Như Lai thần túc vô ngại, kết Ấn khế trì trăm lần trên dưới tám hướng, tức thời xuất hiện đều không quá bảy bước, nên biết Khế này đồng Như Lai ngữ. Trì Khế trăm lần để nơi miệng khi nói Pháp yếu, đồng như Phật nói, tất cả đều hợp khế kinh, nên biết Khế này là Như Lai đảnh luân.Trì Khế trăm lần hay vì ác nghiệp chúng sanh làm đại phước điền, làm thiện nghiệp chúng sanh chứng quả Thọ ký. Nên biết Khế này, giả sử Chư Phật đồng thời ra đời, thần lực cũng như Chư Phật, vì thế Khế này không thể nghĩ bàn. Nếu tu trì cần phải trân trọng, không được truyền cho phi khí nhân. Vì sao vậy? Vì Ta tự bảo hộ. Nếu truyền cho phi khí nhân tức đồng phỉ báng Ta, nếu phỉ báng thì làm sao mà được xuất ly; nếu không xuất ly, làm sao thấy và nghe được danh hiệu mười phương Chư Phật, làm thế nào thấy được Pháp thân Chư Phật, vĩnh kiếp không được Chư Phật hộ niệm; một khi đọa vào Địa ngục, mười hằng hà sa kiếp mới được ra khỏi, khi ra khỏi Địa ngục phải qua trăm ngàn kiếp làm thân đui mù. Cho nên, phải biết Ấn khế này cần trân trọng tu trì không dùng bừa bãi.Thọ pháp Sám hối, trừ nạn cứu khổ, nhiếp chướng, độ người, hàng ma, chế độc mới dùng, việc nhỏ dùng Pháp này không thành tựu, tức thất nghiệm. Nếy thường y như trên mà làm, tức tự thành nghiệm. Giả sử Ta có nói rộng hết nghĩa lý bao trùm khắp đại địa cũng không thể nào hết được .
¯ Thứ năm, Ấn khế Như Lai Thiện Tập Đà La Ni:
Còn gọi là Nhiếp Nhất Thiết Bồ Tát Khế, hay còn gọi là Nhiếp Nhất Thiết Kim Cang Tạng Khế, Pháp Thân Khế, Tập Nhất Thiết Đà La Ni Thần Tạng Khế, Tập Nhất Thiết Oai Lực Tự Tại Khế.
Chắp hai tay lại, hai ngón giữa phải đè trái xoa nhau trong lòng bàn tay, hai ngón cái trái đè phải vịn ngón giữa như cái vòng, hai ngón vô danh, hai ngón út đứng thẳng đầu dựa nhau, hai ngón trỏ vịn hai ngón vô danh vặn tiết trên tức thành.
Nếu có kẻ trai lành, người gái tín muốn trì Khế này, nơi sớm chiều chí tâm xưng niệm Chư Phật trong ba đời, mặt ngó mười phương nói Pháp Tam Quy, súc miệng rửa tay cho sạch sẽ, sau đó kết Ấn, bế tâm tịnh tọa, trong tâm tự biết lời của Chư Phật trong mười phương, một lòng nhớ nghĩ chứng Chư Phật tâm, lời lẽ Chư Phật từ đó mà ra, biến khắp thế giới chỗ có các Đà La Ni Pháp môn, hết thảy Đà La Ni thần, trăm vạn ức Kim Cang
Tạng Vương, trăm vạn ức thế giới Bồ Tát Ma Ha Tát và Chư Phật Đà La Ni, Long Tạng, Nhật Tạng, Nguyệt Tạng, Địa Tạng, A Tu La Tạng, Phục Tạng, Bảo Tạng, Chư Phật bí mật cho đến tất cả Tạng Từ bi của Chư Phật đều tự khai mở trước mắt, biến khắp mười phương thế giới chỗ có các Tạng Đà La Ni tự nhiên hiểu biết; hiểu biết xong thời tất cả các Pháp Đà La Ni lấy dụng không ngại. Thiện nam tử! Nếu muốn thọ trì Pháp này cần đốt Đàn Hương, Huân Lục Hương, Trầm Hương v.v… y phục sạch sẽ, xong phát thệ rằng: “ Con nay thọ trì Pháp ấn này là vì tất cả chúng sanh". Phát lời thệ xong tức kết Ấn trì đến 108 biến, tất cả Chư Phật hóa làm trăm bách ức Thần cầm các khí trượng cùng các quyến thuộc vi nhiễu người trì chú; trăm ức Thần quân, trăm ức Quỷ quân, cùng chư Thiên tiên thảy đều tự tập hỏi rằng:“ Có cần sai sử điều gì, ta sẽ làm cho không dám trái”, chỗ cần làm đều được. Nếu chỗ cần các thất bảo, các Pháp ẩn hình và dùng Pháp giáo hóa tứ thiên hạ có đại oai lực, các vị trên đều tự nhiên thuận phục. Nếu không thuận, dùng Khế chỉ đó, tức trên Khế hóa ra binh chúng cầm lửa biến khắp mười phương thế giới, các binh chúng thân cao lớn vi nhiễu, Vua Chuyển Luân Vương dùng Ấn này thống trị thiên hạ. Muốn được Pháp tạng, trì Ấn để nơi tim tức có Trì Đà La Ni Vương vì nói Pháp yếu tự nhiên hiểu rõ. Muốn hàng phục ác thú, dùng Khế chỉ đó, tức thời trên Ấn có năm con sư tử xuất hiện, ác thú tự nhiên quy phục. Xưa Như Lai ở Ma Ha Đà La quốc, dùng Ấn này hàng phục voi điên Hộ Tài. Nếu muốn dời đổi núi non, kết Ấn khế chú 1000 biến, dùng Ấn chỉ núi ba lần chỉ đất ba lần, tức thời Địa Tạng và Kim Cang Tế từ dưới núi vọt lên, đem núi dời qua phương khác mà tất cả chúng sanh không hay biết, Như Lai phóng quang động địa là dùng Ấn khế này. Nếu có tai họa, tật bệnh lưu hành, mưa gió sấm sét, mưa đá v.v… muốn dứt, kết Ấn chú 7 lần, luân chuyển ba vòng, các tai họa đều diệt . Nếu trì các chú lâu ngày không linh nghiệm, nên kết Ấn này để nơi đảnh đầu, tức được tối thắng thành tựu không nghi. Các Thiện nam tử, Như Lai thần lực do đây mà có, Như Lai Khế ấn Pháp do đây mà ra, quá khứ Chư Phật Pháp Tạng cũng do đây mà tập, Chư Phật nhiếp phục Bồ Tát, Kim Cang thần lực, Chư Thiên tiên, tất cả ngoại đạo để làm phục sự đều dùng Ấn khế nầy. Nếu tất cả các Pháp của chúng sanh không hiểu được, kết Ấn chỉ nơi tâm kẻ kia tức hiểu rõ Chư Phật, Bồ Tát, Kim Cang làm các việc thần thông, người không biết được đều dùng ấn khế này. Chứng đắc Đà La Ni, làm chấn động Tam Thiên thế giới không do Ấn khế này mà được là điều vô lý. Các Khế ấn trì tụng phần nhiều bị khuyết phạm, đắc Khế ấn này không lo khuyết phạm, không sợ mất Pháp, tất cả các Thánh trên từ Chư Phật dưới đến các loại ẩn hình biến hóa đều lại cúng dường. Nếu trì Ấn này, thần lực cũng bằng Chư Phật, nếu người tu Vô Thượng Bồ Đề dùng đó tức có oai lực. Không được truyền cho kẻ tiểu tâm tham lam, có truyền cũng vô dụng lại khởi lòng phỉ báng. Thiện nam tử, nên biết Ấn này là thân Chư Phật hay nhiếp các Pháp tự thông rõ vậy, nên biết Khế này là thân Như Lai hay nhiếp các Thánh lại ủng hộ, nên biết Khế này là Như Lai tâm nhiếp các Pháp tạng tại nơi ý, nên biết Khế này là Như Lai thân hay nhiếp Bồ Tát Kim Cang giúp đỡ thế gian, nên biết khế này là Như Lai thân hay nhiếp tất cả đại thần lo việc thế gian Với Ấn khế này ta chỉ là phụ thuộc, Khế ấn này tẩy rửa tay của chúng sanh hạ tiện vì các chúng sanh là do Bồ Tát dạy dỗ đắc thọ ký Bồ Đề, Ta chỉ là phụ thuộc. Lành thay! Lành thay! Thiện nam tử, đừng nói Chư Phật cũng do thân tâm dục, đừng khinh Ấn này, cần nên hộ trì. Vì sao vậy? Vì Chư Phật không làm hạnh dâm dục. Chư Phật Bồ Tát không có dâm dục, nên biết Khế này đồng với Chư Phật. Nếu trì Ấn khế này, từng tạo nhân đọa vào địa ngục liền khiến chúng sanh nhớ niệm tức được sanh Thiên, không có một ai phải chịu tội khổ. Như Lai Thích Ca thị hiện bệnh vào địa
ngục cứu chúng sanh, thường dùng Khế ấn này vì không có Khế ấn nào bằng. Nếu Ta nói kiếp kiếp không ngừng nghỉ cũng không thể nói hết được. Nên nhớ lấy! Nhớ lấy!
¯ Thứ sáu, Ấn khế Như Lai Ngữ:
Còn gọi là Sắc Lịnh Chư Thần Khế, Sắc Lịnh Ma Vương Ngoại Đạo Khế, Văn Trì Bất Vong Khế, Tuyên Thuyết Chư Mật Môn Khế, Đồng Nhất Thiết Chúng Sanh Ngôn Âm Khế, Nhất Thiết Nghịch Thuận Nhi Thuyết Vô Năng Giá Khế .
Chắp hai tay lại nơi ngón vô danh, hai ngón út xoa nhau trong lòng bàn tay, dùng hai ngón cái, trái đè phải vịn nơi móng hai ngón vô danh và hai ngón út, hai ngón giữa đứng thẳng, hai ngón trỏ đứng thẳng hơi cách 2 phân .
Nếu kẻ trai lành, người gái tín được Ấn khế này hoặc thấy hoặc nghe, tất cả tội chướng nơi thân đều được tiêu trừ, các Pháp yếu hoặc không phải Pháp yếu nói ra đều thành sự thực, lời nói ra sắc triệu các việc khắp mười phương thảy đều nghe biết, trong tâm có cần Pháp gì miệng chỉ cần nói ra: "Ta cần Pháp này, cần lực này, cần báu này, cần thuốc này, cần món ăn này". Tất cả các việc cần chỉ tịnh tâm kết Ấn tụng chú 1080 biến, chỗ cần các thứ tức thời chư Thần tự đem đến dâng; cho đến ba mươi ba cõi Trời nghe lời nói cũng như Chư Phật nói đều lại cúng dường. Các loại Dạ Xoa, La Sát, Quỷ thần ở mười phuong nếu có tâm độc hại, nghe lời nói tâm độc tức trừ, tự lại cầu xin phát nguyện rộng lớn:“ Chúng con xin nghe theo lời Phật không dám làm ác”. Hạ phương thế giới các Kim Cang tạng nghe lời nói, đem tòa Kim Cang dâng lên để người trì tụng ngồi lên trên đó. Duy Ma Cật lấy Kim Cang tọa ở Đông Phương dùng Ấn khế này, Như Lai Đa Bảo cũng dùng sức của Ấn khế này mà từ dưới đất vọt lên, nói gì đều được không có sai chạy. Vì sao vậy? Vì lời nói của Chư Phật biến khắp mười phương, nay lời nói đây cũng đồng với Chư Phật không khác, dùng lời nói quyết định như Chư Phật vậy. Các Pháp nói ra đều không sai lầm, nhớ nghĩ không mất cũng như Chư Phật, nói ra điều gì chúng sanh nghe được đều hiểu rõ ràng, nói đúng nói sai các chúng sanh nghe thảy đều tin theo như nghe nói Pháp, dạy bảo việc gì chúng sanh nghe theo không có quên, dầu có nói bậy chúng sanh cũng nghe như Chánh Pháp mà hộ trì. Nếu có chúng sanh nào bị thất tâm thất niệm muốn chết, Chân ngôn của Ta giúp được lại bổn tâm, khiến được chánh định, chỗ tu các pháp yếu khiến các chúng sanh ưa nghe, lời lẽ nói ra không có vượt bực. Thiện nam tử! Nếu trì Pháp này mãn 100 ngày, tất cả ngôn âm thảy đều hiểu biết, nếu hay chí tâm mà không hiểu được thì Chư Phật tức vọng ngôn. Nếu Ta nói lực của Ấn khế này không thể so sánh, không thể nói hết cho đến tất cả quá khứ, hiện tại, vị lai, các Thánh cũng không thể biết được sức của Ấn khế này, trì tụng tự biết lấy. Tất cả việc đều từ trong tâm Khế này mà sanh, không được dùng bừa bãi. Nhớ kỹ, nhớ kỹ! Chúng sanh sơ tâm không được cho thấy Ấn khế này, việc nhỏ cấm dùng, nếu dùng khiến mất nghiệm".
Khi Đức Thế Tôn nói Pháp này xong, tất cả Bồ Tát, Kim Cang Tạng Vương cùng các quyến thuộc đều muốn thọ trì Pháp này. Tất cả thiên địa, đại trắc nhật, nguyệt, tinh tú đều mất ánh sáng, tất cả Thần linh tự nhiên tiêu mất. Phật thấy như vậy liền khẽ mỉm cười, dùng Ngữ khế chỉ mười phương giới Thiên địa đại minh, thời các Bồ Tát tự hiện
thân hình, mỗi khi cất bước, trời đất rung rinh không đứng vững được, dùng hết thần lực cũng không dừng được .
Bấy giờ, Như Lai liền lại nơi tòa ngồi, hỏi cùng Đại chúng: “ Để Ta dùng Khế ấn nầy xem sao”, tức duỗi tay trái bốn ngón đưa về phía trước, ngón cái để nơi lòng bàn tay, tay phải cũng như tay trái để nơi vế phải, tức thời đại chúng và đại địa trở lại bình thường .
"Lành thay! Các ông nên biết, thần lực của Chư Phật là không thể nghĩ bàn, tâm các Bồ Tát được an ổn, được các Pháp, có chỗ gia trì, nếu không như vậy, dầu có tu hành cũng chẳng được gì".
Bấy giờ, Bồ tát Bảo Đức bạch Phật rằng: “ Bạch Thế Tôn! Khế ấn này gia trì như thế nào? Sao Ngài không nói ra, nếu không nói ra thì cũng như có bệnh mà không có cách cứu chữa".
Bấy giờ, Phật bảo Bồ Tát Đức Tạng rằng: “Định ấn này của Ta, tất cả Chư Phật do đây được Định. Từ xưa đến nay, chỉ có Chư Phật mới có Khế ấn này, còn tất cả Chư Bồ Tát Kim Cang không có, nếu có tức đồng với Chư Phật. Sức Định lực này không có lời nào nói hết được, vì không nói hết được nên các Pháp cũng không thể nào nói cho hết được, không ai nói được, không ai hiểu được, chỉ Ta mới hiểu được thôi, chỉ có quá khứ Chư Phật là hiểu được; nếu có Bồ Tát mà hiểu được tức đồng với Chư Phật không phải là Bồ Tát ” .
Lúc Như Lai nói lời này xong, phương dưới có một vị Bồ Tát tên là Vô Ngại Thông từ dưới đất vọt lên trước Đức Phật buồn rầu ngồi yên, bảo tọa cũng không có, ngồi mà thở dài không xưng tán Phật khiến đại chúng rất là kinh quái, đều đồng hỏi Phật. Phật đáp rằng: “Để Ta sẽ hỏi”, liền bảo Bồ Tát Vô Ngại Thông: “Ông nay sao lại thở dài? “ .
Thời Bồ tát Vô Ngại Thông vui vẻ, tòa báu xuất hiện oai quang rực rỡ chiếu khắp Đại chúng, từ tòa bước xuống sửa y áo đến trước Phật bạch rằng: “Con ở nơi phương dưới, nghe Phật nói Tâm Trung Tâm và các Ấn khế vui vẻ thọ trì được thần thông này, nay lại nơi đây. Lành thay! Đức Thế Tôn, xin chứng biết cho con ” .
Phật bảo: “ Ta sở chứng cho ông nên cứu giúp chúng sanh, chỗ thấy biết đều ban cho họ. Ta sẽ đem Phật tâm ban cho, nếu được Phật tâm ban cho tức là Mạn Đà La” .
Bồ Tát Vô Ngại Thông bạch rằng: “Thế Tôn! Người chưa thành Phật, người không quyết định, người nhiều ràng buộc, người không Từ bi, các hàng như trên có vào được không?” .
Phật bảo: “ Vô Ngại! Nay Ta nói Pháp chỉ vì hàng hạ liệt, các hàng như trên muốn vào được Mạn Đà La, trong ngày làm Đàn có ba viện , không cần đồ cúng, chỉ cần hương thơm; 3 cây kích, nếu không có kích dùng 3 cây đao thay thế; 3 chén nước thơm; 3 mặt kiếng; chu vi Đàn 8 thước . Viện thứ nhất màu trắng, viện thứ hai mà đỏ, viện thứ ba màu xanh y như 5 phương pháp. Viện thứ nhất cầu Phật, viện thứ hai cầu Bồ Tát, viện thứ ba
cầu Kim Cang. Ngoài ra các Thiên tiên quỷ thần, các Pháp ở nơi ngoài Đàn mà cầu, cử tâm đắc thành, không cần nhiều ngày đã có hiệu nghiệm; không được truyền ấn; có công hiệu nên cố gắng, cần phải tinh tấn các Pháp tự nhiên chứng được ".
Bấy giờ Đại chúng bạch với Phật rằng: “Bạch Thế Tôn! Pháp khế này do đâu được trì, được hoán đảnh, được gia hộ, hay các thần thông biến khắp mười phương, khiến tất cả đều quy phục, hay khiến các Pháp tự nhiên hiện tiền, chỉ có người ở nơi Phật tu trì Pháp này mà được, các người như trên Phật tự chứng biết, nay chúng con cũng muốn thỉnh làm nơi quy y ".
Phật bảo: “ Các ông hãy chờ trong chốc lát sẽ thấy.” .
Tức thời Đức Phật ở nơi tự tâm kết trì Ngữ Khế, bảo khắp mười phương Phật Tâm Trung Tâm rằng: “ Các ông mau lại, Đại chúng muốn được thấy” .
Bấy giờ, Bồ Tát Đa La dẫn Bồ Tát Tam Khế và các quyến thuộc trước sau vi nhiễu, từ phương Đông biến thân làm Phật mà lại, tất cả Đại chúng thành tướng Bồ Tát hiện ra trước Phật. Bồ Tát Kiên Ý từ phương Nam đẫn các Bồ Tát Thành tựu khế hóa thân làm Phật, mỗi mỗi các quyến thuộc đều tự biến thân làm Bồ Tát. Phật Tâm Vương Sư Tử Hống Vương từ phương Tây lại dẫn các Bồ Tát chánh thọ Khế tứ nước kia mà lại, nơi đường gặp các loại chúng sanh thị tâm phi tâm đều dùng Ấn chỉ đó, tức đều chuyển tâm hướng Phật, những người chưa nghe đều được thọ ký Bồ Tát. Như Lai Tối Thắng có một Đồng tử 14 tuổi trì Mẫu khế ấn từ phương Bắc mà đến, đi qua các nước có các quân của đại Dạ Xoa La Sát, quân quỷ của Đại Hắc, các loại quân phun lửa đại hắc phong và rắn lớn, tất cả các loại như vậy dùng Phật Mẫu Khế chỉ đó, đều phát lòng từ đưa dẫn Đồng tử đến chỗ Phật, các loại ác thú đều được Phật tâm thọ ký Bồ Tát. Phật Sư Tử Âm từ phương dưới mà đến trì Bồ Tát tập Đà La Ni khế, có trăm vạn ức Thần Đà La Ni làm quyến thuộc bay trên hư không lại làm chứng. Phương trên, Như Lai Hương Tích có một Đồng tử có mùi thơm khắp thế giới trì Phật ngữ khế mà đến. Các chúng ở hạ phương, vì Như Lai Hương Tích, Như Lai Phổ Quang đều đến Diêm Phù Đề, đồng đem hoa cúng dường đến trước Phật, tất cả đều là đồng tử .
Bấy giờ, Như Lai bảo Đại chúng rằng: “ Như vậy, các vị đã đến từ nãy giờ có đáng làm Thầy các ông không? Các vị này đều thừa Phật lực, có đại thần thông không bao lâu sẽ đuợc thành tựu” .
Đại chúng không một ai lên tiếng. Phật bảo : “Lắng nghe! Ta sẽ gọi một người khác” ; liền gọi rằng: “Nầy đồng tử Quang Minh! Hãy đến đây!”.
Bấy giờ, đồng tử đang ở tại núi Tuyết Sơn, nghe Phật gọi tức thời liền tới nơi Đại chúng. Đại chúng nói rằng: “Phật gọi ông tới, vậy còn quyến thuộc ở đâu?” .
Đồng tử đáp rằng: “ Tất cả các ông đều là quyến thuộc của ta”.
Đại chúng hỏi rằng: “Chúng ta cùng ông không từng biết nhau, tại sao bảo chúng ta là quyến thuộc?” .
Bấy giờ Đồng tử mật trì Ấn khế chỉ nơi đại chúng, ngoại trừ Hóa thân của Phật, còn tất cả chúng Bồ Tát thảy đều đảnh lễ Đồng tử, khiến Đại chúng đều không hiểu tại sao. Tứ chúng lễ xong thưa rằng : “Nay chúng tôi xin thỉnh Ngài làm Thầy” .
Đồng tử đáp rằng: “Như Lai Ngữ khế chân thật không hư dối, các ông nên thọ trì sẽ được như Ta không khác” .
Thời tất cả Đại chúng đồng lời bạch cùng Phật rằng: “Đồng tử này tu pháp Khế lâu chưa, mà nay có đủ thần lực nhiếp Đại chúng ở đây?” .
Phật bảo: “Các ông lắng nghe! Ta sẽ vì các ông mà nói nhân duyên này: Khi xưa, lúc Ta ở núi Linh Thứu tu hành, thường có nhiều loại ác thú muốn ăn thịt. Khi đó, ở trong Định, Ta nhớ lại Thầy Ta là Như Lai Không Vương có nói một câu chú, chỉ tụng một biến, tất cả các loại trùng thú độc ác đều được Phật tâm không có làm hại. Ta lại niệm tiếp, thời tất cả các loại ác trên đều được giới Bồ Tát, thảy đều ăn rau cỏ. Sau đó có một Đồng tử đến lo lắng cung cấp thừa sự cho Ta một đêm, và trộm được chú này. Sáng ra, Đồng tử từ giã Ta mà đi, sau 7 ngày được đại thần lực. Sau đó, gặp Ta lại muốn dùng thần thông nhiếp phục Ta, hai ba lần không được. Các ông nên biết, trộm Pháp mà còn có được thầøn thông như vậy, huống là được công khai thọ học“.
Đại chúng nghe Phật nói, thảy đều mong muốn được như Đồng tử có đại oai thần lực tự tại. Phật bảo: “ Qua 7 ngày sau, các ông sẽ được, trừ kẻ không có lòng tin”
Bấy giờ, có một kẻ ngoại đạo ẩn hình vào trong Đại chúng, Phật biết mà không nói ra. Kẻ kia muốn dùng Ấn khế này để hàng phục các vị Bồ Tát, vì khởi tâm ác nên lúc đang kết Khế, thân tâm bị thiêu đốt, các Pháp đều mất hết. Nên biết Pháp này không được vọng truyền, tất cả sự nghiệp đều tùy ý, chỉ trừ có lòng ác, lòng ganh tỵ tức không thành, bằng không quyết chứng không sai''.
“Lành thay! Bạch Thế Tôn! Xin nguyện ấn khả, nguyện cho chúng con, mau được thân Phật, sớm chứng quả Phật!”
Khi đó, Như Lai vì muốn ấn khả cho tất cả Đại chúng, liền dùng chánh thọ Bồ Tát Khế 3 lần, chỉ khắp mười phương, tức có gió đen thổi đến làm tất cả các vị Bồ Tát đều lăn nhào xuống đất. Khi các vị xuất hiện, tức có mây đỏ xuất hiện, mưa các thứ hương thơm Chiên Đàn, lại tuôn nước thơm tắm khắp Đại chúng. Đại chúng được tắm xong, đều được thần thông tự tại, được tự tại rồi tức tu Pháp này, trải qua 7 ngày đều chứng thân Phật. Do oai lực của Khế này, Phật sắp nhập Niết Bàn, các Hóa Phật dâng cúng dường. Đại chúng được nghe lực của Khế này, tất cả đều cùng nhau tán thán công đức của Phật.
Lành thay Đấng Cứu Độ Đầy đủ đại thần thông Biến hiện mười phương cõi Đủ các Oai đức lớn Thân Phật tức thân phàm Đức lực đều bằng nhauPháp thân rất vi diệu Cần nên phải quyết địnhNguyện chứng quả vị này Cho đến khắp vị lai
Lời lẽ của phàm phu Đồng Phật âm không khác
Bấy giờ Ngài Văn Thù Sư Lợi và các Bậc Pháp Vương dùng thần lực báo khắp mười phương, tán thán Đức Phật .
Lành thay Đấng Sư tử Từ quang chiếu thế gianPháp thân rất vi diệu Hiện những việc ít cóCần tu lâu không đắc Phóng quang được Bồ ĐềĐồng thân như Chư Phật Do sức của Thầy TaNên biết con đường tu Không qua chữ Từ biNguyện cho người đời sau Cũng như Ta không khác
Tức thời Như Lai lại nói kệ rằng :
Trong tất cả các thân Không gì hơn thân PhậtTrong các Pháp vi diệu Không gì hơn Phật tâmChúng sanh được Tâm này Chúng sanh tức là PhậtThần lực của đức Phật Bồ Tát không thể hiểu Trải qua hằng sa kiếp Ta chỉ phụ thuộc thôiNếu người hay thọ trì Thân đồng như chư Phật Nếu có lòng chí thành Trong mộng được Bồ ĐềTa nói nhân trong mộng Các người hãy lắng ngheNếu cầu thấy Pháp thời Tất hóa ra lầu cácChư Phật nơi hư không Đều tụ tại nơi đầuHoặc thấy qua sông lớn Tự hóa ra thuyền bèHoặc thấy lên núi cao Rất lẹ làng nhanh nhẹnHoặc thấy tạo chùa tháp Nương hư không mà điHoặc thấy các Pháp hội Đại chúng nghe mình nóiHoặc thấy loài voi dữ Duỗi tay tức quy phụcHoặc thấy các kinh điển Mình tự cầm lên xemHoặc thấy các lầu các Mình yên ở trong đóHoặc thấy sông biển lớn Đi vào đó không chìmTất cả tướng mộng trên Nhân thành tựu đến gầnCần tu niệm như vậy Y thọ lời Ta dạyNếu không làm theo đây Cách Bồ Đề rất xaNên trong Khế ấn này Cần thận trọng giữ gìn
Bấy giờ Đại chúng nghe Phật nói Pháp xong, thảy đều vui vẻ làm theo và đồng lễ Phật mà lui ra .
PHẬT TÂM TRUNG TÂM ẤN
Mật Tạng Bộ 2 .
No- 920b ( Tr.08 - Tr.15 )
Quyển Hạ
Phẩm Trung
Tam Tạng Bồ Đề Lưu Chi phụng chiếu dịch Phạn ra Hán.
Sa Môn Thích Quảng Trí dịch Hán ra Việt văn.
Lúc bấy giờ, A Nan đang ngồi trong Đại chúng, bỗng nhiên buồn rầu bức rứt, tất cả kinh Phật tự nhiên quên hết. Tất cả chư Đại Kim Cang, chư Đại Bồ Tát, Linh thần trong thế giới cho đến các Thần, Tiên, Rồng, trăm ngàn vạn ức thế giới Tứ Thiên Vương, Phạm Thiên Đế Thích đều bị mờ mịt, tinh quang mất hết. Chỉ có Chư Phật mới biết rõ nhân duyên tại sao có sự việc này, các Ngài đều an nhiên nơi tòa ngồi, phóng ra hào quang tự hiểu nhau .
Khi đó, Đức Tỳ Lô Giá Na ở nơi thân tỏa ra trăm ngàn ánh sáng hào quang rực rỡ muôn màu, ánh quang chiếu cho đến tất cả chúng sanh dầu có tội không tội, khiến được an ổn hết cả sợ sệt. Lại từ nơi trong hào quang nói ra trăm ngàn âm thanh vi diệu bảo cùng Chư Phật rằng: “Này các vị! Oai quang này khó biết được, khó lường được, chỉ có các vị Sức như Ta, tâm Từ, tâm Bi như Ta, Giải như Ta, Trí như Ta, Biện như Ta, cho đến tất cả trong thế giới những người hiểu biết hết mọi việc cũng chưa biết được hết ánh sáng này, do vì đầy đủ nhân duyên mà được tất cả tri kiến” .
Bấy giờ, A Nan ở trong chỗ mờ mịt có được chút ít suy nghĩ đứng dậy hỏi Đức Tỳ Lô Giá Na rằng: “Bạch Thế Tôn! Vậy ánh quang này chỉ có Chư Phật mới biết được sao?” .
Phật bảo: “Thiện nam tử! Chỉ có Chư Phật là biết được, vì các Bồ tát chưa thấy được như Phật.” .
Tức thời, A Nan lễ lạy chân Phật năm vóc sát đất, mắt nhìn xuống, dùng kệ hỏi Phật :
Bồ Tát trong thế gian Hiện thân được làm PhậtNơi các cõi thế giới Thường hóa vô lượng thânThế giới có Bồ Tát Hay biết như Phật biếtThế giới có Bồ Tát Hay mở trói chúng sanhThế giới có Bồ Tát Hay vào các cõi PhậtThế giới có Bồ Tát Đầy đủ các phương tiệnThế giới có Bồ Tát Hay vào trong các khổThế giới có Bồ Tát Nhiếp chúng vào thân đóNhư vậy các Bồ Tát Đều là Bậc Quán đảnhCũng như là Phật vậy Ứng hiện vào cảnh giớiThần thông, Ba La Mật Đều không thể nghĩ bànHay ở trong các nạn Tự tại không sợ sệt Con xem thấy các Ngài Đều như Phật không khác Nếu thọ trì đầy đủ Cũng đồng như đức Phật Tụng trì Phật Pháp Tạng Tất cả đều rõ biết Tức là Pháp Vân đảnh Trọn đầy đủ các địaTại sao các vị này Lại không rõ nhân duyênCác Ngài còn như vậy Huống là các chúng con?".
Khi đó, trong hào quang Đức Tỳ Lô Giá Na phát ra tiếng lớn bảo A Nan rằng: “Lành thay Phật tử! Các Bồ Tát vì có từ bi mà không đổi nên không biết được, chỉ vì nhẫn nhục mà không biến nên không biết được, vì thần thông không biến nên không biết được; chỉ có thị hiện, thị hiện không biến nên không biết được; chỉ có vô ngại, vô ngại không biến nên không biết được. Như vậy, tất cả các “bất biến” không biến, các Bồ Tát đều có. Nếu như người mà biết biến, tức đều có thể hiểu biết Phật tánh, tức biết được Ta. Tất cả mọi việc, biết được Phật tánh là hiểu biết tất cả, nếu không làm sao biết được Như Lai Vô lượng xứ “.
A Nan bạch Phật rằng: “Bạch Thế Tôn! Như vậy các Bồ Tát còn không hiểu được, các hàng chúng sanh làm sao có thể biết được việc này?” .
Phật bảo: “Như ông gần gũi Ta- Phật Thích Ca Mâu Ni, nay hỏi được lời này khiến chúng sanh tự nhiên biết rõ, lấy đó mà phụng trì, tất cả chúng sanh tự nhiên được hiểu những lời Ta nói”
A Nan liền hỏi Đức Phật Thích Ca Mâu Ni rằng: “Bạch Thế Tôn! Việc này là thế nào? Con đã từng thân cận cúng dường Phật trải qua nhiều kiếp. Xin vì con mà giải thị hiện các Pháp yếu, con muốn tu hành để tẩy sạch tâm chúng sanh.” .
Bấy giờ, Đức Như Lai bảo A Nan rằng: “Ta nay sẽ thị hiện các thần lực, các ông cần phải bình tĩnh không được sợ sệt.” .
A Nan vâng lời Phật dạy, liền bảo đại chúng rằng: “Đại chúng nên biết! Đại chúng nên biết!”. Nói lớn ba lần như vậy. Khi đó, A Nan không tự biết rằng thân mình ở trên hư không, Đại chúng ngước nhìn A Nan, tin là A Nan có được Vô Ngại Thông, cũng như âm thanh vang tới khắp nơi, cho đến Trời A Ca Ni Tra, tất cả thế giới đều nghe biết.
A Nan bạch Phật rằng: “ Bạch Thế Tôn! Con đã thông báo xong, xin Ngài thị hiện.”
Bấy giờ, Như Lai nhập Từ Mẫn Định, chỉ niệm Tâm Trung Tâm chú, niệm xong dùng ngón út tay phải chỉ về hướng Nam, bấm ngón chân cái xuống đất tức thời thế giới phi thế giới, tất cả Địa ngục đều vọt lên hư không, thế giới bên trên mưa hoa sen báu phá nát Địa ngục, không còn một ai phải chịu khổ, các uế ác đều tiêu trừ, được Pháp nhãn thấy các Như Lai, sau lại thị hiện các thế giới, các Đại Dạ Xoa, vua La Sát, Phạm Thiên Đế Thích, Tứ Thiên Vương, các loài Ngạ Quỷ, A Tu La, Vượng thảy đều đắc thần thông, tức là được Từ Mẫn thiện thông, thương xót chúng sanh đồng như Phật vậy. Lại có Đại thần thông ở trong hư không mưa vi diệu mưa, khiến các loài khởi niệm mong cầu đều được đầy đủ, tật bịnh nặng nhẹ nghe được sức này đều tiêu trừ. Kẻ đói được no đủ, kẻ nóng nảy được mát mẻ, lại có thần thông chỉ trong chốc lát, tất cả chúng sanh thảy đều luận thuyết Phật tâm địa. Lại có Đại thần thông khiến các chúng sanh ở trong thai mẹ hay nhớ biết được quá khứ, tâm địa biết được chỗ sanh ra, biết được mọi việc đã qua, lại có thần thông khiến mười thế giới, tất cả tai họa ác độc vĩnh viễn tiêu diệt. Lại có thần thông phóng ra ánh sáng chiếu khắp thế giới trong mười phương, trong mỗi thế giới đó, Chư Phật Bồ Tát cho đến Thanh Văn, bốn quả Sa Môn đều được sáng rõ không có ngăn ngại, một lúc liền thấy mọi việc khắp tam giới, diệt hết mọi khổ, sống lâu như Phật. Lại có thần thông, ánh sáng hiện ra năm màu, trong mỗi màu sắc có trăm ngàn vạn ức na do tha hằng hà sa hóa Phật, đều đem quyến thuộc, các chúng đại Bồ Tát từ không mà đến, các quyến thuộc kia đều hay luận thuyết các Pháp yếu của Phật Tâm Trung Tâm, đều tự hiểu rõ. Lại có Thần thông, ánh sáng chiếu mười phương cõi nước, làm cho đại địa rung động 36 lần, mặt trời, mặt trăng, sao … thảy đều rơi rớt, chiếu khắp tám phương, tất cả ma và ma dân đều bỏ nghiệp ma, mất hết thần lực, được Phật thông, được Phật thông rồi nhớ lại việc làm, tức cầu xin sám hối, cầu được xuất gia, không một ai có tâm thay đổi. Phật bảo: “Này Thiện nam tử! Ánh sáng của Thần thông này chiếu khắp thế giới, có đại oai đức, đủ tam minh lục thông và bát giải thoát, y pháp mà tu hành, chỉ trong thân này đắc được Phật quả. Vì sao vậy? Vì Chư Phật tâm đồng thời chứng. Vì chư Như Lai đồng ấn khả. Ta, Tỳ Lô Giá Na là Phật Mẫu thường ở nơi đây giữ gìn, có nguyện cầu tự ấn khả, tự mãn nguyện, tự gần gũi, tự vì tất cả làm Thầy quán đảnh. Có người cầu học, tự lại làm chứng, biết được Phật tâm khiến Chư Thiên đều lại cúng dường, khiến các Bồ Tát Kim Cang Tạng Vương Mật Tích vì đoạn tai biến thường che chở vậy. Lại khiến thiên hạ thường lại vi nhiễu, cho đến trong thế giới tất cả các kẻ hóa hình, biến hình, dấu tích, ẩn tàng thường lại ủng hộ; Phạm Thiên Đế Thích, các Thiên chúng thường lại phục tùng, Bạt Đà Quỷ tử mẫu, ác quỷ thần, các loại phi hành thảy đều thuận phục. Cần y như Pháp, y theo Phật tâm để đắc Phật tâm, cần được chứng nghiệm không dùng Pháp khác, tức hay thành tựu Pháp này.”.
Bấy giờ A Nan bạch Phật rằng: “Thế Tôn! Như vậy tâm Pháp này Phật tự giữ, dùng đại thần thông tức được như vậy, cho đến Chư Bồ Tát Kim Cang chưa đạt Phật hạnh, chưa tới chỗ Phật tức cần phải học, bền vững nhất định không lui sụt tức đắc Bồ Đề, còn như các hạ căn muốn cầu làm sao đến được? Phật lực oai đức rộng lớn khó lường, lao tâm khổ nhọc, nhẫn chịu gian khổ mới thành, nay làm sao có thể khiến cho chúng sanh tu học Pháp này, làm sao được như Pháp, làm sao chứng nghiệm, làm sao thấy hiểu? Sự lo lắng của chúng sanh là như vậy, lấy Pháp nào hiểu được Chánh Tà, lấy Pháp gì khiến cho Ma Vương, các đại ác vương biến quái tự điều phục, lại lấy Pháp nào mau chứng Phật tâm? Con nghe trong Khế kinh nói cần lâu khổ nhọc, đầy đủ các độ mới mong chứng được. Con nay không hiểu, mong Phật vì con mà nói tất cả Pháp yếu, chứng nghiệm thành Phật, cho thế gian cùng biết.”
Phật khen A Nan: “Lành thay! Lành thay! Nay ông muốn biết, hãy lắng nghe kỹ, nay Ta sẽ nói. A Nan! Phật Tâm này ở thế gian ai là người hiểu được, ai biết được, ai là người thực hành mà không nghi, ai có thể cho đến khi chết sống mà biết được hết? Chỉ có Phật với Phật mới có thể biết được việc này. A Nan! Tâm chú này cần phải có lòng từ bi, ngày đọc 1000 biến, mãn 100 ngày, Phật lực tự thành, các việc làm đều thành, sức lực của Bồ Tát Thập Địa còn không có thể hơn được. Lại có một Pháp muốn biết chứng nghiệm, tụng 10 vạn biến xong ngậm một miệng nước trì 100 biến, làm việc gì phun nước đó tức thì các khổ tiêu diệt, nếu trừ được tức là có hiệu nghiệm. Trì cho đến 100 vạn biến, núi cũng phải đổ, các tội đều trừ. Nếu trong thế gian có các tai ách, các việc không lành, mỗi sáng sớm phun một miệng nước mãn 3 ngày tức diệt, hay hộ Đại Thiên thế giới, Địa và hư không. Nếu muốn biết tà, chánh, dùng một cái kiếng bằng đồng không cần lớn nhỏ chú vạn biến đem theo mình, mọi việc chánh tà đều biết.
Nếu muốn biết tâm niệm của kẻ khác, tâm Phật, tâm Bồ Tát, tâm Kim Cang, tâm Chư Thiên, tâm của bốn quả Thánh nhân, tâm Long Vương bốn biển, tâm vua Trời, tâm của Mặt trời, Mặt trăng, sao, Dạ Xoa, La Sát, tâm tất cả các loại quỷ thần, cho đến tâm của tất cả các loại ẩn hình ấu tích và tâm của tất cả chúng sanh trong thế gian này cùng chỗ suy nghĩ của họ, như trong Kinh Pháp Hoa nói, công đức trang nghiêm của sáu căn thảy đều chứng được. Cho nên, Phật tử, phàm phu, Bồ Tát, Kim Cang … cần nên tu Pháp này, ngoài ra không có Pháp khác.”.
A Nan lại bạch Phật rằng: “Thế Tôn! Như muốn tu Pháp này, Đàn Pháp phải như thế nào? Cây thuốc phải như thế nào? Hương hoa, màu sắc cúng dường như thế nào, làm sao biết được? Xin Phật dạy cho!”.
Phật bảo A Nan: “ Ông nên biết, hỏi như vậy là đúng thời, nhưng là điên đảo mà hỏi, nếu không sao lại hỏi như vậy. Tâm Phật là tùy sắc mà sanh, không còn các chấp như chấp Tà, tướng, tự ngã v.v... chỉ do tâm Pháp mà được chân thật tế. A Nan! không có một Pháp duyên nào mà đến chỗ Như Lai được, như tâm không có cảnh nào khác, chỉ có Chân như.
A Nan! Nếu tất cả các sự pháp làm được Phật, thì đâu cần phóng đại quang minh nơi thân tâm. Nếu thân tâm còn có mắc một Pháp thì không thể được gì. Vì sao vậy? Xưa Ta ở nơi địa vị phàm phu tại núi Ni Khư La, thấy các chúng Tiên làm các pháp thuật, Ta
lúc đó mới được chú này. Các chúng Tiên không biết cho Ta là kẻ ác, mới dùng tất cả các ác chú để hàng phục Ta, nhưng tất cả thần lực chỉ tổ lao nhọc mà không làm gì được. Bấy giờ, Ta mới bảo các Tiên rằng: " Nên biết Thần lực của các ông dầu cho hết đại kiếp này cũng không làm hại được Ta, chuyện đó không bao giờ có được." Các Tiên đều lại hỏi Ta rằng: " Người được Tha tâm trí sao? Làm sao biết được là chúng ta hại Người? ".
Ta đáp rằng: "Các ông cho Ta là ác nhân nên lấy cỏ bện làm hình người ở nơi góc giếng kia dùng đao mà chặt, thì Ta sẽ chết, không thể nói được các việc làm của các ông".
Khi Ta nói rõ như vậy, các Tiên thảy đều tiều tụy, lại đảnh lễ Ta và hỏi rằng: ‘Thánh giả làm sao biết được?’. Ta bảo các Tiên rằng: ‘"Vì các ông là vọng, Ta là chân; các ông là tà, Ta là chánh; các ông thấy có, ta thấy không ; các ông là nhành lá, Ta là gốc rễ; các ông là hư, Ta là thật; các ông dua nịnh, Ta là chân tín; các ông từ nơi Ta mà sanh ra, làm sao con lại hại cha mẹ được, cành lá làm sao hại được gốc rễ, như hư vọng làm sao hại được chân thật, lửa đom đóm làm sao sánh được mặt trời, nắm đất làm sao lấp được biển, độc dược làm sao tiêu được nước cam lồ, La Sát làm sao hại được Phật thân, con kiến làm sao lay được núi Tu Di" .
Bấy giờ, các Tiên nghe Ta nói vậy rất tức giận, dùng tất cả Pháp thuật bao vây Ta để đấu lực. Khi đó, trong phút chốc Ta thầm niệm trong tâm, thổi một hơi lên trời tụng chú 7 biến, mây đen bao phủ cả hư không, mặt trời mặt trăng mất hết ánh sáng, tinh tú biến mất ; ta lại thổi nơi đất, tức thời đất lung lay không vững. Trải qua 7 ngày, Ta lại dùng tâm triệu thỉnh mười phương Phật, tức thời mười phương lại trên đỉnh Ta, thời thân Ta khiến tất cả đều đồng một thể, chỉ có Ta và Chư Phật hiểu thấu được. Sau đó, Ta dùng mắt xem khắp mười phương. Các Tiên lúc đó hết kế, sợ sệt đảnh lễ cầu qui y nơi Ta, sám hối các tội, cầu xin cứu hộ khiến được an ổn. Ta liền dùng Phật tâm mà quán khiến hết sợ sệt, lại trao cho Pháp Phật Tâm Trung Tâm khiến được thần thông. A Nan! Tất cả tâm pháp cùng mười phương các ác, Tâm pháp là chủ. Nếu người cầu pháp sự và phi pháp sự tức là Pháp thế gian và xuất thế gian, không y nơi Tâm pháp mà được thần thông là điều không có được.”.
Bấy giờ, A Nan lại hỏi Phật rằng: “Như trên có nói Định ấn, vậy Ấn ấy ra sao? Cúi xin Ngài vì con mà nói Pháp ấn!”.
Phật bảo A Nan: “Lành thay! Hãy lắng nghe! Trước hết, ngồi kết già phu đọc Tâm chú 7 biến chú nơi tay, sau mớí kết Định ấn.Tay trái ngửa để nơi rốn, tay phải ngửa đặt lên lòng tay trái, mười ngón ngay ngắn, ngón giữa bên phải nắm ngón cái vằn trên tức thành. Nếu tụng chú 108 biến 3 lần cử thân, thì trên đất, hư không cho đến Ba mươi ba cõi trời sanh lòng lành, tất cả các Đại ác vương hay hại hoặc làm chướng ngại người thảy đều niệm Phật, không lòng phỉ báng. Tất cả chúng sanh được tâm Phật, Bồ Tát nên không còn thối chuyển, nhớ được túc mạng. Như Lai thường dùng Ấn này chiêu người không có duyên, thường dùng Ấn này khiến cho đại địa 36 lần lung lay. Ấn này công lực không thể nói hết, tu tập tự biết lấy.”.
Khi đó, A Nan bạch Phật rằng: “Như Lai sở trì như vậy, còn người chưa được tâm Phật, làm sao trì được? Con thấy các loại thuốc hoặc thơm hoặc thúi, các thứ nước hoặc dơ hoặc sạch, mặt trời mặt trăng hoặc sáng hoặc tối, các người tu hoặc phàm hoặc Thánh, hoặc Phật hoặc Ma, hoặc tưởng hoặc tượng, hoặc có hoặc không, hoặc an hoặc nguy, hoặc đúng hoặc sai, các việc như vậy có đến trăm ngàn loại v.v... là do định kiến điên đảo huyễn hóa bất nhất. Vì sao Như Lai nói phàm phu đồng Phật trì, nếu được Phật trì nhất nhất đều là việc Phật, nếu không được Phật trì nhất nhất đều là Ma nghiệp. Tại sao Như Lai nói các phàm phu đồng một Phật tâm?”.
Phật bảo A Nan: “Lành thay! Lành thay! Như phàm phu nếu hay trì giới, thì tâm này đồng tâm Ta, lực tức bằng Ta, nếu không được vậy Ta vào sanh tử trong sáu nẻo luân hồi, những chỗ nói ra dạy để người thảy đều là hư vọng dối gạt chúng sanh sao? Vậy, Ta tức là Ma không phải là Như Lai. A Nan! Nay ông nghi ngờ, nghe Ta nói đây. Nếu có chúng sanh hay trì Pháp này tức là tâm Như Lai. Tâm Như Lai ẩn chứa trong người này, nên biết người này là Như Lai nhãn, tất cả huyết mạch cùng đồng với Phật; nên biết người này là Như Lai đảnh, trên đảnh Như Lai đặt để người này; nên biết người này là tâm Như Lai, tâm tạng Như Lai phụ thuộc người này; nên biết người này là Như Lai y, các Phật trong quá khứ hộ giúp người này cứu độ thế gian; nên biết người này là Như Lai thọ, tức là Phật vĩnh kiếp không hoại; nên biết người này là Phật Kim Cang Sơn, giả sử thế giới trăm ngàn vạn ức tai biến đồng thời xuất hiện, đại địa ngửa nghiêng, tất cả núi non, sông biển, núi Mục Chân Lân Đà, núi Thiết Vi, núi Đại Thiết Vi cùng mười núi báu một thời sụp đổ, long tạng vọt lên, trời đất tiêu mất, trăng sao rơi rụng, chúng sanh tận diệt, người này không bị tiêu hoại, không bị các ác sai khiến vì được Chư Phật gia hộ giữ gìn, ở nơi áo Phật được che dấu, được an thân dưới lọng của Bồ Tát, được tất cả các Kim Cang vâng lời Phật ủng hộ vậy, tất cả thảy đều cung kính. Nếu thường thọ trì nên biết người này đắc được Phật thân không sai. Này A Nan! Đừng sanh lòng nghi, vì nếu có chúng sanh trì Pháp này không được thành Phật, Ta tức thối vị đọa vào A Tỳ Địa ngục không có ngày ra khỏi, thân thể ra máu khắp cả đại địa, mặt trời mặt trăng không hiện, tinh tú biến mất ”.
A Nan nghe Phật dạy xong, thân tâm không biết nương đâu. Như Lai thấy A Nan hối hận, mới nói kệ trừ nghi rằng:
Cảnh giới của Chư Phật Hàng tiểu căn không hiểuLời Chư Phật xưa nay Bồ Tát còn không thấuThần thông của Chư Phật Cảnh giới có cùng không Chư Như Lai từ trước Đồng ở một tâm nàyTâm này là Không tâm Phật tức là Tâm nàyNếu người theo tâm này Không cần lìa thế gianTâm Phật đời Quá khứ Hiện tại cùng Vị laiCùng các vị Bồ Tát Thân của chúng Chư ThiênHạng phàm phu hạ tiện Nếu hay trì được tâmMau chứng Vô sanh nhẫn Như không ở thế gian.Chúng Bồ Tát Thanh Văn Cùng Tứ quả Sa MônCho đến Chư Phật vậy Đều do Tâm đây sanh.
Trì giới được đầy đủ Tín thí được quả báo Thường nghĩ không xao lãng Khắp nơi mọi chỗ sanhVui vẻ được kính ngưỡng Khi nói lời dạy dỗĐều do biết Tâm Phật Niệm niệm được quả báoTất cả do đây sanh Hết thảy Chư Như LaiNói không thể nào hết Thần lực của Đức PhậtLại có vô lượng phương Khắp tất các phươngLại có vô lượng Phật Tất cả thần túc Phật Đều sanh từ Tâm Phật Tất cả trong Tâm Phật Đều nhập vào trong Tâm Như vậy Tâm Trung TâmPhật bảo không thể nói Hết thảy không cùng tậnSanh ra là như vậy Thế gian Có hoặc Không Xuất thế Không xuất thế Các phương tiện thiện xảoCùng lời lẽ nói ra Bí mật Đà La Ni Định Tự tại Tha tâm Trí Quá khứ Hiện tại Thành quả vị Vị lai Đều do từ đây ra.Ma vương hay Chuyển Luân Trời Phạm Thiên, Tự TạiNhững vị có thần lực Đều do Phật Tâm chuyển Tà thuật cùng chánh ấn Thấy nghe đều biết rõ Lực Thánh tâm như vậy Thông khắp mọi cảnh giớiCũng từ đây sanh ra Như Lai ấn đạo chúngHàng ma, độ phi nhân Các Thần biến tự tạiĐi vào các cảnh giới Trừ các khổ chúng sanhChấn động các thế giới Theo duyên mà nhập, độThương xót cả mười phương Đều do từ đây ra.Tất cả loài chúng sanh Làm mọi việc phước thiệnĐược thành tựu hay không Trí Tha tâm tự tạiBiết được sanh nơi đâu Tất cả trong mười phươngKhắp tất cả chúng sanh Nghe lời đều tin PhậtTướng lưỡi dài rộng này Cũng là do đây sanh.Mười phương các cõi nưóc Khắp tất cả các nơiCho đến trăm ngàn cõi Mỗi mỗi trong các nơiĐều có vạn thế giới Vô lượng các chúng sanh Nghe Phật nói đều tin Tướng lưỡi dài rộng nàyCũng đều do đây sanh. Trời Quang Âm Biến tịnhCùng các thế giới khác Có hình hoặc không hìnhThảy đều có Phật tánh Hữu lưu và vô lưuTrong hư không các loài Tùy hình mà thay đổiNghe theo đều tin Phật, Loại Xiển đề, Bất tínNhờ Pháp không thoái lùi Đầy đủ các nhân duyênCác loại này chúng sanh Thừa quang mà xuất lyCũng do từ đây sanh. Loài phàm phu hạ tiện
Nếu trì chú Phật Tâm Thảy đều đồng như PhậtĐủ sáu Ba La Mật Đắc được đại thần thôngBiến chiếu các cõi Phật Đầy đủ sáu thần thôngLời nói đồng như Phật Khi dở bước hạ chânĐều là đại thần biến Nói đúng hay nói saiĐều giống nhau không khác Phật hay không phải PhậtChỗ nói Trí Như Lai Phàm phu các việc ThánhPhát niệm đến Bồ đề Tất cả các quả vịĐều là do Phật tâm ".
Phật bảo A Nan:" Trừ Nghi Kệ này như hoa hư không, dùng thần lực của Phật khiến tại hư không có lọng của Bồ Tát, ở dưới lọng có trăm ức hằng hà sa thế giới bất khả thuyết thế giới vô lượng các Hóa Phật, lại có vô lượng bất khả thuyết vô lượng các Pháp thân Phật, lại có vô lượng bất khả thuyết vô lượng Báo thân Phật, tất cả quyến thuộc đều là các Bồ Tát đứng đầu hoằng truyền đạo Pháp, lại có vô lượng bất khả thuyết các Bồ Tát, mỗi mỗi Bồ Tát có vô lượng quyến thuộc đều là thầy dạy đạo trong nhân gian, đều là Tam địa, Tứ địa, Bát địa vây quanh. Như vậy Chư Phật, Bồ Tát, Thanh Văn, Duyên Giác, bốn quả Thánh, tất cả chư Thiên Tiên vô lượng thế giới,Tứ Thiên Vương, Phạm Vương, Đế Thích, A Tu La, các Dạ Xoa, La Sát, Quỉ thần, các vị có đại oai đức đại thần thông, đại hộ niệm, đại từ bi, đại tự tại v.v… đoanh vây nơi lọng, giữ tâm bất thối, thọ Phật Tâm Pháp. Lại có bất khả thuyết các Địa thần cầm các hoa sen ngàn cánh đem dâng chân người trì chú, phóng ánh quang minh nơi thân có màu vàng kim, tất cả chúng sanh thấy quang minh này đều dứt Hữu lậu nhập vào Phật định, thấy tất cả trong Đại thiên thế giới các nhân duyên, các sự nghiệp do đâu mà ra, thảy đều hiểu biết tường tận".
Bấy giờ, A Nan dùng kệ khen Phật:
Lành thay Thầy ta Thích Ca Văn!
Một lời trùm cả Đại thiên giới
Duy chỉ một lời cứu độ khắp
Tất cả chúng sanh không hay biết
Lành thay Như Lai tự tại quang!
Là tốt hay xấu đều chiếu khắp
Từ tâm tuôn chảy nước Cam lồ
Tẩy rửa được sạch không hay biết
Lành thay Vô úy tự tại tâm!
Thường đem vô úy ban cho khắp
Cọp, Voi, Rồng độc đều điều phục
Tự nhiên sanh bi mà không biết
Lành thay Vô Úy Thần Thông vương!
Nói ra Đại thiên đều rung động
Tất cả thảy đều lại qui phục
Qui phục nhưng mà vẫn không hay
Lành thay Vô lượng từ bi tâm!
Thường đem từ bi cứu các loài
Tất cả thảy đều nghe Phật Pháp
Lành thay Vô Lượng Thiện Tạng vương!
Hay dùng Tài pháp cho chúng sanh
Ai được thọ trì thảy thành tựu
Thế mà kẻ kia vẫn không hay
Lành thay Vô Lượng Bảo Tàng Vương!
Hay dùng bảo tàng che thế giới
Làm cho chúng sanh ra khỏi khổ
Tuy được thoát khổ mà không hay
Lành thay Vô lượng Đại Pháp thọ!
Bóng mát che khắp tam thiên giới
Làm cho tất cả đều mát mẻ
Được lìa nóng bức mà không hay
Lành thay Vô lượng đại phát cảnh!
Chiếu soi phá mọi chốn tối tăm
Khiến từ nơi tâm phát trí huệ
Thế nhưng kẻ kia vẫn không hay
Lành thay Như Lai chỉ một lời!
Ai nghe cũng đều được một vị
Nhưng lại thấm nhuần khắp chúng sanh
Cho nên gọi là Đại từ bi
Chúng con hạ tiện trí phàm phu
Muốn dùng tất cả lời xưng tán
Đầy đủ lòng thành xin dâng lên
Xin nguyện Thế Tôn thương xót nhận.
Sau khi, A Nan khen Phật xong, lại bạch rằng: “Con nay xưng tán Như Lai, Thần đức của Thế Tôn con không nghĩ suy được, thần lực như vậy, tự tại như vậy đều quyết định, con chưa từng nghe thấy, vì sao hôm nay, Như Lai lại nói ra? Từ lâu Ngài đã biết chúng sanh căn tánh thấp hèn, khó có thể học được, nhưng sao trước đây Ngài không nói?”.
Phật bảo A Nan: “Tâm Trung Tâm của Ta đây thường ở trước Ta. Khi Ta chưa ra đời, Tâm này đã có. Khi Ta chưa thọ sanh, Tâm này đã thọ sanh.Ta chưa được định tâm, Tâm này đã được Định. Như vậy, Định, Huệ, Lực là trụ xứ của Phật, là chỗ Phật ở, là chỗ Phật làm, chỗ Phật suy nghĩ, chỗ Phật hiểu biết, chỗ Phật làm Đạo, chỗ Phật quyết định. A Nan! Tất cả Bồ Tát, Kim Cang, Chư Thiên, phàm phu, các loại quỷ thần, Dạ Xoa, La Sát, Tinh tú, các loại huyễn thuật Ma vương, tất cả các loài như vậy nếu làm theo Tâm Ta tức được thần thông; nếu không làm theo Tâm Pháp này mà ham muốn đắc thần thông là không bao giờ được.”.
A Nan lại bạch Phật rằng: “Tâm của Như Lai, Bồ Tát Thập địa còn không thể biết, nếu có kẻ biết được thì đã là Phật; nay chúng sanh đều là hạ tiện, tâm không hiểu rõ các Nhân duyên tướng loại”.
Phật bảo A Nan: “Nay Ta sẽ đem các tướng loại Nhân duyên Tâm Trung Tâm vì người mà nói, không lìa chúng sanh. Tâm này có 12 loại và như thế nào là Phật Tâm Trung Tâm.
* Một là, tự tâm ở trong Khổ thấy chúng sanh khổ muốn cứu vớt, có Tâm quyết định thương xót chúng sanh, tự thân có Khổ mà không lìa Khổ hoặc tự thân không thấy chúng sanh khổ, nơi các Pháp không đắc được. Hay thấy chúng sanh khổ, cứu vớt họ khiến cho mau được xa lìa khổ là Tâm Phật thứ nhất.
* Hai là, xem các Khổ trước mặt mà không thối chuyển,Tâm không thay đổi bất định, tự thân có Khổ cũng như vào Tam muội, nếu có các loại phiền não nhiễu hại tưởng như ở Định Tứ Thiền, tất cả oan gia đều tưởng như cha mẹ. Muốn cứu các Khổ, phải tưởng các kẻ khổ kia như con cháu trông cầu cha mẹ, tức là Phật Tâm thứ hai.
* Ba là, tưởng Tâm mình như Tâm người, Tâm người như Tâm mình, cho đến tất cả thân phần, mong muốn của mình cũng như của người, của người cũng như của mình; tất cả các Tà tâm, Chánh tướng, các Pháp bảo cũng như thân mạng, tam quang cũng như mắt mình, cho đến thuốc thang, đồ ăn uống, bệnh khổ … thảy đều tưởng như trên, đây là Tâm thứ ba.
* Bốn là, chỗ Phật niệm tưởng là Phật, Ta thường ở nơi đó không xa lìa như vua Trời Tỳ Sa Môn chắp tay lễ tháp Xá Lợi, như mười Kim Cang Tạng cùng giữ một châu Kim Cang, như mười thế giới Thần Bạt Chiết La cùng giữ một chày Bạt Chiết La, như mười thế giới xem một ánh sáng mặt trời, cũng như mười thế giới chúng sanh cùng một thế giới, tức là Phật Tâm thứ tư.
* Năm là, tất cả lời nói của Phật thuyết Pháp, ấn khế, thần thông, các thứ thần lực lớn nhỏ, cho đến tư tưởng hoặc nhỏ hơn như suy nghĩ, luôn luôn không hề ngủ nghỉ, thân phải như Pháp trọng Đại Thiên thế giới, kẻ tin hay không tin đều không thể làm hại dù trong giấc ngủ, là Phật Tâm thứ năm. Nếu được như vậy tức được Ngũ nhãn Thanh Tịnh, thấy rõ các thế giới.
* Sáu là dùng Lục Độ để nhiếp Tâm, nhập Từ Mẫu Định nhiếp Tỳ Na dạ Ca làm sáu loại Thiện Trí Thức:
- Thứ nhất : Loại Tỳ Na Dạ Ca tên là Vô Hỉ, loại này thường khiến Tâm vui giận không định, ham làm các Pháp sát hại, nên dùng Sằn Đề Ba La Mật khiến vào Từø Mẫu Định, làm Trì Nhẫn Vương
- Thứ hai : Tỳ Na Dạ Ca tên là Huyễn Hoặc, loại này tới thời Tâm phiền không định, không quyết định các Pháp và chúng sanh, khi bị như vậy dùng Thiền Ba La Mật nhập vào Bất Động Trí
- Thứ ba : Tỳ Na Dạ Ca tên là Vọng Thuyết, loại này lại thời khiến hay vui vẻ, ham thích tâng bốc, sanh lòng quyết định những việc kỳ lạ, hay tin tưởng vào lời nói ngông cuồng, chỗ thanh tịnh lại hay sanh Tâm tham dục,Tâm đắm nhiễm khiến cho điên đảo, tức dùng Thi Ba La Mật nhiếp làm Thiện Xảo Phương Tiện.
- Thứ tư : Tỳ Na Dạ Ca tên là Chấp Phược, loại này tới thờng khiến hành giả kính lễ Ma Vương, Tỳ Na Dạ Ca thường cùng hành giả và tất cả Ma Vương làm bạn bè,
hiện oai thân to lớn khiến cho quy y, nhiếp cho Tâm tin chắc; biết vậy tức dùng Tỳ Lê Gia Ba La Mật mà nhiếp làm Đại Lực Phương Tiện Vương
- Thứ năm : Tỳ Na Dạ Ca tên là Khổ Ý, thường khiến người sanh tâm hy vọng, tu hành chỉ lo cầu tài vật, trước dùng tài tâm sau đó ban cho tiền bạc cùng với vua Ngạ Quỷ ở nơi đồng trống, người này tâm thường không biết đủ, vì không biết đủ nên tất cả thần lực bị mất, tức dùng Đàn Ba La Mật nhiếp hiệu là Đại thí Chủ Vương, từ khi nhiếp phục, tâm tham tức trừ.
- Thứ sáu : Tỳ Na Dạ Ca tên là Tác Vi, loại này dến thì chỉ nói việc phi pháp, không có Chánh trí, vọng sanh các Pháp tướng, không lợi cầu lợi, ham làm các lý luận kỳ lạ, muốn trở thành Đạo sư. Ở trong Chánh Pháp, sanh tâm chê bai, nên dùng Bát Nhã Ba La Mật mà nhiếp phục làm Trí Huệ Tạng Vương. Lại có Tỳ Na Dạ Ca tên là Đoạn Tu, loại này thường làm tất cả tâm niệm đều tận, lại sanh các bệnh ham ưa ngủ nghỉ, phát động ngoại ma làm nội chướng, khiến người sợ sệt, khởi nhiều vọng kiến, suy nghĩ nhiều Pháp lạ kỳ. Các thứ như vậy, đều dùng Vô Úy mà nhiếp phục, chỉ dùng Đại Bi nguyện làm quyến thuộc, kẻ đó tức tự thần phục, thần phục rồi không nên trách mắng, dùng làm Tâm thứ sáu.
* Bảy là, ở nơi Thất Bồ Đề phần, cần tu học có các công đức thường ban thí hết, để nhiếp khắp tất cả Khổ chúng sanh, thân luôn thọ trì khiến tất cả chúng sanh nghe hiểu biết, để xa lìa ma cảnh.
* Tám là, ở trong Bát Thánh Đạo cần phải tinh tấn tu, thường sanh Thập tín, giữ hạnh Thập Thiện, không nói lỗi người khác, hoặc khen mình chê người, làm ơn không mong báo đáp, thường hay Bố thí, giữ gìn Pháp không mệt mỏi, y theo giáo Pháp không mất bổn tâm.
* Chín là, không nghi Pháp, không ngã mạn, không tăng thượng, không chấp trước, không lừa dối, thường hành chân thật, tất cả các nguyện gì khi tu thảy đều nhớ biết, luôn luôn hộ trì Phật và Tăng bảo, lễ các tôn tượng không được khinh mạn, tất cả đều y như Pháp.
* Mười là, đầy đủ Thập Tín: một là tin Phật thường ở nơi đời có đại diệu dụng thần thông; hai là tin Pháp sâu mầu có sức đại phương tiện, có quyết định lực; ba là tin Phật thương xót tất cả chúng sanh hay nói các Pháp yếu để trừ diệt khổ; ( Bốn? Trong Kinh không có ghi ); năm là tin Phật ở nơi đời ngũ trược, thường hiện từ quang; sáu là tin Phật trong Lục tặc như cha mẹ; bảy là tin Phật nơi Thất khiếu thường nói Phật âm; tám là tin Phật nơi 62 kiến không có thương ghét; chín là tin Phật nơi đời ngũ trược thường độ chúng sanh, nói tâm vô ngại không có bờ bến; mười là tin Phật, Bồ Tát và các Kim Cang thường hiện thần lực để hóa độ chúng sanh thảy đều thành Phật .
* Mười một là ở nơi các Pháp, các lời nói luận nghĩa, biện bác không được khen chê, phải thận trọng, không bỏ giàu nghèo sang hèn, luôn tưởng nghĩ Bồ Tát như trước mặt, tất cả sợ sệt từ từ mà hết, nhờ Chư Phật Bồ Tát tự nhiên tiêu diệt.
* Mười hai là, xem xét tự thân nếu có chút kiêu mạn thời phải biết lấy, nếu có oán ghét thường tự bỏ, thân nhiều mạn thì phải điều phục, nếu nhiều tham cũng như cầm lửa, nếu nhiều dục thì tưởng như thịt thúi, nếu nhiều cấu uế thường tưởng bạo ngục. Nếu thường xem xét như vậy, tức là Pháp quyết định Phật Tâm Trung Tâm, do Phật tâm khiến vô ngại”.
Bấy giờ, A Nan bạch Phật rằng: “Thế Tôn! Như vậy, Phật Tâm Trung Tâm tức là cảnh giới của Phật sao? Cảnh giới chúng sanh sao? Nếu như cảnh giới chúng sanh đồng với 12 Tâm, thì đây không phải chổ tâm chúng sanh. Nếu chúng sanh làm được như trên, thì không có gì phải nghi, nhưng làm sao chúng sanh có thể làm được như vậy?”.
Phật bảo A Nan: “Cứ thọ trì đi, mười phương sẽ làm chứng, ông không thể biết được. Các ông muốn hiểu Phật Tâm Trung Tâm sao?”.
A Nan liền bạch Phật rằng: “Thế Tôn! Như vậy Pháp khế nói không có sai. Nay con xin hỏi, Phật có đồng ý không?”.
Phật bảo: “Ông muốn gì, cứ tùy ý mà hỏi!” .
A Nan thưa với Phật rằng: “Nếu như có chúng sanh muốn cầu thoát Khổ, muốn cầu hàng Ma, muốn cầu nhiếp trì, có Pháp nào khác hay là chỉ có Tâm Trung Tâm thôi? Nếu dùng Tâm Trung Tâm thì cách thức ra sao?”.
Phật bảo: “Ông muốn biết, hãy lắng nghe đây! Nay Ta vì người nói Tùy Tâm Đà La Ni, tức nói Chú rằng:
- Úm ma ni đạt rị hồng phấn tra
( OM - MANI DHÀRE HÙM PHAT )Ï
Nếu người thọ trì không cần chọn ngày giờ, tháng, năm, sao, không cần trai giới, chỉ ở trước Như Lai hoặc trước Tượng, trong Tịnh thất hoặc trước Tháp Xá lợi, tùy ý dùng các loại hương hoa cúng dường. Ngày Rằm, tắm rửa sạch sẽ, mặc quần áo mới, tùy theo sức mà sắm các món cúng dường, vì Hộ Pháp cần ăn ba món bạch thực. Làm một Đàn vuông lớn nhỏ tùy ý, treo đèn phan, tụng Tâm Trung Tâm chú và Tùy Tâm Chú mỗi thứ 1080 biến, ngay nơi chân tượng nằm ngủ sáng chiều; Như Lai liền vì hiện thân, các vị Thánh Kim Cang cũng đều hiện thân, mười phương Bồ Tát Chư Thiên đều lại vi nhiễu, tất cả các nguyện đều được đầy đủ. Nếu trong thân tự biết có xúc phạm hoặc là có trọng tội, tụng đến vạn biến tức được thân quang minh thanh tịnh của Phật, cho đến tất cả các Pháp nếu tụng trăm vạn biến không gì là không biết, không có Pháp trì khác. Nếu có các tượng hay làm người sợ sệt, chỉ dùng ngón giữa tay phải co vào trong lòng bàn tay, lấy ngón cái đè móng ngón giữa, đọc thầm Tùy Tâm Chú không quá 100 biến tự nhiên hàng phục, độc hại hỏa tai dùng hơi thổi tức trừ, lại hay trừ diệt các việc khó trừ khó diệt. Nếu có tất cả các việc chướng ngại, lấy hai tay chắp lại, hai ngón trỏ hai ngón vô danh câu nhau bên trong, các ngón kia dựa nhau trong lòng bàn tay đâu mặt, hướng bốn phương mỗi phương tụng 108 biến, tội cấu tiêu trừ chướng nạn đều diệt. Nếu có Tỳ Na Dạ Ca
muốn điều phục tức điều phục, nếu không chịu phục dùng ngón chân phải bấm xuống đất tụng chú 108 biến, Tỳ Na Dạ Ca bảy lỗ ra máu liền hàng phục. Mười phương thế giới các vị Thông linh và các Tiên trì chú, bốn bộ Vệ Đà và tám Tạng ở nơi Long Cung có các Pháp bí mật, các loại hữu tình tùy tâm kêu gọi thảy đều thuần phục, trừ làm Ác Pháp là không được. Nếu muốn cầu các hương Trời để cúng dường, ngửa mặt lên trời tụng 108 biến, hương tức xuống. Muốn đến cảnh giới của Phật Bồ Tát ở quốc độ trong mười phương, dùng ngón giữa chỉ lên trời kêu Ma Hê Thủ La cùng đi theo, các cõi Trời không dám vào; khi lâm chung, mười phương Chư Phật đến trụ trên đầu dẫn đến các thế giới của Chư Phật. Muốn cầu thân này không diệt, tức cảnh giới của Phật, tụng cho đến 10 ức biến, liền được sống lâu cùng trời đất. Trừ không chí tâm, nếu chí tâm mà không được, Ta tức vọng ngôn, tất cả Kinh giáo đều là ma nói không phải Phật nói.
Lại có Pháp muốn cầu tiền tài, lấy đồng tiền đồng để nơi tiết giữa chú thầm 108 biến lấy chỉ vào nơi tim người kia, người đó liền cho, tùy miệng mình xin. Nếu muốn kêu gọi quan, chúa, phi hậu v.v... lấy một cụm hương thơm tốt, viết tên kẻ kia đem để nơi ngón trỏ, chú 1080 biến, kẻ kia tức lại. Nếu cần các thứ lúa gạo … lấy ba thứ để nơi ngón giữa, y Pháp trên tức được tùy ý. Nếu muốn mọi người hoan hỷ, co ngón giữa để vào miệng chú 108 biến lấy ngón đó chỉ, người kia tức vui vẻ thuận phục. Lại có một Pháp muốn kêu các Rồng lấy nước giếng, chú 1000 biến đem rảy nơi nước có Rồng, Rồng kia tức lại cung kính. Lại có Pháp, nếu Trời không mưa, lấy Long não và nước giếng một hộc, chú 1000 biến giữa trưa rồi để ra ngoài nắng, tức có Rồng trắng từ trong nước vọt ra, trời liền mưa; nếu mưa nhiều, dùng đất màu vàng hoặc đỏ, trên giấy vẽ một con rồng, chú 1080 đem quăng xuống giếng, tức có Rồng đỏ vọt lên, trời liền tạnh.
Lại có Pháp dùng bơ 1 cân, chú 1000 biến tùy theo hướng gió mà đốt, các loại lúa má ruộng đất được tốt tươi. Lại có Pháp, nếu trong thế gian có các bệnh tật, lấy giấy đỏ vẽ hình sao Chổi chú 1080 biến, bệnh tức trừ, sao này có 6 sao nhỏ hợp thành. Lại có Pháp, nếu trong nước có nạn đao binh nổi lên, bốn phương không yên, lấy một cây đao chú 1000 biến, tùy hướng có giặc mà chỉ tức có thần binh hiện, các nạn ngoại xâm đều được tiêu trừ. Lại có Pháp, nếu muốn tập các thứ nghề nghiệp, văn chương, công xảo, nội kinh, ngoại điển, các thứ huyễn thuật, cảnh giới chỗ làm của Chư Phật, Bồ Tát, Kim Cang, thì mỗi sáng chiều chú 1000 biến, qua 100 ngày không gì là không biết. Nếu muốn được báu của Hải Long Vương, Chư Phật, Long Tạng thọ ký, cần thiêu năm loại hương: Đàn Hương, Trầm Hương, Huân Lục Hương, Long Não, Tất Lực Ca … Vào ban đêm thanh tịnh, tụng chú mặt ngó bốn phương, mỗi phương 1080 biến, bấy giờ Long Vương chủ bốn phương đem các vật báu tự đến cho.
Lại có Pháp, cần các báu nơi đất để dùng làm các việc Công đức, chỉ nói rằng: ‘Ta cần báu này để làm các việc Công đức", sau đó lấy chân đạp xuống đất, chú 1080 biến tức thời mười phương Địa thần cầm các báu đem dâng cho, tùy ý sử dụng; nếu vì danh lợi hoặc dùng các việc ác thì không được. Lại có Pháp, nếu có người ghét nhau, dùng năm thứ hoa, chú 108 biến rồi viết chữ Phật vào mỗi loại, tức tự hòa thuận thương yêu. Lại có Pháp, nếu người trước đã trì các chú mà không có hiệu nghiệm, nên lấy áo của người đó chú 1000 biến đem đi để nơi tòa Phật qua 7 ngày, xong lấy mặc vào, sau đó tất cả các Pháp yếu đều được hiệu nghiệm, chư Bồ Tát và Kim Cang Tạng tự nhiên thần phục, sai sử mau chóng, mọi việc đều được.
Lại có Pháp, nếu có tật bịnh kiếp nạn nổi lên, lấy 7 loại độc dược là: Ô Đầu, Phụ Tử, Lang Độc, Bã Đậu, Hổ Phách, Quang Minh Sa Long Não, Hương Nhục, Đậu Khấu chú 1080 biến, dùng nước ngâm, lấy nước đó rảy lên thân người bệnh, không bệnh gì không lành. Nếu chân tay co quắp, chú đao 1000 biến mà chỉ đó, tức cử động được, trọn đời không bị lại nữa.”.
Phật bảo A Nan: “Nếu Ta nói các Pháp yếu ra, thì cùng kiếp cũng không hết được. Nếu có cầu nguyện điều gì y như trên thảy đều thành tựu, tất cả mọi việc làm không luận lớn nhỏ đều được thành tựu không có được nghi ngờ, nếu hay trì tụng sẽ được bất thoái chuyển cho đến thành Phật. Nếu hay mỗi ngày làm Pháp này, trì tâm này thì thường ở nơi thế gian làm Đại Thọ Vương, che khắp chúng sanh khiến lìa các Khổ, khiến đều được Phật tâm, cũng như đều được bất thoái đều do oai lực của người trì tụng.”
Khi Như Lai nói chú pháp và các công năng xong, tất cả Bồ Tát, Kim Cang, Thiên Tiên hào quang nơi thân thảy đều ẩn mất, chỉ có Phật quang chiếu khắp cõi Diêm Phù Đề, tức thời ở trên hư không Chư Thiên đều bị xoay tròn, tất cả Ma Cung đều đổ nhào, phút chốc tiêu tan không còn gì cả, đến cả đại địa sáu lần chấn động. Mười phương thế giới các Bồ Tát đều cầm tràng hoa đến cúng dường Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, ở trong các hoa phát ra âm thanh đều nói sự việc của Phật Tâm, ở trong Phật Tâm lại ứng hiện bàn các chỗ cần dùng không thể nghĩ, chỗ các hoa hương bất khả thuyết âm thanh đều nói các Thần lực bất khả thuyết, các Bồ Tát dùng lực Phật Tâm Trung Tâm biến hiện thần lực bất khả thuyết. Chư Bồ Tát ở mười phương thấy quang minh Phật chiếu khắp cả Diêm Phù Đề, từ trong tâm các vị dùng kệ khen Phật:
Lành thay ánh sáng này! Là sức Phật Trung TâmMa Vương vừa xem thấy Thân vô hình tiêu tan.Lành thay ánh sáng nầy! Sức vô ngại của PhậtKhiền Ma Vương tự diệt Mười phương Bồ Tát lại.Lành thay đây ánh sáng! Là lực Phật Tùy TâmSức lực Chư Bồ Tát Chí đến loại phàm phuBà cấp, Bà lầu na Các thần Quỉ tử mẫuCác Trời, chúng Dạ Xoa Thảy đều lại cúng dường.Tất cả chúng Kim Cang Cùng với Tự Tại ThiênPhạm Vương cõi Hương Tích Thảy đều lại quy y.Tất cả các tinh tú Thần Phong Hỏa Lôi Điển Tứ Thiên, các Long Tạng Đem hoa lại cúng dường.Trên dưới khắp bốn phương Hư không và đáy biểnTuôn chảy khắp mười phương Như Lai Tâm Trung TâmTrọn kiếp nói không tận Giả sử trăm ngàn biển Cũng không bằng một hào Giả sử trăm thế giớiKhông bằng một mảy lông Đầy đủ tất cả tríCũng không bằng Tâm Phật Chúng con tu nguyện lớnTrải qua vô số kiếp Nơi các Đức Như LaiChưa ngộ Tâm Trung Tâm Như Lai Tâm Trung Tâm
Chỉ có Phật là hiểu Bồ Tát khó biết đặngChẳng bằng một ánh quang Hóa hiện cả mười phươngLà bởi Tâm Trung Tâm Cho đến các hữu đảnhThảy đều tùy tâm sanh Chư Phật nói tùy tâmNương theo tùy tâm học Nguyện xin tu học xongXin được Phật thọ ký Nếu được tùy tâm thànhTức thời thành Chánh Giác".
Bấy giờ Đại chúng nghe Phật nói xong, thảy đều chắp tay trì Phật Tâm Trung Tâm. Khi đó, Đức Như Lai duỗi cánh tay sắc vàng ấn đảnh thọ ký cho. Các Bồ Tát và Đại chúng được Phật thọ ký xong, hoan hỷ phụng hành.
Ngày 10/05/1996
MẬT TẠNG PHẬT GIÁO VIỆT NAM
TẬP II
Ban phiên dịch:Thích Viên Đức, Thích Thiền Tâm
Thích Quảng Trí, Thích Thông ĐứcCư sĩ Huỳnh Thanh, Như Pháp Quân
---o0o---
MẬT TẠNG VIỆT NAM SỐ 20
KINH KIM CƯƠNG ĐỈNH
PHÁP TU HÀNH CỦA NHƯ LAI QUÁN TỰ TẠI VƯƠNG
Mật Tạng Bộ 2 . No.931 ( Tr. 72 _ Tr. 75 )
Chùa Đại Hưng Thiện,Tam Tạng Sa Môn Đại Quảng Trí Bất Không phụng chiếu dịch Phạn ra Hán văn.
Việt dịch : Huyền Thanh
Nay Ta y theo Kinh Kim Cang Đảnh diễn nói Pháp Yếu của Kim Cang Liên Hoa Đạt Ma. Trước hết, nên vào Quán Đảnh Tam Muội Gia Man Trà La, phát Tâm Đại Bồ Đề, buông xả: Thân mệnh, tiền của, tất cả lợi ích và dũng mãnh tinh tấn, tùy niệm tương ứng Từ-Bi-Hỷ-Xả không có gián đoạn. Người như vậy mới nên tu tập. Pháp của nhóm Man Trà La, họa Tượng… đều như Kinh khác đã nói.
Phàm vào Tịnh Xá , lúc muốn niệm tụng. Trước tiên để 5 Luân sát đất, đảnh lễ Bổn Tôn Như Lai Quán Tự Tại Vương. Tiếp lễ Bắc Phương Như Lai Bất Không Thành Tựu cho đến Vô Động, Bảo Sanh, Như Lai Biến Chiếu thảy đều y theo Pháp. Chí thành kính lễ: Quỳ 2 gối, chắp tay Liên Hoa Hợp Chưởng , sám hối báo đền tất cả lỗi của ba nghiệp.
Con từ vô lượng kiếp Đắm chìm biển sanh tử
Nay đem tâm thanh tịnh Phát lộ xin sám hối
Như chư Phật quá khứ Nay con cũng như vậy
Nguyện con và chúng sanh Tất cả đều thanh tịnh
Mật Ngôn là:
- Án, cấp-phộc bà phộc, truật đà. Tát phộc đạt ma cấp-phộc bà phộc, truật độ hám.
(OM- SVÀBHAVA ‘SUDDHA SARVA DHARMA SVÀBHAVA ‘SUDDHA HAM )
Quá khứ ba đời Phật Bồ Tát và chúng sanh
Đã gom chứa căn lành Chắp tay tùy hỷ hết
Tiếp nên quỳ gối phải sát đất, chắp tay giữa rỗng, đặt trên đỉnh đầu, tưởng lễ dưới chân của chư Phật và Bồ Tát. Tụng Mật Ngôn là:
- Án, bát nạp-ma vĩ đa ( nửa âm )
( OM- PADMA VID )
Lễ chư Phật xong. Y theo Tọa Ấn, tùy ý ngồi theo thế Bán Già hoặc Toàn Già, rồi nhập vào Định, quán tưởng Đức Như Lai Vô Lượng Thọ tràn đầy khắp Pháp giới, tự thân Hành giả đều ở trong Hội ấy. Sau đó, kết Ấn Bí Mật Tam Muội Gia: Kiên Cố Phược, đem Đàn Tuệ ( 2 ngón út ) Thiền Trí ( 2 ngón cái ) cùng hợp nhau đứng thẳng. Dùng Ấn này cảnh giác Thánh Chúng. Tụng Mật Ngôn là :
- Án, phộc nhật-la, bát ná-mang, tam muội gia, tát-đát-phạm.
( OM- VAJRA PADMA SAMAYA STVAM )
Sau đó, kết Ấn Nhất Thiết Như Lai Hoan Hỷ Duyệt Ý Tam Muội Gia: Dựa theo Ấn trước, chỉ đưa Nhẫn Nguyện (2 ngón giữa) vào trong lòng bàn tay. Mật Ngôn là :
- Án, tam mang gia , hộc, tô la đa, tát-đát-phạm.
( OM- SAMAYA HOH SURATA STVAM )
Tiếp kết Ấn Khai Tâm: Quán trên 2 vú có chữ Đát-la ( )
Tra ( ). Dùng Kim Cang Phược vỗ 3 lần để mở. Mật Ngôn là:
- Án, phộc nhật-la, mãn đà, đát-la tra.
( OM- VAJRA BANDHA TRAT )
Tiếp kết Ấn Nhập Trí Tự: Hành giả quán ở trước mặt một hoasen
hồng , trên hoa có chữ SA ( ). Dùng Kiên Cố Phược, đưa Thiền Trí (2 ngón cái) vào bên trong, Tấn Lực (2 ngón trỏ) vịn nhau. Tưởng nhớ chữ ấy ở trong Nội Tâm. Tụng Mật Ngôn là :
- Án, phộc nhật-la, phệ xá, ác.
( OM- VAJRA VE’SA ÀH )
Tiếp kết Ấn Hợp Trí Tự: Như Ấn trước, Tấn Lực (2 ngón trỏ) trụ
ở lưng Thiền Trí (2 ngón cái), tưởng đóng cửa Tâm (Tâm môn). Mật Ngôn là :
- Án, phộc nhật-la, mẫu sắt-trí, hàm.
( OM- VAJRA MUSTI HÙM )
Tiếp kết Ấn Tịch Trừ Kết Giới: Giới Phương (2 ngón vô danh) , bên phải đè bên trái, cùng giao nhau bên ngoài. Nhẫn Nguyện (2 ngón giữa) cùng đứng thẳng dựa nhau, dùng Tấn Lực (2 ngón trỏ) móc Giới Phương (2 ngón vô danh). Thiền Trí (2 ngón cái) vịn đầu Đàn Tuệ ( 2 ngón út). Mật Ngôn là :
- Án, a mật-lật đổ ná bà phộc, hồng phán tra.
( OM- AMRTA UDBHAVA HÙM PHAT )
Đưa Ấn này xoay bên trái 3 vòng để Tịch Trừ mọi điều bất thiện, xoay bên phải 3 vòng tùy ý xa gần dùng để Kết Giới.
Tiếp kết Ấn Tam Ma Địa: Hai Vũ (2 bàn tay) ngửa lên cài chéo nhau.Tấn Lực (2 ngón trỏ) cùng chung lưng hợp cứng.Thiền Trí (2 ngón cái) vịn đầu Tấn Lực (2 ngón trỏ) rồi đặt trên Già (Bán Già, Toàn Già). Tụng Mật Ngôn là :
- Án, tam ma địa, bát ná-minh, hiệt-lị.
( OM- SAMADHI PADME HRÌH )
Hít vào thở ra, mỗi mỗi biết rõ ràng. Quán trong hư không có vô lượng chư Phật cùng một lúc búng tay cảnh giác Hành giả, rồi bảo rằng:
"Này ngươi ! Thế nào là thành Vô Thượng Giác ? “
Vì chẳng biết Pháp Yếu về Tướng Báu của chư Phật. Lúc đó Hành giả nghe lời cảnh giác xong, bạch Phật rằng :
"Thế nào gọi là Chân Thật ? Nguyện xin Như Lai vì con mà giải nói “
Bấy giờ chư Phật bảo Hành Giả rằng: "Lành thay ! Lành thay! Ngươi có thể thốt ra câu hỏi này. Ngươi nên tưởng bên trong Tâm có chứa chữ ÁC ( AH) trong suốt ở trái tim. Tụng Mật Ngôn là:
- Án, tức đa bát-la để vị đăng, ca lỗ nhĩ.
( OM- CITTA PRATVEDHAM KARAUMI )
Nên yên lặng tụng một biến. Liền tưởng là vành trăng như ở trong sương mù. Vì muốn cho vành trăng đó được trong sạch, nên tụng Mật Ngôn là :
- Án, mạo địa tức đa, mẫu đát bả ná , dạ nhĩ
( OM- BODHICITTAM UTPADA YAMI )
Tụng xong, chân thật quán vành trăng Tâm rất trong sạch như khoảng trống rộng lớn của Hư không, không có vết ngăn che. Lại nơi vành trăng Tâm, tưởng có một hoa sen. Tụng Mật Ngôn là :
- Án, để sắt-tra , phộc nhật-la, bát ná-ma .
( OM- TISTA VAJRA PADMA )
Tưởng hoa sen đó và vành trăng lớn dần dần tràn ngập khắp Pháp Giới, ngang bằng với Hư Không. Tụng Mật Ngôn là :
- Án, tát-phả la, phộc nhật-la, bát ná-ma
( OM- SPHARA VAJRA PADMA )
Từ trong hoa sen nở lớn ấy phóng tỏa vô lượng ánh sáng.Tùy theo ánh sáng tuôn ra vô lượng vô biên cõi Cực Lạc Thế Giới, mỗi một Thế Giới Diệu Bảo Trang Nghiêm đều có Đức Như Lai Quán Tự Tại Vương và Thánh Chúng trước sau vây quanh. Quán như vậy xong, thu liễm hoa sen nhỏ dần. Tụng Mật Ngôn là :
- Án, tăng hạ la, bát ná-ma
( OM- SAMHARA PADMA )
Tất cả thế giới, chư Phật Như Lai như vậy, tùy theo hoa đều thu nhỏ dần ngang bằng với Bản thân. Liền biến thân của mình thành thân của Phật Vô Lượng Thọ, có màu pha lê hồng, phóng tỏa ánh sáng to lớn. Kết Ấn Tam Ma Địa, ngồi trên tòa Kim Cương Liên Hoa.Tưởng tự thân của Hành Giả là thân Như Lai xong, lại sợ bị tán loạn mà lui mất. Tiếp tác Ấn Gia Trì để gia trì : Kiên Cố Phộc, co Tấn Lực (2 ngón trỏ) như cánh sen. Kèm cứng Thiền Trí (2 ngón cái) ấn lên trái tim, trán, cổ họng, đảnh đầu. Tùy theo nơi ấn, tưởng có chữ Hiệt-Lị ( HRÌH). Tụng Mật Ngôn là :
- Án, phộc nhật-la đạt ma hiệt-li
( OM- VAJRA DHARMA HRÌH )
Tiếp kết Ấn Quán Đảnh: Liên Hoa hợp chưởng, Tấn Lực (2 ngón trỏ) cùng co như hình Báu, dựng thẳng Đàn Tuệ (2 ngón út) sao cho cách xa nhau, đặt ở trên trán. Mật Ngôn là :
- Án, bát ná-ma, la đát-na, tỳ tru già, tát phạ hàm, hiệt
lị, đát lạc.
( OM- PADMA RATNA ABHISIMCA SVÀMAM HRÌH TRÀH)
Tiếp kết Ấn Liên Hoa Man: Dùng Ấn trước, từ vầng trán chia 2 tay vòng đến sau đỉnh, kết Liên Hoa Quyền như thế cột buộc tràng hoa. Từ từ đưa về phía trước, rồi hạ xuống rải tán. Tụng Mật Ngôn là:
- Án, bát ná-ma, la đát-na, ma lệ, hàm
( OM- PADMA RATNA MÀLE HAM )
Tiếp kết Ấn Giáp Trụ: Kết Liên Hoa Quyền, trước sau quấn quanh thân như phép mặc áo giáp. Tụng Mật Ngôn là :
- Án, a bà gia, bát ná-ma, ca phộc chế, mãn đà, la khất-sái hàm, hồng hám .
(OM-ABHAYA PADMA KAVACE BANDHA RAKSA MAM HÙM HÀM )
Tiếp Kết Ấn Hoan Hỷ: Liên Hoa hợp chưởng, hơi vỗ 3 tiếng. Tụng Mật Ngôn là:
- Án, bát ná-ma, đổ sử-dã, hộ .
( OM- PADMA TUSYA HOH )
Lại quán Thế Giới An Lạc ở trước mặt, có Lưu ly làm đất, biển sữa công đức. Ở trong biển ấy quán chữ Hật-rị (HRÌH) biến thành hoa sen hé nở vi diệu. Rồi tưởng hoa ấy thành Như Lai Quán Tự Tại Vương với sắc tướng trang nghiêm như quán thân lúc trước.
Tiếp kết Ấn Liên Hoa Câu: Liên Hoa hợp chưởng, Tấn Lực (2 ngón trỏ) như móc câu. Tụng Mật Ngôn là :
- Án, bát ná-mang cú xả, hồng nhạ .
( OM- PADMA ANÕKU’SA HÙM JAH )
Tiếp kết Ấn Liên Hoa Sách: Liền dùng Ấn lúc trước, Tấn Lực (2 ngón tro ) như cái vòng (Hoàn). Tụng Mật Ngôn là :
- Án, bát ná-ma, mẫu già bá xả, hồng .
( OM- PADMA AMOGHA PÀ’SA HÙM )
Tiếp kết Ấn Liên Hoa Tỏa: Phù Dung hợp chưởng, Tấn (Ngón trỏ phải) Thiền (Ngón cái phải) vịn nhau, Lực (Ngón trỏ trái) Trí (Ngón cái trái) cũng thế, cùng móc nhau thành cái khoá (Tỏa).Tụng Mật Ngôn là :
- Án, bát ná-ma, tắc bố tra, hàm
( OM- PADMA SPHOTA HÙM )
Tiếp kết Ấn Liên Hoa Linh: Dùng Liên Hoa hợp chưởng, co Thiền Trí (2 ngón cái) vào trong, Tấn Lực (2 ngón trỏ) như cái vòng. Tụng Mật Ngôn là :
- Án, bát ná-ma, phệ xá, ác .
( OM- PADMA VE’SA AH )
Tiếp kết Liên Hoa Bộ Bách Tự Minh Mật Ngôn, dâng vật khí chứa Ứ Già. Dùng Uất Kim, Long Não cùng hòa với nước thơm mà làm cúng dường. Tụng Bách Tự Minh Mật Ngôn là :
- Án, bát ná-ma tát đát-phộc tam ma gia, ma nỗ bá la gia. Bát ná-ma tát đát-phộc, để-vĩ nỗ ba, để sắt-xá, niết-lị trụ minh bá phộc. Tô đổ sái-dụ minh bá phộc. A nỗ la khất-đổ minh bá phộc. Tô báo sử-dụ minh bá phộc. Tát phộc tất địa mị bát-la tả dã. Tát bà yết ma tô giả minh, tức đa , thất-lợi dược, cú lô hồng. Ha ha ha ha hô. Bạc già phạm, tát bà đát tha nghiệt đa , bát ná-ma, mang minh muộn già. Bát ná-minh bá phộc. Ma ha tam ma dã, tát đát-phộc, ác .
(OM- PADMASATVA SAMAYAM ANUPÀLAYA PADMASATVA TVENA UPATISTA DRDHO ME BHAVA SUTOSYO ME BHAVA SUPOSÏYO ME BHAVA ANURAKTO ME BHAVA SARVA SIDDHIM ME PRAYACCHA SARVA KARMASU CA ME CITTAM ‘SRÌYAM KURU HÙM HA HA HA HA HOH BHAGAVAM SARVA TATHÀGATA PADMA MÀ ME MUNÕCA PADMI BHAVA MAHÀ SAMAYA SATVA ÀH )
Tiếp kết Ấn Liên Hoa Man: Liền dùng Ấn trước, 2 cánh tay cùng duỗi.Tụng Mật Ngôn là :
- Án, bát ná-ma, ma lệ, đát-la tra .
( OM- PADMA MÀLE TRÀT )
Tiếp kết Ấn Liên Hoa Ca: Dùng Phù hợp chưởng, co trụ các ngón, từ rốn trở lên đến miệng mới bung tán. Tụng Mật Ngôn là :
- Án, bát ná-ma, nghi đế, nghi
( OM- PADMA GÌTE GÌH )
Tiếp kết Ấn Liên Hoa Vũ: Dùng Phù Dung hợp chưởng, chuyển xoay bên trái phải rồi bung tán trên đỉnh đầu. Tụng Mật Ngôn là :
- Án, bát ná-ma nễ-lị đế, khất-lị tra .
( OM- PADMA NRTYE KRT )
Tiếp kết Liên Hoa Ngoại Tứ Cúng Dường (4 vị cúng dường bên ngoài của Liên Hoa Bộ) Ấn Thiêu Hương: Liên Hoa hợp chưởng, hạ xuống bung tán giống như thế đốt hương.Tụng Mật Ngôn là :
- Án, bát ná-ma, độ bế, ác .
( OM- PADMA DHÙPE AH )
Tiếp kết Ấn Liên Hoa Tán Hoa: Liên Hoa hợp chưởng, từ phía trước mặt bung tán lên trên giống như thế rải hoa.Tụng Mật Ngôn là :
- Án, bát ná-ma, bổ sắt-bế, án .
( OM- PADMA PUSPE OM )
Tiếp kết Ấn Liên Hoa Đăng: Liên Hoa hợp chưởng, dựng Thiền Trí (2 ngón cái) cùng cách lìa nhau.Tụng Mật Ngôn là :
- Án, bát ná-ma, nễ bế , nễ .
( OM- PADMA DÌPE DÌH )
Tiếp kết Ấn Liên Hoa Đồ Hương: Mười Độ (10 ngón tay) tác Liên Hoa hợp chưởng, để ngang trái tim phân tán như thế bôi xoa hương. Tụng Mật Ngôn là :
- Án, bát ná-ma, nghiễn đề, ngược .
( OM- PADMA GANDHE GAH )
Tiếp kết Ấn Căn Bản: Kiên Cố Phộc, để Nhẫn Nguyện (2 ngón giữa) dính nhau như hình cánh sen. Tụng Mật Ngôn là :
- Án, lộ kế thập phộc la , la nhạ,hiệt-lị .
( OM- LOKE’SVARA RÀJA HRÌH )
Tiếp kết Ấn Căn Bản, tụng Minh 7 biến xong. Sau đó cầm xâu chuỗi bằng hạt sen, tương ứng niệm tụng. Trong bốn thời, tùy sức mà làm. Nếu lúc muốn ngưng thì trùng kết ( Kết lần nữa) Ấn Căn Bản và lại tụng 7 biến Căn Bản Đà La Ni.
Tiếp kết Ấn Cúng Dường. Sau đó, kết Ấn Phát Khiển để Phụng Tống Bổn Tôn: Dùng Ấn Căn Bản ở trước, từ rốn đưa đến mặt rồi bung tán. Chắp tay ở trên đảnh đầu, tưởng Như Lai Quán Tự Tại Vương quay trở về Bản Cung. Tụng Mật Ngôn là :
- Án, phộc nhật-la, bát ná-ma, mục .
( OM- VAJRA PADMA MUH )
Phát Khiển Bổn Tôn xong. Tùy ý phát nguyện. Lại dùng Giáp Trụ Ấn Hộ Thân.
Dùng Mã Đầu Minh Vương Kết Giới Ấn xoay bên phải để giải Giới. Xong, tùy ý đi Kinh Hành hoặc đến các Tịnh Xứ đọc các Kinh Đại Thừa như Kinh Đại Bát Nhã, Kinh Hoa Nghiêm, Kinh Niết Bàn, Kinh Lăng Già v.v... Đi, đứng, ngồi, nằm thường niệm Bổn Tôn không để cho gián đoạn.
KIM CƯƠNG ĐỈNH KINH QUÁN TỰ TẠI VƯƠNG NHƯ LAI TU HÀNH PHÁP
Ngày 06 /11/ 2000
MẬT TẠNG PHẬT GIÁO VIỆT NAM
TẬP II
Ban phiên dịch:Thích Viên Đức, Thích Thiền Tâm
Thích Quảng Trí, Thích Thông ĐứcCư sĩ Huỳnh Thanh, Như Pháp Quân
---o0o---
MẬT TẠNG VIỆT NAM SỐ 21
PHẬT THUYẾT KINH VÔ LƯỢNG CÔNG ĐỨC ĐÀ LA NI
Mật Tạng Bộ 2 No. 934 ( Tr.80 )
Tây Thiên Dịch Kinh Tam Tạng, Triều Tán Đại Phu Thí Quang Lộc Khanh, Minh Giáo Đại Sư Pháp Hiền
phụng chiếu dịch Phạn ra Hán văn.
Việt dịch : Huyền Thanh .
Bấy giờ, Đức Thế Tôn bảo A Nan rằng:” Ông hãy lắng nghe ! Nay Ta vì ông cùng chúng sinh đời Mạt Pháp diễn nói về Vô Lượng Công Đức Đà La Ni. Ông hãy ghi nhớ đừng để quên mất, nhằm giúp cho các chúng sinh trong đời Uế Ác sau nàu được đại thiện lợi.
Này A Nan ! Nếu có chúng sinh nào được nghe Đà La Ni này, mỗi ngày sáng chiều tụng 21 biến thì bao nhiêu nghiệp ác mà người ấy đã gom chứa trong một ngàn kiếp, đều được tiêu diệt, hiện thân gặt hái được sự an ổn khoái lạc. Nếu có người chí tâm
trì tụng một Lạc Xoa biến thì sau này, người đó sẽ được gặp Đức Bồ Tát Từ Thị. Nếu trì tụng hai Lạc xoa biến, thì sau này sẽ được gặp Bồ Tát Quán Tự Tại .
Nếu trì tụng ba Lạc Xoa biến, thì sau này sẽ gặp được Đức Phật Vô Lượng Thọ ". Đức Phật liền nói Đà La Ni rằng :
- Nẵng mô la đát-na đát-la dạ dã. Na mạc a lị-dã a di đà bà dã, đát tha nga đa dã, a la-hạt đế, tam miệu cật-tam một đà dã, đát nĩnh tha: A di đế, a di đổ nạp-bà vị, a di đa tam bà vị, a di đa vĩ cật-lan đế, a di đa vĩ cật-lan đa nga di nễ, nga nga na kế lị-để yết lị, tát lị-phộc cật-lê xá, sái dương yết-lị duệ sa-phộc hạ .
Bấy giờ A Nan được nghe Đức Như Lai nói về Vô Lượng Công Đức Đà La Ni này xong, liền vui vẻ tin nhận, lễ Phật rồi lui ra.
PHẬT THUYẾT VÔ LƯỢNG CÔNG ĐỨC ĐÀ LA NI
Ghi chú :
Vô Lượng Công Đức Đà La Ni ( Vãng Sinh Chân Ngôn ) :
- NAMO RATNATRAYÀYA : Quy mệnh Tam Bảo
- NAMAH ÀRYA AMITÀBHÀYA TATHÀGATÀYA ARHATE
SAMYAKSAMBUDDHÀYA : Kính lễ Thánh Vô Lượng Quang
Như Lai Ứng Cúng Chính Đẳng Chính Giác
- TADYATHAØ : Như vậy, liền nói Chú là
- AMRTE : Cam Lộ bất tử
- AMRTA UDBHAVE : Hiện lên Cam Lộ
- AMRTA SAMBHAVE : Phát sinh Cam Lộ
- AMRTA VIKRÀNTE : Cam Lộ dũng mãnh
- AMRTA VIKRÀNTE GAMINE : Đạt đến Cam Lộ dũng mãnh
- GAGANA KIRTTI KARE : Rải đầy khắp hư không
- SARVA KLE’SA AKSÏAYAM KARE : Dẹp sạch mọi phiền não vô
tận
- SVÀHAØ : Quyết định thành tựu.
Xong ngày 11 / 07 / 1997
MẬT TẠNG PHẬT GIÁO VIỆT NAM
TẬP II
Ban phiên dịch:Thích Viên Đức, Thích Thiền Tâm
Thích Quảng Trí, Thích Thông ĐứcCư sĩ Huỳnh Thanh, Như Pháp Quân
---o0o---
MẬT TẠNG VIỆT NAM SỐ 22
KINH ĐẠI PHƯƠNG QUẢNG PHẬT HOA NGHIÊM
PHẨM NHẬP PHÁP GIỚI
TỨ THẬP NHỊ TỰ QUÁN MÔN
MẬT TẠNG BỘ 2: No 1019
Chuà Đại Hưng Thiện Tam tạng sa môn Bất Không
phụng chiếu dịch Phạn ra Hán văn.
Việt dịch: Huyền Thanh
Bấy giờ Đồng Tử Thiện Tài từ Thiên cung xuống hướng theo thành Ca Tỳ La đến chỗ của Đồng Tử Thiện Tri Chúng Nghệ, cúi đầu đảnh lễ rồi đứng qua một bên, bạch rằng:” Thánh Giả! Tôi đã phát Tâm A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề mà chưa biết Bồ Tát học hạnh Bồ tát như thế nào? Tu đạo Bồ Tát như thế nào? Tôi nghe Thánh Giả khéo dậy bảo, nguyện vì tôi mà nói”
Thời vị Đồng Tử ấy bảo Thiện Tài rằng:” Ta được giải thoát của Bồ Tát gọi là Thiện Tri Chúng Nghệ. Ta hằng xướng trì, nhập vào chữ của giải thoát căn bản này.
1- Chữ A ( A ) thời gọi là do uy đức của Bồ Tát nhập vào Môn Bát Nhã Ba La Mật của cảnh giới vô sai biệt, ngộ tất cả Pháp vốn chẳng sinh.
2- Chữ LA ( RA ) thời nhập vào Môn Bát Nhã Ba La Mật của vô sai biên tế sai biệt, ngộ tất cả Pháp lià bụi dơ.
3- Chữ BẢ ( PA ) thời nhập vào Môn Bát Nhã Ba La Mật của Pháp giới tế, ngộ tất cả Pháp Thắng nghiã Đế chẳng thể đắc.
4- Chữ TẢ ( CA ) thời nhập vào Môn Bát Nhã Ba La Mật của Phổ Luân đoạn sai biệt, ngộ tất cả Pháp không có các hành.
5- Chữ NẴNG ( NA ) thời nhập vào Môn Bát Nhả Ba La Mật của Vô A lại gia Tế, ngộ tất cả Pháp Tánh Tướng chẳng thể đắc.
6- Chũ LA ( LA ) thời nhập vào Môn Bát Nhã Ba La Mật của Vô Cấu, ngộ tất cả Pháp xuất thế gian, nên ưa thích sự vĩnh viễn chẳng hiện của Chi Nhân Duyên.
7- Chữ NÁ ( DA ) thời nhập vào Môn Bát Nhã Ba La Mật của Bất thoái chuyển gia hạnh, ngộ tất cả Pháp điều phục, tịch tĩnh, chân như bình đẳng không có sai biệt.
8- Chữ MA ( BA ) thời nhập vào Môn Bát Nhã Ba La Mật của Kim Cương Trường, ngộ tất cả Pháp lià cột, giải.
9- Chữ NOA ( DA ) thời nhập vào Môn Bát Nhã Ba La Mật của Phổ Biến Luân, ngộ tất cả Pháp lià nóng bức ô uế, được mát mẻ trong sạch.
10- Chữ SÁI ( SA ) thời nhập vào Môn Bát Nhã Ba La Mật của Hải Tạng, ngộ tất cả Pháp không có trở ngại.
11- Chữ PHẠ ( VA ) thời nhập vào Môn Bát Nhã Ba La Mật của Phổ Biến sinh an trú, ngộ tất cả Pháp cắt đứt đường ngôn ngữ.
12- Chữ ĐA ( TA ) thời nhập vào Môn Bát Nhã Ba La Mật của Chiếu Diệu trần cấu, ngộ tất cả Pháp chân ngôn bất động.
13- Chữ DÃ ( YA ) thời nhập vào Môn Bát Nhã Ba La Mật của Sai Biệt tích tụ, ngộ tất cả Pháp như thật chẳng sanh.
14- Chữ SẮT TRA ( STA ) thời nhập vào Môn Bát Nhã Ba La Mật của Phổ biến quang minh tức trừ nhiệt não, ngộ tất cả Pháp về tướng chế phục, nhậm trì chẳng thể đắc.
15- Chữ CA ( KA ) thời nhập vào Môn Bát Nhã Ba La Mật của Sai biệt chủng loại, ngộ tất cả Pháp Tác Giả chẳng thể đắc.
16- Chữ SA ( SA ) thời nhập vào Môn Bát Nhã Ba La Mật của Hiện tiền giáng hoắc đại vũ, ngộ tất cả Pháp Thời bình đẳng, tánh chẳng thể đắc.
17- Chữ MÃNG ( MA ) thời nhập vào Môn Bát Nhã Ba La Mật của Đại tấn tật chúng phong, ngộ tất cả Pháp Ngã sở chấp, tánh chẳng thể đắc.
18- Chữ NGA ( GA ) thời nhập vào Môn Bát Nhã Ba La Mật của Phổ biến luân trưởng dưỡng, ngộ tất cả Pháp Hành thu,û tánh chẳng thể đắc.
19- Chữ THA ( THA ) thời nhập vào Môn Bát Nhã Ba La Mật của Chân Như vô sai biệt, ngộ tất cả Pháp xứ sở chẳng thể đắc.
20- Chữ NHẠ ( JA ) thời nhập vào Môn Bát Nhã Ba La Mật của Thế gian lưu chuyển cùng nguyên thanh tĩnh, ngộ tất cả pháp Năng sở sanh khởi chẳng thể đắc.
21- Chữ SA PHẠ ( SVA ) thời nhập vào Môn Bát Nhã Ba La Mật của Niệm nhất thiết Phật trang nghiêm, ngộ tất cả Pháp an ẩn tánh chẳng thể đắc.
22- Chữ ĐÀ ( DHA ) thời nhập vào Môn Bát Nhã Ba La Mật của Quán sát pháp giới đạo trường, ngộ tất cả Pháp Năng trì giới, tánh chẳng thể đắc.
23- Chữ XẢ ( ‘SA ) thời nhập vào Môn Bát nhã Ba La Mật của Tùy thuận nhất thiết Phật giáo, ngộ tất cả Pháp tịch tĩnh, tánh chẳng thể đắc.
24- Chữ KHƯ ( KHA ) thời nhập vào Môn Bát Nhã Ba La Mật của Hiện hành nhân điạ Trí Tuệ Tạng, ngộ tất cả Pháp như hư không tánh chẳng thể đắc.
25- Chữ KHẤT SÁI ( KSA ) thời nhập vào Môn Bát Nhã Ba La Mật của Quyết trạch tức chư nghiệp hải Tạng, ngộ tất cả Pháp cùng tận, tánh chẳng thể đắc.
26- Chữ ĐA SA ( STA ) thời nhập vào Môn Bát Nhã Ba La Mật của Tồi chư phiền não thanh tĩnh quang minh, ngộ tất cả Pháp Nhậm trì xứ phi xứ linh bất động chuyển, tánh chẳng thể đắc.
27- Chữ NƯƠNG ( NA ) thời nhập vào Môn Bát Nhã Ba La Mật của Sinh thế gian liễu biệt, ngộ tất cả Pháp Năng sở tri, tánh chẳng thể đắc.
28- Chữ LA THA ( RTHA ) thời nhập vào Môn Bát Nhã Ba La Mật của Nghịch sinh tử luân trí đạo trường, ngộ tất cả Pháp Chấp trước nghiã, tánh chẳng thể đắc.
29- Chữ BÀ ( BHA ) thời nhập vào Môn Bát Nhã Ba La Mật của Nhất thiết cung điện đạo trường trang nghiêm, ngộ tất cả Pháp khả phá hoại, tánh chẳng thể đắc.
30- Chữ THA ( CHA ) thời nhập vào Môn Bát Nhã Ba La Mật của Tu Hành gia hạnh tạng tận sai biệt đạo trường, ngộ tất cả Pháp Dục lạc phú, tánh chẳng thể đắc.
31- Chữ SA MA ( SMA ) thời nhập vào Môn Bát Nhã Ba La Mật của Hiện kiến thập phương chư Phật tuyền, ngộ tất cả Pháp Khả ức niệm, tánh chẳng thể đắc.
32- Chữ HA PHẠ ( HVA ) thời nhập vào Môn Bát Nhã Ba La Mật của Quán sát nhất thiết chúng sinh kham nhậm lực biến sinh hải tạng, ngộ tất cả Pháp Khả hô triệu. tánh chẳng thể đắc.
33- Chữ ĐÁ SA ( TSA ) thời nhập vào Môn Bát Nhã ba La Mật của Nhất thiết công đức hải thú nhập tu hành nguyên để, ngộ tất cả Pháp Dũng kiện, tánh chẳng thể đắc.
34- Chữ GIÀ ( GHA ) thời nhập vào Môn bát nhã Ba La mật của Nhất thiết Pháp vân kiên cố hải tạng, ngộ tất cả Pháp bình đẳng, tánh chẳng thể đắc.
35- Chữ XÁ ( THA ) thời nhập vào Môn bát nhã Ba La Mật của Nguyện vãng nghệ thập phương hiện tiền kiến nhất thiết Phật, ngộ tất cả Pháp tích tập, tánh chẳng thể đắc.
36- Chữ NINH ( NA ) thời nhập vào Môn Bát Nhã Ba La Mật của Tự luân tích tập câu đệ tự, ngộ tất cả Pháp lià các huyễn thỉnh vô vãng, vô lai hành trú toạ ngoạ chẳng thể đắc.
37- Chữ PHẢ ( PHA ) thời nhập vào Môn Bát Nhã Ba La Mật của Thành nhiệt nhất thiết chúng sanh tế vãng nghệ đạo trường, ngộ tất cả Pháp biến mãn quả báo chẳng thể đắc.
38- Chữ XA CA ( SKA ) thời nhập vào Môn Bát Nhã Ba La Mật của Vô trước vô ngại giải thoát Điạ tạng quang minh luân phổ chiếu, ngộ tất cả Pháp tích tụ huân, tánh chẳng thể đắc.
39- Chữ DÃ SA ( YSA ) thời nhập vào Môn Bát Nhã Ba La Mật của Tuyên thuyết nhất thiết Phật cảnh giới, ngộ tất cả Pháp suy lão tánh tướng chẳng thể đắc.
40- Chữ THẤT TẢ ( ‘SCA ) thời nhập vào Môn Bát Nhã Ba La Mật của tất cả hư không dùng vân điển chấn hống phổ chiếu, ngộ tất cả Pháp Tụ tập định, tánh chẳng thể đắc.
41- Chữ TRA ( TA ) thời nhập vào Môn Bát Nhả Ba La Mật của Vô ngã lợi ích chúng sanh cứu cánh biên tế, ngộ tất cả Pháp tướng khu bách (thúc ép ), tánh chẳng thể đắc.
42- Chữ TRÀ ( DHA ) thời nhập vào Môn Bát Nhã Ba La Mật của Pháp luân vô sai biệt tạng, ngộ tất cả Pháp cứu cánh xứ sở chẳng thể đắc.
Thiện nam tử ! Ta xưng như vậy, nhập vào các chữ giải thoát căn bản thời 42 chữ Bát Nhã Ba La Mật này làm đầu, nhập vào vô lượng vô số Môn Bát Nhã Ba La Mật. Lại Thiện nam tử! Tự Môn như vậy thì mau ngộ nhập Pháp Không vô biên tế. Ngoài các chữ như vậy, biểu thị cho pháp Không đều chẳng thể được.Tại sao thế? Vì nghiã của chữ như vậy chẳng thể diễn nói, chẳng thể hiển thị, chẳng thể cầm nắm, chẳng thể hoạnh trì, chẳng thể quán sát, vì lià tất cả các tướng.
Thiện nam tử ! Ví như hư không là trú xứ sở quy cuả tất cả vật, các Tự Môn này cũng lại như vậy. Nghiã của các Pháp Không đều nhập vào Tự Môn này mới được hiển hiện rốt ráo. Nếu Bồ Tát ma ha tát ở như vậy, nhập vào các Tự Môn thì được Trí khéo léo, nơi các ngôn âm sở thuyên sở biểu đều không có trở ngại, nơi tất cả Pháp bình đẳng Không Tánh tận năng chứng trí, nơi mọi ngôn âm hoặc được khéo léo. Nếu Bồ tát hay thông nhập các Tự Môn như vậy, ấn riêng ấn chữ A, nghe xong thọ trì tán tụng, thông lợi làm điạ giải thoát, chẳng tham danh lợi. Do nhân duyên này được Hai mươi loại công đức thù thắng. Thế nào là hai mươi? Đó là:
1) Được niệm mạnh mẽ. 2) Được Thắng tàm qúy. 3) Được lực kiên cố. 4) Được Tăng thượng giác. 5) Được pháp chỉ thú. 6) Được Tuệ thù thắng. 7) Được biện tài vô ngại. 8) Được môn tổng trì. 9) Được vô ngại hoặc. 10) Được khiển thuận ngữ chẳng sinh yêu giận. 11) Được sự an trụ bình đẳng không có cao thấp. 12) Được khéo léo nơi ngôn âm của hữu tình. 13) Được huân thiện xảo, xứ thiện xảo, giới thiện xảo. 14) Được duyên khởi thiện xảo, nhân thiện xảo, duyên thiện xảo, pháp thiện xảo. 15) Được căn thắng liệt. 16) Được trí thiện xảo, tha tâm trí thiện xảo. 17) Được quán tinh tú thiện xảo, sinh tử trí thiện xảo, túc trú tùy niệm trí thiện xảo, thần cảnh trí thiện xảo, sinh tử trí thiện xảo. 18) Được Lậu tận trí thiện xảo. 19) Được thuyết xứ phi xứ trí thiện xảo. 20) Được vãng lai đẳng uy nghi lạc thiện xảo.
Đây là 20 loại công đức thù thắng.
Này Thiện nam tử ! Ta tuy biết Nhập Chư Giải Thoát Căn Bản Tự Trí này như các Bồ tát ma ha tát, hay ở tất cả pháp thiện xảo của thế gian, dùng trí thông đạt đến nơi bờ kia, mà ta chẳng có thể biết hết hoặc nói làm sao cho hết các hạnh công đức đó ".
Thời Đồng tử Thiện Tài cúi đầu kính lễ dưới chân ngài Chúng Nghệ, đi quanh vô số vòng , chiêm ngưỡng rồi lui ra.
Ngày 29/02/ 1996.
ĐẠI PHƯƠNG QUẢNG PHẬT HOA NGHIÊM
PHẨM NHẬP PHÁP GIỚI
ĐỐN CHỨNG TỲ LÔ GIÁ NA PHÁP THÂN TỰ LUÂN DU GIÀ NGHI QŨY.
MẬT TẠNG BỘ 2 No 1020
Phàm muốn đốn nhập Nhất Thừa, tu tập quán Pháp Thân Như Lai Tỳ-Lô-Giá-Na.Trước hết, nên phát khởi hạnh nguyện vi diệu cuả Bồ Tát Phổ Hiền. Lại nên dùng Tam Mật Gia Trì thân tâm, ắt hay ngộ nhập biển Trí Tuệ cuả đức Văn Thù Sư Lợi. Xong người tu hành, khởi đầu ở chốn Không Nhàn, nhiếp niệm an tâm, nhắm mắt, thân mình ngay thẳng, ngồi kiếi già, vận tâm duyên khắp vô biên sát hải, quán kỹ càng khắp tất cả Như Lai ba đời, ở trước mỗi mỗi Phật Bồ Tát ân cần cung kính lễ bái, đi vòng quanh. Lại đem mọi loại biển mây cúng vật phụng hiến tất cả Thánh chúng của Đẳng như thế.
Cúng dường rộng lớn xong, lại nên quán Tâm của mình là: Tâm vốn chẳng sanh, tự tánh thành tựu, ánh sáng chiếu khắp giống như Hư Không. Lại nên khởi sâu niệm Bi xót thương chúng sanh chẳng ngộ Tự Tâm, luân hồi các nẻo. Nay, ta sẽ phổ hoá bạt tế khiến cho họ khai ngộ không còn sót một ai. Lại nên quán sát Tự Tâm, Tâm chúng sanh, với Tâm Chư Phật vốn không có sai khác, một tướng bình đẳng, thành Tâm Đại Bồ Đề, trong suốt rõ ràng mát mẻ rỗng không vòng khắp,Viên Minh trắng tinh thành vành trăng lớn, rộng bằng hư không, không có bờ mé. Lại nên ở trong vành trăng, xoay theo bên phải an bày 42 chữ Phạn thảy đều màu vàng ròng, phát ra ánh sáng lớn chiếu khắp mười phương hiển hiện rõ ràng. Trong mỗi ánh sáng, thấy vô lượng sát hải, có vô lượng chư Phật, có vô lượng chúng trước sau vây quanh, ngồi Toà Bồ Đề thành Đẳng Chánh Giác, trí nhập vào Ba Tế Thân khắp cả mười phương, chuyển bánh xe Đại Pháp, độ thoát quần phẩm, đều khiến cho hiện chứng Vô Dư Niết Bàn.
Lại nên ngộ nhập 42 tự môn Bát Nhã Ba La Mật địa, hiểu thấu tất cả Pháp đều không có Sở Đắc, Năng quán Chánh Trí, Sở quán Pháp giới, thảy đều bình đẳng không sai không khác.
Người tu Du Già nếu hay trì tụng Đà-la-ni Quán Hạnh để tương ứng, liền có thể hiện chứng Trí Thân của Như Lai Tỳ Lô Giá Na, ở trong các pháp được sự không chướng ngại.
Bài tụng 42 chữ là:
- A La Bả Tả Nẵng La Ná Ma Noa Sái Phạ Đa Dã Sát Tra Ca Sa Mãng Nga Tha Nhạ Sa Phạ Đà Xả Kư Khất Sái Sa Đa Nương La Tha Bà Tha Sa Ma Ha Phạ Đá Sa Gìa Xá Ninh Phả Xa Ca Dã Sa Thất Tả Tra Trà.
( A RA PA CA NA LA DA BA DA SA VA TA YA STA KA SA MA GA THA JA SVA DHA ‘SA KHA KSA STA NA RTHA BHA CHA SMA HVA TSA GHA THA NA PHA SKA YSA ‘SCA TA DHA )
MẬT TẠNG PHẬT GIÁO VIỆT NAM
TẬP II
Ban phiên dịch:Thích Viên Đức, Thích Thiền Tâm
Thích Quảng Trí, Thích Thông ĐứcCư sĩ Huỳnh Thanh, Như Pháp Quân
---o0o---
MẬT TẠNG VIỆT NAM SỐ 23
KINH ĐẠI THỪA VÔ LƯỢNG THỌ
Mật Tạng Bộ 2 No.936 ( Tr.82 - Tr.84 )
Sa Môn Pháp Thành dịch từ Phạn ra Hán văn
Việt dịch : Sa Môn Thích Quảng Trí
Sưu tập Phạn Chú : Huyền Thanh
Ta nghe như thế này: Một thời Đức Bạc Già Phạm ở tại nước Xá Vệ, rừng cây Kỳ Đà, vườn Cấp Cô Độc cùng với các Đại Tỳ Kheo Tăng 1250 người, với các Đại Bồ Tát đều ngồi trong Hội.
Bấy giờ Đức Thế Tôn bảo Ngài Mạn Thù Thất Lợi Đồng Tử rằng: "Này Mạn Thù Tất Lợi! Có Thế Giới ở phương trên tên là Vô Lượng Công Đức Tụ, có Đức Phật hiệu là Như Lai Vô Lượng Trí Quyết Định Vương, A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề đang vì chúng sanh mà nói Pháp.
Ông Mạn Thù ! Ông hãy lắng nghe! Người trong cõi Nam Diêm Phù Đề thọ mạng một trăm năm, nhưng trong đó phần nhiều bị hoạnh tử, sống không đủ số tuổi .
Này Mạn Thù! Công Đức Danh Hiệu và Pháp Yếu của Như Lai Vô Lượng Thọ, nếu có chúng sanh được nghe Danh Hiệu này, hoặc tự chép hoặc bảo người chép, thọ trì đọc tụng Kinh Quyển. Tùy nơi nhà cửa chỗ ở , dùng các thứ Tràng Hoa, Anh Lạc , hương hoa, hương bột cúng dường tức được sống lâu trăm tuổi. Này Mạn Thù! Nếu có chúng sanh nghe được 108 Danh Hiệu của Như Lai Vô Lượng Thọ Trí Quyết Định Vương, tức được thọ mạng dài lâu. Nếu có chúng sanh, sắp hết mạng sống, nhớ niệm Danh Hiệu của Như Lai tức được sống thêm. Nếu có Thiện Nam Tử , Thiện Nữ Nhân muốn cầu sống lâu. Nếu nghe được 108 Danh Hiệu của Như Lai Vô Lượng Thọ, hoặc tự chép hoặc bảo người chép, thọ trì đọc tụng tức được các quả báo đầy đủ phước đức. Chân Ngôn là :
- Nam mô bạt già bột đế, a bà lợi mật đa, a du khất đố na tu tỳ nễ tất thi ra tả gia, đát tha yết tha gia. Đát điệt tha: Án, tát bà tang tất ca ra, bà lợi du để gia ca na sa ha mỗ trì ca để, tát bà tỳ du đế, ma ha na gia, bà lợi bà lợi, sa ha.
(NAMO BHAGAVATE APARAMITA AJURJNÕÀNA SUVINE ‘SCITA TEJA TATHÀGATÀYA TADYATHÀ: OM- SARVA SAMSKÀRA PARI’SUDDHE DHARMATE GAGANA SAMUDGATE SVÀBHAVA VI’SUDDHE MAHÀ NAYA PARIVERE SVÀHÀ ).
Đức Thế Tôn lại bảo Mạn Thù Thất Lợi rằng: "Như vậy 108 Danh Hiệu của Như Lai, nếu tự chép hoặc bảo người chép, thọ trì đọc tụng , dầu mạng sống sắp hết cũng được sống thêm đủ một trăm năm. Sau khi mệnh chung được sanh về Tịnh Độ Vô Lượng Phước Trí Thế Giới của Phật Vô Lượng Thọ. Chân Ngôn là :
- Nam mô bạt già bột đế, a bà lợi mật đa, a du khất đố na, tu tỳ nễ tất chỉ đa, ra tả gia, đát tha yết tha gia. Đát điệt tha: Án , tát bà tang tất ca ra, bát lợi du để, đạt ma để, già ca na, sa ha mỗ trì ca để , tát bà bà, tỳ du để, ma ha na gia, bà lợi bà lê, sa ha.
Bấy giờ có 99 Hội Phật đồng nói Kinh Vô Lượng Thọ Tông Yếu Chân Ngôn. Chân Ngôn là :
- Nam mô bạt già bột đế, a bà lợi mật đa, a du khất đố na, tu tỳ nễ tất chỉ đa, ra tả gia, đát tha yết tha gia. Đát điệt tha: Án, tát bà tang tất ca ra, bát lợi du để, đạt ma để, già ca na, sa ha mỗ trì ca để, tát bà bà, tỳ du để, ma ha na gia, bà lợi bà lê, sa ha.
Lại có 104 Hội Phật, một lúc đồng nói Kinh Vô Lượng Thọ Tông Yếu. Chân Ngôn là :
- Nam mô bạt già bột đế, a bà lợi mật đa, a du khất đố na, tu tỳ nễ tất chỉ đa, ra tả gia, đát tha yết tha gia. Đát điệt tha: Án, tát bà tang tất ca ra, bát lợi du để, đạt ma để, già ca na, sa ha mỗ trì ca để , tát bà bà , tỳ du để, ma ha na gia, bà lợi bà lê, sa ha.
Lại có 7 Hội Phật đồng lời, nói Kinh Vô Lượng Thọ Tông Yếu. Chân Ngôn là:
- Nam mô bạt già bột đế, a bà lợi mật đa, a du khất đố na, tu tỳ nễ tất chỉ đa, ra tả gia, đát tha yết tha gia. Đát điệt tha: Án, tát bà tang tất ca ra, bát lợi du để, đạt ma để, già ca na, sa ha mỗ trì ca để, tát bà bà, tỳ du để, ma ha na gia, bà lợi bà lê, sa ha.
Lại có 65 Hội Phật đồng lời, nói Kinh Vô Lượng Thọ Tông Yếu. Chân Ngôn là:
- Nam mô bạt già bột đế, a bà lợi mật đa, a du khất đố na, tu tỳ nễ tất chỉ đa, ra tả gia, đát tha yết tha gia. Đát điệt tha : Án, tát bà tang tất ca ra, bát lợi du để, đạt ma để, già ca na, sa ha mỗ trì ca để, tát bà bà, tỳ du để, ma ha na gia, bà lợi bà lê, sa ha.
Lại có 55 Hội Phật đồng lời, nói Kinh Vô Lượng Thọ Tông Yếu. Chân Ngôn là:
- Nam mô bạt già bột đế, a bà lợi mật đa, a du khất đố na, tu tỳ nễ tất chỉ đa, ra tả gia, đát tha yết tha gia. Đát điệt tha: Án, tát bà tang tất ca ra, bát lợi du để, đạt ma để, già ca na, sa ha mỗ trì ca để, tát bà bà, tỳ du để, ma ha na gia, bà lợi bà lê, sa ha.
Lại có 45 Hội Phật đồng lời, nói Kinh Vô Lượng Thọ Tông Yếu. Chân Ngôn là:
- Nam mô bạt già bột đế, a bà lợi mật đa, a du khất đố na, tu tỳ nễ tất chỉ đa, ra tả gia, đát tha yết tha gia. Đát điệt tha: Án , tát bà tang tất ca ra, bát lợi du để, đạt ma để, già ca na, sa ha mỗ trì ca để, tát bà bà, tỳ du để, ma ha na gia, bà lợi bà lê, sa ha.
Lại có 36 Hội Phật đồng lời, nói Kinh Vô Lượng Thọ Tông Yếu. Chân Ngôn là:
- Nam mô bạt già bột đế, a bà lợi mật đa, a du khất đố na, tu tỳ nễ tất chỉ đa, ra tả gia, đát tha yết tha gia. Đát điệt tha: Án, tát bà tang tất ca ra, bát lợi du để, đạt ma để, già ca na, sa ha mỗ trì ca để, tát bà bà, tỳ du để, ma ha na gia, bà lợi bà lê, sa ha.
Lại có 25 Hội Phật đồng lời, nói Kinh Vô Lượng Thọ Tông Yếu. Chân Ngôn là:
- Nam mô bạt già bột đế, a bà lợi mật đa, a du khất đố na, tu tỳ nễ tất chỉ đa, ra tả gia, đát tha yết tha gia. Đát điệt tha : Án , tát bà tang tất ca ra, bát lợi du để, đạt ma để, già ca na, sa ha mỗ trì ca để, tát bà bà, tỳ du để, ma ha na gia, bà lợi bà lê, sa ha.
Lại có hằng hà sa Hội Phật đồng lời, nói Kinh Vô Lượng Thọ Tông Yếu. Chân Ngôn là:
- Nam mô bạt già bột đế, a bà lợi mật đa, a du khất đố na, tu tỳ nễ tất chỉ đa, ra tả gia, đát tha yết tha gia. Đát điệt tha: Án, tát bà tang tất ca ra, bát lợi du để, đạt ma để, già ca na, sa ha mỗ trì ca để, tát bà bà, tỳ du để, ma ha na gia, bà lợi bà lê, sa ha.
Nầy Thiện Nam Tử! Nếu có người tự chép hoặc bảo người chép Kinh Vô Lượng Thọ Tông Yếu, dầu cho sắp chết cũng lại sống đủ trăm năm. Chân Ngôn là:
- Nam mô bạt già bột đế, a bà lợi mật đa, a du khất đố na, tu tỳ nễ tất chỉ đa, ra tả gia, đát tha yết tha gia. Đát điệt tha: Án, tát bà tang tất ca ra, bát lợi du để, đạt ma để, già ca na, sa ha mỗ trì ca để, tát bà bà, tỳ du để, ma ha na gia, bà lợi bà lê, sa ha.
Nếu có người tự chép hoặc bảo người chép Kinh Vô Lượng Thọ Tông Yếu, thọ trì đọc tụng rành rẽ thì người đó không đọa Địa Ngục, sanh chỗ nào cũng được Túc Mệnh Trí. Chân Ngôn là:
- Nam mô bạt già bột đế, a bà lợi mật đa, a du khất đố na, tu tỳ nễ tất chỉ đa, ra tả gia, đát tha yết tha gia. Đát điệt tha: Án, tát bà tang tất ca ra, bát lợi du để, đạt ma để, già ca na, sa ha mỗ trì ca để, tát bà bà, tỳ du để, ma ha na gia, bà lợi bà lê, sa ha.
Nếu có người viết chép hoặc bảo người viết chép Kinh Vô Lượng Thọ Tông Yếu, thọ trì đọc tụng thì công đức bằng viết chép tám vạn bốn ngàn tất cả Kinh Điển. Chân Ngôn là:
- Nam mô bạt già bột đế, a bà lợi mật đa, a du khất đố na, tu tỳ nễ tất chỉ đa, ra tả gia, đát tha yết tha gia. Đát điệt tha: Án, tát bà tang tất ca ra, bát lợi du để, đạt ma để, già ca na, sa ha mỗ trì ca để, tát bà bà , tỳ du để, ma ha na gia, bà lợi bà lê, sa ha.
Nếu có người viết chép hoặc bảo người viết chép Kinh Vô Lượng Thọ Tông Yếu, tức bằng viết chép tám vạn bốn ngàn Bộ tạo lập Tháp Miếu. Chân Ngôn là:
- Nam mô bạt già bột đế, a bà lợi mật đa, a du khất đố na, tu tỳ nễ tất chỉ đa, ra tả gia, đát tha yết tha gia. Đát điệt tha: Án, tát bà tang tất ca ra, bát lợi du để, đạt ma để, già ca na, sa ha mỗ trì ca để, tát bà bà , tỳ du để, ma ha na gia, bà lợi bà lê, sa ha.
Nếu có người tự viết chép hoặc bảo người viết chép Kinh Vô Lượng Thọ Tông Yếu thì hay trừ diệt 5 tội Vô Gián cùng các tội nặng khác. Chân Ngôn là:
- Nam mô bạt già bột đế, a bà lợi mật đa, a du khất đố na, tu tỳ nễ tất chỉ đa, ra tả gia, đát tha yết tha gia. Đát điệt tha: Án, tát bà tang tất ca ra, bát lợi du để, đạt ma để, già ca na, sa ha mỗ trì ca để, tát bà bà, tỳ du để, ma ha na gia, bà lợi bà lê, sa ha.
Nếu có người tự viết chép hoặc bảo người khác viết chép Kinh Vô Lượng Thọ Tông Yếu, thọ trì đọc tụng. Giả sử phạm tội như núi Tu Di cũng đều diệt hết. Chân Ngôn là:
- Nam mô bạt già bột đế, a bà lợi mật đa, a du khất đố na, tu tỳ nễ tất chỉ đa, ra tả gia, đát tha yết tha gia. Đát điệt tha: Án, tát bà tang tất ca ra, bát lợi du để, đạt ma để, già ca na, sa ha mỗ trì ca, tát bà bà, tỳ du để, ma ha na gia, bà lợi bà lê, sa ha.
Nếu có người viết chép hoặc bảo người khác viết chép Kinh Vô Lượng Thọ Tông Yếu, thọ trì đọc tụng sẽ không bị các Ma và các quyến thuộc, Dạ Xoa, La Sát làm hại. Không bị chết vì điên cuồng. Chân Ngôn là:
- Nam mô bạt già bột đế, a bà lợi mật đa, a du khất đố na, tu tỳ nễ tất chỉ đa, ra tả gia, đát tha yết tha gia. Đát điệt tha: Án, tát bà tang tất ca ra, bát lợi du để, đạt ma để, già ca na, sa ha mỗ trì ca để, tát bà bà, tỳ du để, ma ha na gia, bà lợi bà lê, sa ha.
Nếu có người tự viết chép hoặc bảo người khác viết chép Kinh Vô Lượng Thọ Tông Yếu, thọ trì đọc tụng thì lúc sắp mệnh chung có 99 Hội Phật hiện ra trước mắt, được ngàn Phật thọ ký, hoặc đi đến mười phương các Cõi Phật, không nên đối với Kinh này sanh lòng nghi. Chân Ngôn là:
- Nam mô bạt già bột đế, a bà lợi mật đa, a du khất đố na, tu tỳ nễ tất chỉ đa, ra tả gia, đát tha yết tha gia. Đát điệt tha: Án, tát bà tang tất ca ra, bát lợi du để, đạt ma để, già ca na, sa ha mỗ trì ca để, tát bà bà, tỳ du để, ma ha na gia, bà lợi bà lê, sa ha.
Nếu có người tự viết chép hoặc bảo người viết chép Kinh Vô Lượng Thọ Tông Yếu, thọ trì đọc tụng thì thường được 4 vị Đại Thiên Vương luôn theo hộ vệ. Chân Ngôn là:
- Nam mô bạt già bột đế, a bà lợi mật đa, a du khất đố na, tu tỳ nễ tất chỉ đa, ra tả gia, đát tha yết tha gia. Đát điệt tha: Án, tát bà tang tất ca ra, bát lợi du để, đạt ma để, già ca na, sa ha mỗ trì ca để, tát bà bà, tỳ du để, ma ha na gia, bà lợi bà lê, sa ha.
Nếu có người tự viết chép hoặc bảo người khác biên chép Kinh Vô Lượng Thọ Tông Yếu, tức được vãng sanh nơi cõi Tây Phương Cực Lạc Thế Giới của Đức Phật A Di Đà. Chân Ngôn là:
- Nam mô bạt già bột đế, a bà lợi mật đa, a du khất đố na, tu tỳ nễ tất chỉ đa, ra tả gia, đát tha yết tha gia. Đát điệt tha: Án, tát bà tang tất ca ra, bát lợi du để, đạt
ma để, già ca na, sa ha mỗ trì ca để, tát bà bà, tỳ du để, ma ha na gia, bà lợi bà lê, sa ha.
Nếu có người tự viết chép hoặc bảo người khác viết chép Kinh Vô Lượng Thọ Tông Yếu thì nơi đó tức là Tháp Phật , cần nên cung kính đảnh lễ. Nếu có các loại súc sanh, cầm thú … nghe được Kinh này thì không lâu sẽ được Nhất Thiết Chủng Trí. Chân Ngôn là:
- Nam mô bạt già bột đế, a bà lợi mật đa, a du khất đố na, tu tỳ nễ tất chỉ đa, ra tả gia, đát tha yết tha gia. Đát điệt tha: Án, tát bà tang tất ca ra, bát lợi du để, đạt ma để, già ca na, sa ha mỗ trì ca để, tát bà bà, tỳ du để, ma ha na gia, bà lợi bà lê, sa ha.
Nếu có người đối với Kinh Vô Lượng Thọ này hoặc tự viết chép hoặc bảo người viết chép sẽ không còn thọ thân nữ nữa. Chân Ngôn là:
- Nam mô bạt già bột đế, a bà lợi mật đa, a du khất đố na, tu tỳ nễ tất chỉ đa, ra tả gia, đát tha yết tha gia. Đát điệt tha: Án, tát bà tang tất ca ra, bát lợi du để, đạt ma để, già ca na, sa ha mỗ trì ca để, tát bà bà, tỳ du để, ma ha na gia, bà lợi bà lê, sa ha.
Nếu có người đem bố thí Kinh này thì bằng bố thí 7 báu đầy cả 3000 Đại Thiên Thế Giới. Chân Ngôn là:
- Nam mô bạt già bột đế, a bà lợi mật đa, a du khất đố na, tu tỳ nễ tất chỉ đa, ra tả gia, đát tha yết tha gia. Đát điệt tha: Án, tát bà tang tất ca ra, bát lợi du để, đạt ma để, già ca na, sa ha mỗ trì ca để, tát bà bà, tỳ du để, ma ha na gia, bà lợi bà lê, sa ha.
Nếu có người hay cúng dường Kinh Điển này tức như cúng dường tất cả Kinh Điển vậy. Chân Ngôn là:
- Nam mô bạt già bột đế, a bà lợi mật đa, a du khất đố na, tu tỳ nễ tất chỉ đa, ra tả gia, đát tha yết tha gia. Đát điệt tha: Án, tát bà tang tất ca ra, bát lợi du để, đạt ma để, già ca na, sa ha mỗ trì ca để, tát bà bà, tỳ du để, ma ha na gia, bà lợi bà lê, sa ha.
Nếu có người dùng 7 Báu cúng dường 7 Đức Phật như Phật Tỳ Bà Thi, Thi Khí, Tỳ Xá Phù, Câu Lưu Tôn, Câu Na Hàm Mâu Ni, Ca Diếp, Phật Thích Ca Mâu Ni thì phước đức này còn có hạn lượng. Còn viết chép thọ trì đọc tụng Kinh Điển Vô Lượng Thọ này ắt công đức không thể biết hết được. Chân Ngôn là:
- Nam mô bạt già bột đế, a bà lợi mật đa, a du khất đố na, tu tỳ nễ tất chỉ đa, ra tả gia, đát tha yết tha gia. Đát điệt tha: Án, tát bà tang tất ca ra, bát lợi du để, đạt ma để, già ca na, sa ha mỗ trì ca để, tát bà bà, tỳ du để, ma ha na gia, bà lợi bà lê, sa ha.
Nếu đem 7 Báu nhiều như núi Tu Di, làm bố thí thì công đức này còn có thể biết hạn lượng. Còn viết chép, đọc tụng, cúng dường, bố thí Kinh Điển nầy thì phước đức không thể đếm hết được. Chân ngôn là:
- Nam mô bạt già bột đế, a bà lợi mật đa, a du khất đố na, tu tỳ nễ tất chỉ đa, ra tả gia, đát tha yết tha gia. Đát điệt tha: Án, tát bà tang tất ca ra, bát lợi du để, đạt ma để, già ca na, sa ha mỗ trì ca để, tát bà bà, tỳ du để, ma ha na gia, bà lợi bà lê, sa ha.
Như nước bốn biển còn có thể biết được số lượng là bao nhiêu. Còn quả báo viết chép, thọ trì, đọc tụng, cúng dường, bố thí Kinh Điển này ắt không thể tính đếm được số lượng. Chân Ngôn là:
- Nam mô bạt già bột đế, a bà lợi mật đa, a du khất đố na, tu tỳ nễ tất chỉ đa, ra tả gia, đát tha yết tha gia. Đát điệt tha: Án, tát bà tang tất ca ra, bát lợi du để, đạt ma để, già ca na, sa ha mỗ trì ca để, tát bà bà, tỳ du để, ma ha na gia, bà lợi bà lê, sa ha.
Nếu có người tự viết chép hoặc bảo người khác viết chép Kinh Điển Vô Lượng Thọ này. Lại hay thọ trì, đọc tụng, cúng dường tức bằng cung kính cúng dường mười phương các cõi nước của chư Phật không khác. Chân Ngôn là :
- Nam mô bạt già bột đế, a bà lợi mật đa, a du khất đố na, tu tỳ nễ tất chỉ đa, ra tả gia, đát tha yết tha gia. Đát điệt tha: Án, tát bà tang tất ca ra, bát lợi du để, đạt ma để, già ca na, sa ha mỗ trì ca để, tát bà bà, tỳ du để, ma ha na gia, bà lợi bà lê, sa ha .
Sức của Bố Thí thành Chánh GiácNgộ được Bố Thí Nhân Sư TửLực của bố thí chuyển mọi ngườiDo đức Từ Bi lần thâm nhậpNhân sức Trì Giới thành Chánh GiácNgộ được Trì Giới Nhân Sư TửLực của Trì Giới chuyển mọi ngườiDo đức Từ Bi lần thâm nhậpSức của Nhẫn Nhục thành Chánh GiácNgộ được Nhẫn Nhục Nhân Sư TửLực của Nhẫn Nhục chuyển mọi ngườiDo đức Từ Bi lần thâm nhậpNhân sức Tinh Tấn thành Chánh GiácNgộ được Tinh Tấn Nhân Sư TửLực của Tinh Tấn chuyển mọi ngườiDo đức Từ Bi lần thâm nhậpSức của Thiền Định thành Chánh GiácNgộ sức Thiền Định Nhân Sư TửLực của Thiền Định chuyển mọi người
Do đức Từ Bi lần thâm nhậpNhân sức Trí Huệ thành Chánh GiácNgộ được Trí Huệ Nhân Sư TửLực của Trí Huệ chuyển mọi ngườiDo đức Từ Bi lần thâm nhập
Bấy giờ, Đức Như Lai nói Kinh này xong thì tất cả Thế gian, Trời, Người, A Tu La, Càn Thát Bà… nghe Phật nói đều rất vui mừng, tin nhận vâng làm.
PHẬT NÓI KINH VÔ LƯỢNG THỌ TÔNG YẾU ( Hết )
MẬT TẠNG PHẬT GIÁO VIỆT NAM
TẬP II
Ban phiên dịch:Thích Viên Đức, Thích Thiền Tâm
Thích Quảng Trí, Thích Thông ĐứcCư sĩ Huỳnh Thanh, Như Pháp Quân
---o0o---
MẬT TẠNG VIỆT NAM SỐ 24
PHẬT THUYẾT ĐÀ LA NI ĐẠI THỪA NHƯ LAI THÁNH VÔ LƯỢNG THỌ QUYẾT ĐỊNH QUANG MINH VƯƠNG
MẬT TẠNG BỘ 2 NO 937 ( Tr. 85 - Tr. 86 )
Tam Tạng Sa Môn Pháp Thiên phụng chiếu
dịch Phạn ra Hán.
Sa Môn Thích Quảng Trí dịch Hán ra Việt văn.
Ta nghe như thế này: Một thời Đức Thế Tôn ở tại nước Xá Vệ, rừng cây Kỳ Đà, vườn Cấp Cô Độc cùng với các Đại Tỳ Kheo 1250 người đầy đủ, đều là các bậc Lậu Tận, không còn các phiền não, đắc được các Pháp Giải Thoát, việc cần làm đã làm xong, là các Đại A La Hán mà mọi người đều biết. Lại có các vị đầy đủ Trí Tuệ, công đức rộng lớn, oai nghi trang nghiêm, các Bồ Tát Ma Ha Tát vì muốn nghe Pháp đều lại tập hội ở nơi Đại Chúng, do Bồ Tát Ma Ha Tát Đại Tuệ Diệu Cát Tường đứng đầu.
Bấy giờ Đức Thích Ca Mâu Ni thương xót chúng sanh nơi đời sau thường bị chết non, khiến họ được kéo dài mạng sống, được lợi ích lớn mà nói Pháp Môn tối thắng không thể suy lường, Pháp bí mật thâm sâu vi diệu.
Đức Phật bảo Bồ Tát Đại Tuệ Diệu Cát Tường rằng: "Ông nên lắng nghe! Từ cõi Nam Diêm Phù Đề qua phía Tây, vượt khỏi vô lượng cõi Phật, có Thế Giới tên là Vô Lượng Công Đức Tạng, cõi nước đẹp đẽ, dùng các báu trang nghiêm, sạch sẽ thù thắng an vui sung sướng, vi diệu bậc nhất không cõi nào bằng. Ở trong Thế Giới Vô Lượng Công Đức Tạng ấy có Đức Phật , hiệu là Như Lai Vô Lượng Thọ Quyết Định Quang Minh Vương, Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ Đề, nay đang ở cõi đó khởi Tâm Đại Bi vì chúng sanh, nói Diệu Pháp khiến được lợi ích an lạc bậc nhất".
Đức Phật lại bảo Bồ Tát Diệu Cát Tường rằng: "Nay ở trong cõi Diêm Phù Đề này, tuổi thọ của con người là một trăm năm, nhưng phần nhiều vì hay tạo các nghiệp ác nên phải chịu chết yểu. Này Diệu Cát Tường! Nếu có chúng sanh nghe được Đà La Ni Như Lai Vô Lượng Thọ Quyết Định Quang Minh Vương, cùng các thứ công đức thù thắng và nghe danh hiệu Phật, rồi tự chép hay bảo người chép Kinh này. Hoặc ở nhà nơi lầu cao, nơi Tịnh Xá, nơi cung điện thọ trì đọc tụng cung kính lễ bái. Dùng các thứ hoa, hương bột, hương đốt, hương thoa cúng dường Kinh Đà La Ni Vô Lượng Thọ Quyết Định Quang Minh Vương. Như vậy, người kia dẫu bị đoản mệnh, nếu hay chí thành như Pháp thọ trì cúng dường, đọc tụng, lễ bái sẽ được sống lâu trăm tuổi.
Lại nữa Diệu Cát Tường! Nếu có chúng sanh nghe được danh hiệu của Như Lai Vô Lượng Thọ Quyết Định Quang Minh Vương, chí Tâm xưng niệm 108 biến, chúng sanh thọ mệnh ngắn ngủi kia sẽ được tăng ích thọ mệnh. Hoặc chỉ nghe danh hiệu, một lòng tin tưởng tôn trọng cũng được sống lâu trăm tuổi.
Lại nữa Bồ Tát Diệu Cát Tường! Nếu như mọi thời, tâm không buông lung, chí thành cầu Diệu Pháp. Thiện Nam Tử, Thiện Nữ Nhân, các ngươi nghe đây! Nay Ta sẽ nói 108 Danh Hiệu Đà La Ni Như Lai Vô Lượng Thọ Quyết Định Quang Minh Vương. Chân Ngôn là:
-Nam mô bà nga phạ đế, a bá lị nhi đá nghê dã nẵng, vĩ nĩnh thất chỉ đát, đế tô, ra nhạ dã, đát tha nga đa dã, ra hạ đế, tam dược khất tam bột đà dã, Đát nễ dã
tha: Án, tát phạ tăng tắc ca ra, bà lị vũ đà, đạt lặc ma đế, nga nga nẵng, mẫu nỗ bách đế, sa phạ bà phạ, vĩ vũ đệ, ma hạ nẵng dã, bà lị phạ lê, sa phạ ha.
(NAMO BHAGAVATE APARIMITA AJURJNÕÀNA, SUVINE ‘SCITA, TEJA, RÀJAYA, TATHÀGATÀYA, ARHATE, SAMYAKSAMBUDDHÀYA TADYATHÀ: OM-SAMSKÀRA PARI’SUDDHA DHARMATE, GAGANA SAMUDGATE SVABHÀVA VI’SUDDHE, MAHÀ NAYA PARIVERE SVÀHA ).Ø
Bồ Tát Diệu Cát Tường! Vô Lượng Thọ Quyết Định Quang Minh Vương Như Lai 108 Danh Hiệu này, nếu có người tự viết chép hoặc bảo người khác viết chép rồi đặt ở lầu cao hoặc ở điện đường, nơi chốn sạch sẽ… như Pháp bày biện các món cúng dường, thì người thọ mệnh ngắn ngủi được tăng tuổi sống lâu trăm năm, sau khi mệnh chung được vãng sanh về Thế Giới Vô Lượng Công Đức Tạng của Phật Vô Lượng Thọ Quyết Định Quang Minh Vương" .
Lúc Đức Phật Thích Ca Mâu Ni nói Kinh Đà La Ni Như Lai Vô Lượng Thọ Quyết Định Quang Minh Vương, đồng thời có 99 Cu Chi Phật khác miệng đồng lời cũng nói Kinh Đà La Ni Vô Lượng Thọ Quyết Định Quang Minh Vương.
Lại cũng có 88 Cu Chi Phật khác miệng đồng lời, nói Kinh Đà La Ni Vô Lượng Thọ Quyết Định Quang Minh Vương.
Lại cũng có 77 Cu Chi Phật khác miệng đồng lời nói Kinh Đà La Ni Vô Lượng THọ Quyết Định Quang Minh Vương.
Lại cũng có 66 Cu Chi Phật khác miệng đồng lời, nói Kinh Đà La Ni Vô Lượng Thọ Quyết Định Quang Minh Vương.
Lại cũng có 55 Cu Chi Phật khác miệng đồng lời, nói Kinh Đà La Ni Vô Lượng Thọ Quyết Định Quang Minh Vương.
Lại cũng có 44 Cu Chi Phật khác miệng đồng lời, nói Kinh Đà La Ni Vô Lượng Thọ Quyết Định Quang Minh Vương.
Lại cũng có 36 Cu Chi Phật khác miệng đồng lời, nói Kinh Đà La Ni Vô Lượng Thọ Quyết Định Quang Minh Vương.
Lại cũng có 25 Cu Chi Phật khác miệng đồng lời, nói Kinh Đà La Ni Vô Lượng Thọ Quyết Định Quang Minh Vương.
Lại cũng có 10 Hằng Hà Sa số Cu Chi Phật, các Phật đều không sai biệt, đồng lời nói Kinh Đà La Ni Vô Lượng Thọ Quyết Định Quang Minh Vương.
Kinh Đà La Ni này, nếu có người tự viết chép hoặc bảo người chép thì người này từ đây trở về sau không bị đọa Địa Ngục, Ngạ Quỷ, Súc Sanh, không đọa vào cõi Diêm La Vương, Minh Quan Nghiệp Đạo; nơi các đường ác thọ các khổ… đều vĩnh viễn xa lìa. Như vậy đều do sức công đức viết chép Kinh Đà La Ni Vô Lượng Thọ Quyết Định
Quang Minh Vương. Từ đây về sau, đời đời kiếp kiếp, sanh ở chốn nào cũng đều được Túc Mệnh Trí.
Kinh Đà La Ni Vô Lượng Thọ Quyết Định Quang Minh Vương, nếu mình tự chép hoặc bảo người khác chép thì công đức ngang bằng sự viết chép tám vạn bốn ngàn Pháp Tạng không sai khác. Kinh Đà La Ni Vô Lượng Thọ Quyết Định Quang Minh Vương này, nếu có người tự chép hoặc bảo người biên chép thì công đức đồng với sự xây dựng ( kiến lập ) tám vạn bốn ngàn Tháp báu không sai khác.
Kinh Đà La Ni Vô Lượng Thọ Quyết Định Quang Minh Vương, nếu có người tự chép hoặc bảo người chép thì người này do sức công đức mà các tội nghiệp nơi năm Địa Ngục Vô Gián đều được tiêu trừ.
Kinh Đà La Ni Vô Lượng Thọ Quyết Định Quang Minh Vương Đà La Ni này, nếu có người chép hoặc bảo người chép thì người này không bị đọa làm Ma Vương và các quyến thuộc của Ma, không đọa vào các loài Dạ Xoa La Sát…không bị chết oan uổng, vĩnh viễn không thọ các quả báo ác.
Kinh Đà La Ni Vô Lượng Thọ Quyết Định Quang Minh Vương này, nếu có người tự chép hoặc bảo người chép thì người này khi mệnh chung có 99 Cu Chi Phật hiện ra trước mặt tiếp dẫn về cõi Phật kia. Các ngươi không nên sanh lòng nghi ngờ.
Kinh Đà La Ni Vô Lượng Thọ Quyết Định Quang Minh Vương này, nếu có người tự chép hoặc bảo người chép thì người này đời sau vĩnh viễn không thọ thân Nữ nữa.
Kinh Đà La Ni Vô Lượng Thọ Quyết Định Quang Minh Vương này, nếu có người tự chép hoặc bảo người chép thì người này liền được Đông Phương Càn Thát Bà Chủ Trì Quốc Thiên Vương, Nam Phương Cưu Bàn Trà Chủ Tăng Trưởng Thiên Vương, Tây Phương Long Chủ Quảng Mục Thiên Vương, Bắc Phương Đại Dạ Xoa Chủ Đa Văn Thiên Vương, ẩn dấu thân hình thường theo ủng hộ.
Lại nếu có người đối với Kinh này đem chút ít tài bảo bố thí cũng bằng đem Kim Ngân, Lưu ly, Pha lê, Mã não, San hô, Hổ phách, 7 báu đầy dẫy trong 3000 Đại Thiên Thế Giới đều đem bố thí hết.
Nếu lại có người cúng dường Kinh Điển này cũng như cúng dường tất cả Pháp Tạng chân thật.
Lại nếu có người dùng 7 báu thật tốt cúng dường Phật Tỳ Bà Thi, Thi Khí, Tỳ Xá Phù, Câu Lưu Tôn, Câu Na Hàm Mâu Ni Ca Diếp, Thích Ca Mâu Ni Ứng Cúng Chánh Đẳng Giác….thì nơi được phước đức, không thể biết được. Lại nếu có người cúng dường Kinh Đà La Ni Như Lai Vô Lượng Thọ Quyết Định Quang Minh Vương thì công đức cũng không thể biết được hết. Lại như nước trong bốn biển không thể biết được có bao nhiêu giọt, nếu có người chép Kinh này cúng dường, thọ trì, đọc tụng, ắt phước đức có được cũng không thể biết rõ số lượng là bao nhiêu.
Lại nếu có người viết chép Kinh Đà La Ni Vô Lượng Thọ Quyết Định Quang Minh Vương, tức nơi đó thành tựu Tháp báu Chân Thân Xá Lợi của chư Phật, cần phải tôn trọng lễ lạy. Nếu có chúng sanh nghe ĐàLa Ni này, thì chúng sanh đó vĩnh viễn không còn thọ thân chim bay, thú chạy, loài có 4 chân hay nhiều chân, các thân hình kỳ dị, đời sau mau thành tựu Bất Thoái Chuyển Chánh Đẳng Bồ Đề.
Lại nếu có người chất chứa 7 báu: vàng, bạc, Lưu ly, Xà cừ, Mã não, San hô, Hổ phách cao như núi Tu Di đem bố thí hết thì phước đức đó không thể tính đếm được. Lại nếu có người bố thí đem Kinh Đà La Ni Vô Lượng Thọ Quyết Định Quang Minh Vương mà bố thí, tức được phước đức không thể biết rõ là bao nhiêu. Lại nếu có người viết chép Kinh Đà La Ni Như Lai Vô Lượng Thọ Quyết Định Quang Minh Vương, lễ bái cúng dường cũng bằng lễ bái cúng dường mười phương tất cả cõi nước tất cả Như Lai không khác".
Bấy Giờ Đức Thế Tôn Thích Ca Mâu Ni lại nói Kệ rằng :
Tu hạnh Bố thí khiến thành tựu
Công đức Bố thí được thành Phật
Nếu vào trong Tịnh thất Đại Bi
Nơi tai nghe được Đà La Ni
Giả sử Bố Thí chưa đầy đủ
Người này mau chứng Thiên Nhân Sư
Tu hành Trì giới khiến thành tựu
Do sức Trì giới được kết thành
Nếu vào trong Tịnh Thất Đại Bi
Nơi tai nghe được Đà La Ni
Giả sử Trì giới chưa đầy đủ
Người này mau chứng Thiên Nhân Sư
Tu hành Nhẫn nhục khiến thành tựu
Do sức Nhẫn nhục được thành Phật
Nếu vào trong Tịnh Thất Đại Bi
Nơi tai nghe được Đà La Ni
Giả sử Nhẫn nhục chưa đầy đủ
Người này mau chứng Thiên Nhân Sư
Tu hành Tinh tấn khiến thành tựu
Do sức Tinh tấn được thành Phật
Nếu vào trong Tịnh Thất Đại Bi
Nơi tai nghe được Đà La Ni
Giả sử Tinh tấn chưa đầy đủ
Người này mau chứng Thiên Nhân Sư
Tu hành Thiền định khiến thành tựu
Do sức Thiền định được thành Phật
Nếu vào trong Tịnh Thất Đại Bi
Nơi tai nghe được Đà La Ni
Giả sử Thiền định chưa đầy đủ
Người này mau chứng Thiên Nhân Sư
Tu hành Trí huệ khiến thành tựu
Do sức Trí Huệ được thành Phật
Nếu ở trong Tịnh Thất Đại Bi
Nơi tai nghe được Đà La Ni
Giả sử Trí huệ chưa đầy đủ
Người này mau chứng Thiên Nhân Sư
Khi Đức Phật nói Kinh này xong, các chúng Đại Tỳ Kheo cùng chư Bồ Tát, tất cả Thế gian, Trời, Người, A Tu La, Càn Thát Bà… nghe lời Phật dạy đều rất vui mừng và đồng tin chịu vâng làm.
ĐÀ LA NI THÁNH VÔ LƯỢNG THỌ QUYẾT ĐỊNH QUANG MINH VƯƠNG
Phục hồi và chú giải Phạn Chú : Huyền Thanh
NAMO (Quy mạng kính lễ) BHAGAVATE (Thế Tôn) APARAMITA AJURJNÕÀNA (Vô Lượng Thọ Trí) SUVINE ‘SCITA TEJA (Quyết Định Quang Minh) RÀJAYA (Vương) TATHÀGATÀYA (Như Lai) ARHATE (Ứng Cúng) SAMYAKSAMBUDDHÀYA (Chánh Đẳng Chính Giác) TADYATHAØ (Như vậy, liền nói Chú là) :
- OM (Ba Thân quy mạng) SARVA SAMSKÀRA (Tất cả hoạt động của Tâm Trí) PARI’SUDDHA (Tối thượng thanh tịnh) DHARMATE (Pháp Tánh) GAGANA (Hư không) SAMUDGATE (Thắng thượng) SVABHÀVA (Tự Tánh) VI’SUDDHE (Thanh tịnh) MAHÀ NAYA (Rộng lớn bao la) PARIVERE (Thắng Nguyện) SVÀHAØ (Thành tựu Tự Tánh an lạc của Đại Niết Bàn ).
Toàn bài Đà La Ni trên có thể diễn dịch là :
Quy mạng kính lễ Đức Thế Tôn Như Lai Vô Lượng Thọ Trí Quyết Định Quang Minh Vương, Ứng Cúng Chính Đẳng Chính Giác. Như vậy:
OM ! Tất cả hoạt động Tâm Ý đều là Pháp Tánh cực thanh tịnh. Thanh Tịnh như tự tánh thắng thượng của Hư Không. Hãy phát khởi Thắng Nguyện rộng lớn để mau chóng đạt được sự thanh tịnh an lạc của Đại Niết Bàn “
Ngày 12/ 02/ 1998
MẬT TẠNG PHẬT GIÁO VIỆT NAM
TẬP II
Ban phiên dịch:Thích Viên Đức, Thích Thiền Tâm
Thích Quảng Trí, Thích Thông ĐứcCư sĩ Huỳnh Thanh, Như Pháp Quân
---o0o---
MẬT TẠNG VIỆT NAM SỐ 25
KINH TẬP ĐÀ LA NI CỬU PHẨM VÃNG SINH
A DI ĐÀ TAM MA ĐỊA
Mật Tạng Bộ 2 No.933 ( Tr.79 - Tr.80 )
Chùa Đại Hưng Thiện, Tam Tạng Sa Môn Đại Quảng Trí Bất Không phụng chiếu dịch Phạn ra Hán văn.
Việt dịch : Huyền Thanh
Bấy giờ Đức Như Lai Tỳ Lô Giá Na ngự tại tịnh xá Đại Tam Địa Môn cùng với chúng Tỳ Kheo gồm 89000 người đến dự, đều là bậc Đại A La Hán có đầy đủ Tuệ Thiện, đã làm xong việc cần làm. Tên các vị đó là: Thần Lực Trí Biện Bồ Tát Quán Thế Âm, Bồ Tát Đắc Đại Thế, Bồ Tát Thần Thông Tự Tại, Bồ Tát Tĩnh Quang Vô Cấu Đà La Ni, Bồ Tát Đại Lực Phổ Văn (Nghe rộng khắp ), Bồ Tát Đại Trang Nghiêm Lực, Bồ Tát Vô Lượng Quang, Bồ Tát Tuệ Thiện Tuệ Phổ Quang Vương. Các vị Đại Bồ Tát và chúng Thanh Văn như vậy đi đến chỗ Phật ngự, bạch rằng: "Bạch Thế Tôn! Cõi Vô Lượng Thọ có Cửu Phẩm Tịnh Thức Tam Ma Địa. Đây tức là cảnh giới của chư Phật, nơi cư ngụ của Như Lai. Chư Phật ba đời đều y theo đó mà thành Chánh Giác, đầy đủ ba Minh, tăng trưởng Phước Tuệ. Cảnh giới của Chín Phẩm ấy là:
* Thượng Phẩm Thượng Sanh Chân Sắc Địa.
* Thượng Phẩm Trung Sanh Vô Cấu Địa.
* Thượng Phẩm Hạ Sanh Ly Cấu Địa.
* Trung Phẩm Thượng Sanh Thiện Giác Địa.
* Trung Phẩm Trung Sanh Minh Lực Địa.
* Trung Phẩm Hạ Sanh Vô Lậu Địa.
* Hạ Phẩm Thượng Sanh Chân Giác Địa.
* Hạ Phẩm Trung Sanh Hiền Giác Địa.
* Hạ Phẩm Hạ Sanh Lạc Môn Địa.
Đây gọi là Cảnh Chân Như của Cửu Phẩm Tịnh Thức. Nội tọa (chỗ ngồi bên trong ) đó có12 Đại Man Đà La là Chân Tượng (Hình tượng chân thật ) của Đại Viên Cảnh Trí. Tên các Chân Tượng đó là:
1 - Nhất Thiết Tam Đạt, Phật Vô Lượng Quang
2 - Biến Giác Tam Minh, Phật Vô Biên Quang
3 - Chí Đạo Tam Minh, Phật Vô Ngại Quang
4 - Lục Chân Lý Trí Quang Minh, Phật Vô Đối Quang
5 - Sắc Thiện Tam Minh, Phật Diễm Vương Quang
6 - Nhất Thiết Tam Minh, Phật Thanh Tịnh Quang
7 - Phổ Môn Tam Minh, Phật Hoan Hỷ Quang
8 - Nhập Tuệ Tam Minh, Phật Trí Tuệ Quang
9 - Quang Sắc Tam Minh, Phật Bất Đoạn Quang
10 - Minh Đạt Tam Minh, Phật Nan Tư Quang
11 - Ngũ Đức Tam Minh, Phật Vô Xứng Quang
12 - Trí Lực Tam Minh, Phật Siêu Nhật Nguyệt Quang.
Chư Phật Như Lai như vậy là Chân Sắc Cụ Túc (Đầy đủ sắc tướng chân thật), là nơi y cứ của tướng Bi của tất cả Như Lai ba đời.
Nếu có chúng sinh muốn sinh về Cửu Phẩm Tịnh Thổ như vậy, thì nên tôn kính, niệm tưởng về 12 Viên Diệu ấy. Ngày đêm ba thời, xưng niệm Củu Phẩm Tịnh Thổ như
vậy, tán thán danh hiệu của 12 vị Quang Phật, tức vĩnh viễn ra khỏi nhà lửa của Tam Giới, quyết định sanh Chân Như, xa lìa Hữu Lậu, nhập hẳn vào Vô Lậu.
Nếu có người muốn vào cảnh Tam Ma Địa nầy, dắt được đầy đủ: Phật Tuệ, Tâm Tịch Tĩnh, Thân Thanh Tịnh thì nên quán niệm Chân Ngôn Đại Tam Ma Gia Thật Tướng. Chú là:
- Án, A mật lật đế tế già lam, hồng.
( OM- AMRTA TEJE HARA - HÙM ).
Này Thiện Nam Tử ! Chân Ngôn Phạm Chú nầy là vị trí thuộc Lý Trí cứu cánh của tất cả chư Phật Như Lai ba đời ở mười phương, là căn bản của 12 Không Nguyện.
Nếu đệ tử Ta muốn làm lợi lạc cho ba cõi, lợi ích cho Trời Người thì nên viết chép Kinh này. Người thọ trì, đọc tụng sẽ tăng trưởng Phước Lạc, Trí Tuệ biện tài vô ngại, được tăng Thọ Mạng Sắc Lực, tiêu diệt nghiệp chướng, vạn bệnh tiêu trừ, tăng trưởng lòng Từ Bi, không có gì không đầy đủ Sắc Thiện. Huống là chí tâm viết chép, đọc tụng sẽ độ giúp cho ba đời không còn sanh tử trong nhà lửa Tam giới. Công năng tụng niệm làm cho Hành giả vãng sanh về Tịnh Thổ Cửu Phẩm của Giới Hội Cực Lạc.
Bấy giờ, Đại Chúng nghe được lời Đức Phật dạy đều rất vui vẻ, tin nhận phụng hành.
Ghi Chú về :
Tâm chú Cửu Tự của Phật A Di Đà
- OM : Thân, Khẩu, Ý
- AMRTA : Cam Lộ bất tử
- TEJE : Uy Quang
- HARA : Thâu nhiếp
- HÙM : Ta thành tựu
Toàn câu Chú có thể diễn dịch là :
( Thân, Khẩu, Ý hãy thâu nhiếp ánh sáng uy đức của Cam Lộ bất tử mà thành tựu).
Ngày12 /07/ 1997
MẬT TẠNG PHẬT GIÁO VIỆT NAM
TẬP II
Ban phiên dịch:Thích Viên Đức, Thích Thiền Tâm
Thích Quảng Trí, Thích Thông ĐứcCư sĩ Huỳnh Thanh, Như Pháp Quân
---o0o---
MẬT TẠNG VIỆT NAM SỐ 26
BỒ TÁT ĐẠI TÙY CẦU
DẪN NHẬP
Bồ Tát Đại Tùy Cầu có tên Phạn là Maha Pratisàrah, dịch âm là Ma Ha Bát La Để Tát Lạc, lược xưng là Bồ Tát Tùy Cầu Ngài là một Hóa Thân của Bồ Tát Quán Âm và là một Tôn trong Quán Âm Viện trong Thai Tạng Giới Man Đa La của Mật Giáo. Do Tôn này thường tùy theo sự nguyện cầu của chúng sanh mà diệt trừ tội Vô Gián; trừ tai nạn về nước, lửa, đao binh, thuốc độc; trừ nạn rồng cá; miễn trừ nạn vua quan; cầu mưa; làm ngưng mưa gió; ban cho con cái, giúp được vãng sinh về cõi Cực Lạc…. nên có tên là Đại Tùy Cầu.
Tôn này có thân hình màu vàng đậm, 8 cánh tay dơ cao theo dạng Vô Úy. Bên phải, theo thứ tự 4 tay cầm: Chày Kim Cang Ngũ Cổ, Kích Xoa, Kiếm báu, Búa. Bên trái, 4 tay theo thứ tự cầm: Hoa sen (hoặc bánh xe), Rương Kinh Phạn, Phướng báu, sợi dây.
Theo Chùa Thiền Lâm, thì tay bên phải cầm sợi dây, tay bên trái cầm Kích Xoa. Như vậy thì 2 vật khí này được ghi nhận trái ngược nhau. Nay căn cứ vào Bản Kinh Phổ Biến Quang Minh Thanh Tĩnh Xí Thạnh Như Ý Bảo Ấn Tâm Vô Năng Thắng Đại Minh Vương Đại Tùy Cầu Đà-La-Ni, thì 4 bài Chân Ngôn ghi trong quyển Thượng biểu thị cho Vô Năng Thắng Minh Vương Đại Tâm Chân Ngôn hàm chứa 4 tay Ấn: Ngũ Cổ Kim Cang Ấn, Phủ Việt Ấn, Sách Ấn, Kiếm Ấn. Còn 4 bài Chân Ngôn ghi trong quyển Hạ biểu thị cho Vô Năng Thắng Minh Phi Đại Tâm Chân Ngôn bao hàm 4 tay Ấn: Luân Ấn, Tam Cổ Xoa Ấn, Như Ý Bảo Ấn, Đại Minh Tổng Trì Ấn. Do vậy, thì vật khí bên trái chính là sợi dây và vật khí bên phải chính là cây Kích.
Tôn này có Mật Hiệu là Dữ Nguyện Kim Cang. Chủng Tử là Pra ( ) biểu thị cho Chân Đế (Pa: Nhất Nghĩa Đế) vàTục Đế (Ra: Bụi của cõi tục), nên được xưng là Lý Trí Bất Nhị Tôn. Tam Muội Gia Hình là rương Kinh Phạn (Phạn Khiếp) là Lý biểu thị cho Định Tuệ Nhất Thể. Ngoài ra, Tôn này còn có các Chủng Tử khác là: Sa,Vam, Ah, Hùm với Tam Muội Gia Hình là: Chày Ngũ Cổ, Tháp Suất Đỗ Ba trong đó có chứa rương Kinh Phạn.
Theo Tùy Cầu Bát Ấn tinh (và) Thập Đại Ấn (1 Quyển Duy Cẩn-Từ Vận) thì có 10 Ấn, nhưng chỉ lưu truyền cho thế gian 8 Ấn. Tám Ấn này biểu thị cho 8 vật khí cầm tay, khi kết các Ấn này sẽ hiển hiện 8 tay của Bổn Tôn. Trong đó, 4 tay bên phải với 4 Chân ngôn biểu thị cho Vô Năng Thắng Minh Vương; 4 tay bên trái với 4 Chân ngôn biểu thị cho Vô Năng Thắng Minh Phi.
Tám Ấn Chân Ngôn là :
1. Ấn Ngũ Cổ Kim Cang Xử (Ấn Căn Bản): Hai tay cài chéo nhau bên trong rồi nắm lại thành quyền (Nội tương xoa) hợp cứng 2 ngón giữa, đặt 2 ngón trỏ ở sau ngón giữa và hơi co lại như móc câu. Đều hợp cứng 2 ngón út và 2 ngón cái, rồi hơi co lại liền thành. Ấn này còn được gọi là Ấn Tùy Cầu Đại Hộ Minh Vương, Ấn Phát Bồ Đề Tâm, Ấn Sám Hối. Khi kết xong thì gia trì ở 5 nơi là: trái tim, đỉnh đầu, tam tinh, lông mày bên phải, lông mày bên trái. Chân Ngôn là Avìra Hùm Kham, trong đó A (Trì quốc: Giữ gìn đất nước) Vì (Lấy Đại Bi làm gốc) Ra (Phương tiện làm cứu cánh) Hùm (Tất cả Như Lai Bí Mật Thần Thông) Kham (Các Pháp chân thật: Tất cả các Pháp rốt cuộc quy về Không Không) hoặc Đại Chân Ngôn.
Đại Chân Ngôn tên Phạn là Mahà pratisàra vidya dhàranïi lại ghi là: Tùy Cầu Tức Đắc Đại Tự Tại Đà La Ni, Đại Tùy Cầu Vô Năng Thắng Đà La Ni, Tùy Cầu Tức Đắc Chân Ngôn. Lược xưng là Tùy Cầu Đà La Ni. Đây là Chân Ngôn hay tiêu diệt tất cả tội chướng, phá trừ nẻo ác, tùy sự mong cầu liền được phước đức.
Câu chữ của Chân Ngôn này thì các Kinh ghi không giống nhau. Tuy vậy, nội dung của Chân Ngôn thì không khác nhau bao nhiêu. Ví dụ bản của Ngài Đại Quảng Trí Bất Không ghi là Mama Sarvasatvànàm Ca (Tôi và tất cả chúng hữu tình), còn bản của Ngài Bảo Tư Duy ghi là Mama Sya (Nhóm chúng tôi) hoặc một vài câu có ghi trong bản này, nhưng không được ghi trong bản kia. Tựu chung, nội dung của Bài Đại Chân Ngôn có thể chia làm ba đoạn.
* Đoạn đầu: Biểu thị cho lý Quy mạng chư Phật, Bồ Tát và Tam Bảo.
* Đoạn giữa: Diễn nói là Bồ Tát Tùy Cầu bạt tế hết thảy tội chướng, sự sợ hãi, bệnh tật của tất cả chúng sanh, khiến cho thân tâm an vui, viên mãn sự mong cầu.
* Đoạn cuối: Diễn nói là người thọ trì Đà La Ni sẽ được các hàng Trời, Rồng, Quỷ Thần… thủ hộ và được sự hộ niệm của tất cả Như Lai.
2. Ấn Phủ Việt: Tay trái úp, tay phải ngửa sao cho dính lưng nhau. 10 ngón tay cùng trợ nhau móc lưng như hình cái búa. Chân Ngôn là Nhất Thiết Như Lai Tâm Chân Ngôn.
3. Ấn Sách: Hai tay nội tương xoa, dựng 2 ngón giữa rồi hơi co lại sao cho phần trên trụ dính nhau giống như hình sợi dây, liền thành. Chân Ngôn là Nhất Thiết Như Lai Tâm Ấn Chân Ngôn.
4. Ấn Kiếm: Chắp 2 tay, co lóng giữa của 2 ngón giữa khiến cho đầu ngón cùng trụ nhau liền thành. Chân Ngôn là Nhất Thiết Như Lai Kim Cang Bị Giáp Chân Ngôn.
5. Ấn Luân: Hai tay Ngoại tương xoa, hợp đứng 2 ngón vô danh, giao cứng 2 ngón út, liền thành. Chân Ngôn là Nhất Thiết Như Lai Quán Đảnh Chân Ngôn.
6. Ấn Tam Cổ Xoa: Hai ngón cái vịn trên móng 2 ngón út. Các ngón còn lại hợp cứng như hình Tam Kích Xoa, liền thành. Chân Ngôn là Nhất Thiết Như Lai Kết Giới Chân Ngôn.
7. Ấn Như Ý Bảo: Hai tay Ngoại tương xoa, 2 ngón trỏ trụ như hình Báu, kèm cứng 2 ngón cái liền thành. Chân Ngôn là Nhất Thiết Như Lai Tâm Trung Tâm Chân Ngôn.
8. Ấn Đại Minh Tổng Trì: Tay trái ngửa ngay trái tim, đem tay phải úp trên tay trái, cùng cài nhau khiến cho bằng phẳng, liền thành. Chân Ngôn là Nhất Thiết Như Lai Tùy Tâm Chân Ngôn.
Tám Ấn Chân Ngôn này biểu thị cho Lý Trí. Riêng Ấn thứ tám (Ấn Phạn Khiếp) dung hòa 5 Trí của 2 Bộ. Tất cả chư Phật Pháp Tạng dùng 5 Trí làm gốc. Năm Trí của 2 Bộ hòa hợp biểu thị cho một Đại Pháp Giới, trong Cung Pháp Giới này dung nhiếp 8 vạn Pháp Tạng. Đại Sư nói theo thứ tự là Nghịch chuyển Tiểu Thừa, Thuận chuyển Đại Thừa. Trong rương Kinh Phạn dung nạp nghĩa thú rõ ràng của tất cả Giáo Pháp về Đại Tiểu Thừa, cho nên Ấn và Chân Ngôn này có công năng thù thắng. Do vậy, Ấn và Chân Ngôn này thường được dùng để tác Bổn Tôn gia trì. Ngoài ra, tụng Tùy Tâm Chân Ngôn có thể làm ngưng các tai nạn, diệt tội chướng và tất cả nguyện cầu đều được đầy đủ. Riêng Tùy Tâm Chân Ngôn thì Bản của Ngài Bảo Tư Duy có ghi thêm câu Kuru Cale (Làm cho lay động) vào cuối Bài Chú mà các Bản khác không có.
Thông thường, người tu Mật Pháp này hay trì tụng Lược Pháp của 8 Ấn - Chân Ngôn là:
1. Om- Vajràya Svàha (Ngũ Cổ)
2. Om- Pra'sù Svàha (Việt Phủ)
3. Om- Pà'sa Svàha (Quyến sách)
4. Om- Khànga Svàha (Bảo Kiếm)
5. Om- Cakra Svàha (Luân)
6. Om- Tri'sùla Svàha (Tam Cổ Xoa)
7. Om- Cintamani Svàha (Bảo)
8. Om- mahà Vidya Dhàrani Svàha (Phạn Khiếp).
Tám Đạo Chú này đều được 99 ức trăm ngàn na do tha hằng hà sa đẳng chư Phật cùng nhau diễn nói, cùng nhau khen ngợi, cùng nhau tùy hỷ, nên 8 Chân Ngôn này có thế lực lớn, hay hàng phục Ma chúng. Nếu viết chép, đeo giữ, tâm thường ghi nhớ 8 Đạo Chú này, thì tất cả mộng ác, tướng ác, việc không kiết tường chẳng phạm vào thân.
Tóm lại điều cốt yếu để tu trì Pháp này là: Lắng nghe, thọ trì, đọc tụng, viết chép, lưu truyền Đại Đà La Ni Đại Tùy Cầu thì sẽ được mọi loại Công đức như : Lửa chẳng thể đốt, nước chẳng thể cuốn chìm, không bị trúng độc, giáng phục địch quân, phá ngục Vô Gián, trừ nạn Rồng Cá, sanh sản an vui, miễn trừ nạn vua quan…
Về các Bản Thư liên quan đến Pháp Đại Tùy Cầu thì có rất nhiều (hơn 21 loại), nhưng chúng tôi chỉ có thể biên dịch một số Bản được ghi chép trong Mật Tạng Quyển 3, Đồ Tượng Quyển 3, 5, 6, 9 nên vẫn chưa được hoàn chỉnh. Riêng Bài Đại Chân Ngôn thì chúng tôi xin mạo muội phục hồi và ghi chép lại nghĩa thú của từng câu Chân Ngôn. Điều không thể tránh khỏi là còn sự sai sót. Do vậy chúng tôi chân thành xin các Bậc Tiền Bối, các Bậc Long Tượng trong Mật Giáo hãy rũ lòng Từ Bi chỉ bảo cho chúng tôi sửa chửa kịp thời những lỗi lầm của mình ngỏ hầu giúp ích cho những người cầu học Chánh Pháp Giải Thoát.
Cuối mùa Thu năm Mậu Dần
Huyền Thanh kính ghi
MẬT TẠNG VIỆT NAM SỐ 26
KINH PHỔ BIẾN QUANG MINH THANH TỊNH XÍ THẠNH NHƯ Ý BẢO ẤN TÂM VÔ NĂNG THẮNG ĐẠI MINH
VƯƠNG ĐẠI TÙY CẦU ĐÀ LA NI
Mật Tạng Bộ 3 No.1153 (Tr.616 - Tr.632)
QUYỂN THƯỢNG
Chùa Đại Hưng Thiện, Tam Tạng Sa Môn Đại Quảng Trí
Bất Không dịch Phạn ra Hán văn.
Dịch Hán ra Việt văn : Huyền Thanh
TỰA
PHẨM THỨ NHẤT
Như vậy tôi nghe : Một thời Đức Bạc Già Phạm ngự tại Lầu gác trên đỉnh Đại Kim Cang Tu Di Lô, an trụ trong Đại Kim Cang Tam Ma Địa, dùng cây Kiếp Thọ Đại Kim Cang trang nghiêm, nơi hoa sen báu trong cái ao Đại Kim Cang, chiếu soi cát Kim Cang mà rải bày trên mặt đất. Ở cung điện Đế Thích trong Đạo Trường Kim Cang của Đại Kim Cang gia trì, dùng câu đê na dữu đa trăm ngàn tòa Đại Kim Cương Sư Tử trang nghiêm, nói pháp Thần Thông Xứ là nơi gia trì thần lực của tất cả Như Lai, nhập vào Nhất Thiết Pháp Bình Đẳng Xuất Sinh Tát Bà Nhã Trí cùng với 84 câu đê na dữu đa Bồ Tát Chúng đến dự. Các Vị này đều là Bậc Nhất Sinh Bổ Xứ, được Bất thoái chuyển nơi A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề, đều có thế lực lớn, thảy đều thị hiện Đại Kim Cương Giải
Thoát Tam Ma Địa, thần thông của cõi Phật, trong khoảng sát na tùy tiện vào Tâm hạnh của tất cả Hữu tình, thành tựu mọi thứ đẹp đẽ màu nhiệm rộng lớn thâm sâu, khéo nói các Pháp, biện tài vô ngại, được đại thần thông đều hay cúng dường vô lượng Như Lai trong thế giới của Phật, thần thông tự tại của Đại cúng dường vân hải giải thoát Tam Ma Địa, Bất Cộng Giác Phần Đạo Chi, tất cả Địa Ba La Mật, thiện xảo tứ nhiếp, Từ Bi Hỷ Xả lực viễn ly, cùng gom chứa trong Tâm thanh tĩnh. Các Vị ấy tên là : Bồ Tát Ma Ha Tát Kim Cương Tạng, Bồ Tát Ma Ha Tát Kim Cương Nhãn, Bồ Tát Ma Ha Tát Kim Cương Thân, Bồ Tát Ma Ha Tát Kim Cương Tuệ, Bồ Tát Ma Ha Tát Kim Cương Thủ, Bồ Tát Ma Ha Tát Kim Cương Tương Kích, Bồ Tát Ma Ha Tát Kim Cương Na La Diên, Bồ Tát Ma Ha Tát Kim Cương Du Hý, Bồ Tát Ma Ha Tát Kim Cương Tích, Bồ Tát Ma Ha Tát Kim Cương Kế, Bồ Tát Ma Ha Tát Kim Cương Diệu, Bồ Tát Ma Ha Tát Kim Cương Tràng... Các Bậc Thượng Thủ như vậy cùng với chúng Bồ Tát Ma Ha Tát đền dự hội.
Lại có Chúng Đại Thanh Văn đều là Bậc Đại A La Hán đã đoạn trừ Hữu Kết, chấm dứt tất cả các Lậu, được Thiện Giải Thoát của Tâm Thiện Chính Tri, đều hay thị hiện Du Hý Thần Cảnh Thông của sức thần thông chẳng thể luận bàn, đều được thế lực lớn, không chấp trước vào sự thấy (Kiến vô trước) xa lìa tất cả cấu nhiễm, thiêu đốt hạt giống Tập Khí. Các Vị ấy tên là : Cụ Thọ Ca Diệp Ba, Cụ Thọ Đại Ca Diệp Ba, Cụ Thọ Ưu Lâu Tần Loa Ca Diệp Ba.. .Các Bậc Thượng Thủ như vậy cùng với chúng Đại Thanh Văn đến dư hội.
Lại có Đại Tự Tại Thiên Tử là Bậc Thượng Thủ cùng với vô lượng vô biên bất khả thuyết a tăng kỳ chúng Thiên Tử Tịnh Cư đến dự. Lại có Sa Ha Thế Giới Chủ Đại Phạm Thiên Vương là Bậc Thượng Thủ cùng với Thiên Tử Phạm Chúng đến dự . Lại có Thiên Tử Tô Dạ Ma, Thiên Tử Hóa Lạc, Thiên Tử Tha Hóa Tự Tại, Thiên Đế Thích cùng với các Thiên Tử quyến thuộc đến dự.
Lại có A Tô La Vương Tỳ Ma Chất Đa La, A Tô La Vương Mạt La, A Tô La Vương Linh Hoan Hỷ, A Tô La Vương Chiếu Diệu, A Tô La Vương La Hầu. Các A Tô La Vương Thượng thủ như vậy cùng với vô lượng vô biên A Tô La Vương quyến thuộc đến dự.
Lại có Long Vương Sa Già La, Long Vương Đức Xoa Ca, Long Vương Tô Phộc Chỉ, Long Vương Thương Khư Ba La, Long Vương Yết Cú Tra Ca, Long Vương Liên Hoa, Long Vương Đại Liên Hoa. Các Long Vương Thượng thủ như vậy cùng với vô lượng vô biên a câu đê Long Vương chúng đến dự.
Lại có Thọ Khẩn Na La Vương cùng với vô lượng vô biên Khẩn Na La Vương quyến thuộc đến dự.
Lại có Nhất Thiết Nghĩa Thành Tựu Trì Minh Tiên Vương cùng với vô lượng vô biên Trì Minh Tiên Vương quyến thuộc đến dự.
Lại có Ngũ Kế Càn Đạt Bà Vương cùng với vô lượng vô biên Càn Đạt Bà Vương quyến thuộc đến dự.
Lại có Kim Ngân Nghiệt Lộ Trà Vương cùng với vô lượng vô biên Nghiệt Lộ Trà Vương quyến thuộc đến dự.
Lại có Dược Xoa Vương Đa Văn, Dược Xoa Vương Bảo Hiền, Dược Xoa Vương Mãn Hiền, Dược Xoa Vương Bán Chi Ca cùng với vô lượng vô biên Dược Xoa Vương quyến thuộc đến dự.
Lại có Ha Lợi Đế Mẫu cùng với 500 người con là quyến thuộc đến dự.
Lại có 7 Vị Hộ Thế Mẫu Thiên , 7 vị Đại La Sát Mẫu, 7 vị Tiên Thiên dạo chơi trên hư không, 9 vị Chấp Diệu Thiên, Địa Thiên Phương Ngung, Thiên Nữ Biện Tài cùng với quyến thuộc đến dự.
Lại có loài gây chướng, Tỳ Na Dạ Ca, Tất Lệ Đa, Bộ Đa. Tất cả đều là Bậc có Đại uy đức cùng với quyến thuộc đến dự.
Lại có tất cả Sơn Vương, tất cả Hải Vương, Hộ Thế Vương, Thủy Thiên, Thiên Vương Trì Quốc, Thiên Vương Tăng Trưởng, Thiên Vương Aùc Mục, La Sát Chủ Trì Bổng, 7 vị Phong Thiên, Y Xá Na Thiên với các bà vợ cùng với 1000 câu đê na dữu đa quyến thuộc đến dự .
Lại có Thiên Na La Diên cùng với quyến thuộc đến dự.
Lại có Nại Đa Ca, Na Ma Ca, Lô Hạ Ca, Đại Già Na Bát Đề, Di Cù La Ca. Tỳ Na Dạ Ca Vương như vậy cùng với vô lượng vô biên Tỳ Na Dạ Ca quyến thuộc đến dự .
Lại có 60 vị Du Hành chư Thành Aáp Vương với quyến thuộc đến dự. Lại có bốn chị em Thần Nữ với các người anh là quyến thuộc đến dự.
Lại có Kim Cương Thương Yết La Nữ cùng với 64 vị Kim Cương Nữ là quyến thuộc đến dự. Lại có Kim Cương Quân Đồng Tử, Tô Ma Hô Đồng Tử, Đỉnh Hạnh Đồng Tử cùng với vô lượng vô biên Kim Cương Tộc là quyến thuộc đến dự.
Lại có hàng tin tưởng trong sạch nơi Phật Pháp Tăng là Trời, Rồng, Dược Xoa, Càn Đạt Bà, A Tô La, Nghiệt Lộ Trà, Khẩn Na La, Ma Hộ La Già, Bộ Đa, Tất Xá Già, A Bát Sa Ma La, Ổn Ma Na, Sa Đình Sa, Tứ Lý Ca, Ô Tát Đa La Ca, Thiên Tử Nhật Nguyệt, Thiên Thần Triêu, Thiên Nhật Ngọ, Thiên Hoàng Hôn, Thiên Trung Dạ, Thiên Nhất Thiết Thời cùng với vô lượng vô biên a tăng kỳ quyến thuộc đến dự.
Bấy giờ Đức Thế Tôn khéo chuyển bánh xe Pháp, làm xong việc Phật, viên mãn Phước Đức Trí Tuệ cứu cánh, khéo nhiếp thọ Nhất Thiết Trí Đại Bồ Đề, đắc được Ba La Mật Xí Thịnh Địa, dùng 32 tướng trang nghiêm Pháp Thân, dùng 84 vẻ đẹp trang nghiêm tất cả chi phần, Nhất thiết hữu tình vô sở quán đỉnh Tướng vượt hơn hẳn tất cả Ma La, thông đạt Nhất Thiết Trí Trí, đầy đủ năm loại mắt, thành tựu tất cả Tướng, thành tựu Nhất Thiết Trí Trí, thành tựu tất cả Phật Pháp, đập nát dị luận của tất cả Ma, hiển cao danh xưng Đại Hùng Mãnh Sư Tử Hống, phá hoại vô minh hắc ám, dùng sự gom chứa về
: Thí, Giới, Nhẫn, Cần Dũng, Tĩnh Lự, Bát Nhã, Phương Tiện, Nguyện, Lực, Trí Ba La Mật, khổ hạnh khó hành trong vô lượng vô biên a tăng kỳ trăm ngàn câu đê na dữu đa kiếp, chuyển được 32 tướng Đại Nhân, 84 vẻ đẹp trang nghiêm. Thân đó ngồi trên Tòa Đại Bảo Kim Cương Liên Hoa Tạng Sư Tử. Tòa ngồi đó được trang nghiêm bằng vô lượng viên ngọc báu, võng lưới báu khi gió nhẹ thổi qua đều phát ra âm thanh vi diệu. Dùng vô lượng Kim Cương Giới an trụ Thần Túc. Dùng vô lượng báu Kim Cương trang nghiêm cho viên ngọc đỏ do con cá Ma Kiệt phun ra và dùng miệng ngậm lại. Dùng vô lượng báu trang sức cánh hoa sen. Dùng Hổ phách, đại Hổ phách, Đế Thanh, đại Đế Thanh, Bổ Sa La Già trang nghiêm cái võng, ánh sáng rộng lớn đoan nghiêm. Dùng vô lượng báu Kim Cương trang nghiêm cái cán của cây phan cây lọng. Dùng bóng mát của vô lượng câu đê na dữu đa trăm ngàn cây Kiếp Thọ trang nghiêm Tòa ngồi rộng lớn như Tu Di ấy, giống như ngọn núi vàng tỏa ánh hào quang rực rỡ sáng chói vượt hẳn 1000 mặt trời. Mặt đất của nơi ấy tròn đầy giống như mặt trăng thanh tĩnh khiến cho các Hữu tình vui thích ngắm nhìn như Pháp của Như Lai, như hoa hé nở của cây Đại Kiếp Thọ ấy. Pháp màu nhiệm đã nói : Ban đầu, khoảng giữa, chặng cuối đều tốt lành. Lời nói về nghĩa thâm sâu mau chóng của Pháp ấy rất khéo léo, thanh tĩnh, tinh khiết, thuần nhất không pha tạp.
Khi ấy từ Đỉnh đầu và Hào Tướng của Đức Thế Tôn phóng ra ánh sáng lớn. Aùnh sáng này chiếu khắp 3000 Đại Thiên Thế Giới cho đến như hằng hà sa số Thế Giới của Phật. Hết thảy Như Lai ở Thế Giới đó ngồi trên Tòa Sư Tử được trang nghiêm bằng vô lượng báu, ngự bên trong lầu gác đại trang nghiêm, nói Pháp cùng với tất cả Bồ Tát, Đại Thanh Văn, Tỳ Khưu, Tỳ Khưu ni, Tịnh Tín Nam, Tịnh Tín Nữ, Trời, Rồng, Dược Xoa, Càn Đạt Bà, A Tố La, Nghiệt Lộ Trà, Khẩn Na La, Ma Hộ La Già thảy đều được chiếu diệu mà hiển hiện rõ ràng.
Bấy giờ Đức Thế Tôn vì khắp tất cả mà nói Già Đà là :
Nay Ta nói Tùy Cầu Thương xót các Hữu tình
Đại Đà La Ni này Hay đập kẻ khó phục
Các tội nặng cực ác Nếu có duyên nghe qua
Đà La Ni Tùy Cầu Tất cả tội tiêu diệt
An vui các Hữu tình Giải thoát tất cả bệnh
Đại Bi vì chúng sinh Nên Đức Thế Tôn nói
Làm cho được giải thoát Mau lìa các nẻo ác
Nếu vào cung Tu La Cung Dược Xoa, La Sát
Bộ Đa, Rồng, Quỷ Thần Các cung điện như vậy
Tùy ý vào được cả Đều dùng Đại Minh này
Mà làm nơi gia hộ Nơi chiến đấu hiểm nguy
Chẳng bị oán trớ hại Với các hàng Quỷ Mỵ
Do xưng Đà La Ni Các Mỵ đều hoại diệt
Sa Kiến, Ổn Mạt Na Tất Xá, Noa Cát Nễ
Mãnh ác đoạt tinh khí Loại hữu tình ác độc
Hết thảy đều tiêu diệt Do uy đức Tùy Cầu
Kẻ địch đều hoại diệt Hết thảy Pháp Chú Trớ
Yểm đảo đều vô hiệu Định nghiệp chẳng thọ báo
Chẳng bị trúng trùng độc Nước, lửa với đao, gậy
Sấm sét, sương, mưa đá Gió bão, mưa bạo ác
Các nạn đều được thoát Oán địch đều giáng phục
Nếu người trì Minh này Hoặc đeo cổ, đeo tay
Mọi nguyện cầu đều thành Tất cả điều mong ước
Thảy đều được như ý Thiên Vương đều gia hộ
Với các Đại Long Vương Bồ Tát, Đại Cần Dũng
Duyên Giác và Thanh Văn Tất cả các Như Lai
Minh Phi, Đại Uy Đức Thảy đều cùng ủng hộ
Người thọ trì Tùy Cầu Kim Cương Bí Mật Chủ
Bốn Thiên Vương Hộ Thế Đối với người Trì Minh
Ngày đêm thường gia hộ Đế Thích, Chúng Đao Lợi
Phạm Vương, Tỳ Lữu Thiên Với Ma Hê Thủ La
Chúng sinh Câu Ma La Đại Hắc, Hỷ Tự Tại
Tất cả chúng Thiên Mẫu Với các Ma Chúng khác
Khổ Hạnh Uy Đức Tiên Cùng với Mật Ngữ Thiên
Thảy đều đến ủng hộ Người trì Tùy Cầu này
Minh Phi, Đại Bi Tôn Dũng mãnh đủ thần lực
Ma Ma, Tỳ Câu Đê Đa La, Ương Câu Thi
Cùng với Kim Cương Tỏa Bạch Y, Đại Bạch Y
Thánh Ma Ha Ca Ly Sứ Giả, Kim Cương Sứ
Diệu Sách, Kim Cương Sách Chấp Luân Đại Lực Giả
Kim Cương Man, Đại Minh Cam Lộ Quân Trà Lợi
Vô Năng Thắng Minh Phi Hắc Nhĩ, Cát Tường Thiên
Đại Phước Uy Đức Tôn Liên Hoa Quân Trà Lợi
Hoa Xỉ với Châu Kế Kim Man Chất Nghiệt La
Đại Uy Đức Cát Tường Với Điển Trang Nghiêm Thiên
Nhất Kế Đại La Sát Với Phật Địa Hộ Tôn
Ca Ba Lợi Minh Nữ Lăng Già Tự Tại Tôn
Với nhiều loại chúng khác Hết thảy đều ủng hộ
Do Đại Minh tại tay Ha Lợi Đế và con
Bán Chi Ca Đại Tướng Thương Diệp Ni, Tích Xỉ
Cát Tường và Biện Tài Do trì Mật Ngôn này
Ngày đêm thường tùy toại Nếu có các người nữ
Trì Đà La Ni này Kẻ ấy đều thành tựu
Trai gái ở trong thai Thai an ổn tăng trưởng
Sinh nở đều an vui Tất cả bệnh đều trừ
Các tội đều tiêu diệt Phước lực thường đầy đủ
Lúa gạo với tài bảo Thảy đều được tăng trưởng
Lời nói khiến người nghe Nơi nơi đều cung kính
Nam tử với nữ nhân Thanh tịnh hay thọ trì
Thường ôm Tâm Từ Bi Cứu giúp các Hữu tình
Nguyện họ được an vui Khiến xa lìa bệnh tật
Quốc Vương và Hậu Cung Đều sinh tâm cung kính
Cát tường thường xí thịnh Các phước đều tăng trưởng
Tất cả Pháp Chân Ngôn Thảy đều được thành tựu
Thành nhập tất cả Đàn Được thành Tam Muội Gia
Như Lai thành thật nói Chẳng hay gặp mộng ác
Đều diệt trừ các tội Phiền não và oán địch
Diệt tai họa Chấp Diệu Đại Trí Tự Tại nói
Hay mãn nguyện ước khác Vì thế nay Ta nói
Đại Chúng đều lắng nghe
- Nẳng mô tát phạ đát tha nga đa nam (NAMO SARVA TATHÀGATANÀM) Nẵng mô nẵng mạc tát phạ một đà mạo địa tát đa-phạ- Một đà, đạt ma, tăng khế tỳ dược (NAMO NAMAH SARVA BUDDHA BODHISATVA- BUDDHA, DHARMA, SAMGHE BHYAH) .
AÙn (OM) Vĩ bổ la nghiệt beä (VIPULA GARBHE) Vĩ bổ la, vĩ
ma lê, nhạ dã nghiệt bệ (VIPULA VIMALE JAYA GARBHE) Phạ nhật-la nhập-phạ la nghiệt bệ (VAJRA JVALA GARBHE) Nga để nga hạ nãnh (GATI GAHANE) Nga nga nẵng vĩ thú đà ninh (GAGANA VI’SODHANE) Tát phạ bá bả vĩ thú đà ninh (SARVA PÀPA VI’SODHANE).
Án (OM) - Ngu noa phạ để (GUNA VATI) Nga nga lị ni (GAGARINI) Nghĩ lị, nghị lị (GIRI GIRI) Nga ma lị, nga ma lị (GAMÀRI GAMÀRI) Ngược hạ, ngược haï (GAHA GAHA) Nghiệt nga lị, nghiệt nga lị (GARGÀRI GARGÀRI) Nga nga lị, nga nga lị (GAGARI GAGARI) Nghiêm bà lị, nghiêm bà lị (GAMBHARI GAMBHARI) Nga để, nga để
(GATI GATI) Nga ma nãnh, nga lệ (GAMANI GARE) Ngu lỗ, ngu lỗ, ngu lỗ ni (GÙRU GÙRU GÙRUNE) Tả lệ, a tã lệ, mẫu tả lệ (CALE ACALE MUCALE) Nhạ duệ, vĩ nhạ duệ (JAYA VIJAYA) Tát phạ bà dã, vĩ nga đế (SARVA PÀPA VIGATE) Nghiệt bà tam bà la ni (GARBHA SAMBHARANI) Tất lị, tất lị (SIRI SIRI) Nhĩ lị, nhĩ lị (MIRI MIRI) Chi lị, chi lị (GHIRI GHIRI) Tam mãn đá ca la-sái ni (SAMANTA AKARSANI) Tát phạ thiết đốt-lỗ , bát-la ma tha nãnh (SARVA ‘SATRÙ PRAMATHANI) La khất-sái, la khất-sái (RAKSA RAKSA) Ma ma (Tôi, họ tên....) (MAMA .....) Tát phạ tát đa-phạ nan tả (SARVA SATVANÀMCA) Vĩ lị, vĩ lị (VIRI VIRI) Vĩ nga đá (VIGATA) Phạ la noa bà dã nẵng xả nãnh (AVARANI BHAYA NÀ’SANI) Tô lị, tô lị (SURI SURI) Tức lị (CILI) Kiếm ma lê, vĩ ma lê, nhạ duệ (KAMALE VIMALE JAYE) Nhạ dã phạ hề (JAYA VAHE) Nhạ dã phạ để, Bà nga phạ để (JAYA VATI BHAGAVATI) La đát-nẵng ma củ tra, ma la đà lị (RATNA MAKUTA DHÀRI) Ma hộ, vĩ vĩ đà , vĩ tức đát-la, phệ sái, lỗ bạt, đà lị ni (BAHU VIVIDHA VICITRA VESA RÙPA DHÀRANI) Bà nga phạ để (BHAGAVATI) Ma hạ vĩ nễ-dã nê vĩ (MAHÀ VIDYA DEVI) La khất-sái, la khất-sái (RAKSA RAKSA) Ma ma (Tôi, tên là.....) (MAMA.....)
Tát phạ tát đa-phạ nan taû (SARVA SATVANÀMCA) Tam mãn đá tát phạ đát-la (SAMANTA SARVATRÀ) Tát phạ bá bả, vĩ thú đà nãnh (SARVA PÀPA VI’SODHANE) Hộ lỗ, hộ lỗ (HULU HULU
Nhược khất-sát đát-la, ma la, đà lị ni (NAKSATRA MÀLÀ DHÀRANI) La khất-sái hàm (RAKSA MÀM) Ma ma (Tôi, tên là....) (MAMA......) A nẵng tha tả (ANÀTHA SYA) Đát-la noa bả la gia noa tả (ATRÀNA PARÀYANA SYA) Bả lị mô tả, dã minh (PARIMOCA YA ME) Tát phạ nậu khế tỳ dược (SARVA DUHKHE BHYAH) Chiến ni, chiến ni, tán nị nãnh (CANDI CANDI CANDINI) Phệ nga phạ để (VEGA VATI) Tát phạ nột sắt-tra, nãnh phạ la ni (SARVA DUSTA NIVARANI) Thiết đốt-lỗ bạc khất-xoa (‘SATRÙ PAKSA) Bát-la mạt tha nãnh (PRAMATHANI) Vĩ nhạ dã phạ tứ nãnh (VIJAYA VÀHINI) Hộ lỗ, hộ loã (HURU HURU) Mẫu lỗ, mẫu lỗ (MURU MURU) Tổ lỗ, tổ lỗ (CURU CURU) A dục, bá la nãnh, tô la (AYUH PÀLANI SURA) Phạ la mạt tha nãnh (VARA MATHANI) Tát phạ nê phạ đá (SARVA DEVATA) Bố tỉ đế (PÙJITE) Địa lị, địa lị (DHIRI DHIRI) Tam mãn đá phạ lộ chỉ đế bát la bệ (SAMANTA AVALOKITE PRABHE) Bát-la bệ, tô bát-la bà (PRABHE SUPRABHE) Vĩ truật đệ (VI’SUDDHE) Tát phạ bá bả, vĩ thú đà ninh (SARVA PÀPA VI’SODHANE ) Đạt la, đạt la, đạt la ni (DHARA DHARA DHARANI) La la đạt lệ (RARA DHARE)
Tô mẫu, tô mẫu (SUMU SUMU) Lỗ lỗ tả lê (RURU CALE) Tả la gia, nô sắt-lãng (CALÀYA DUSTA) Bố la dã mính, a thiêm, thất-lị (PÙRAYA ME À’SAM ‘SRÌ) Phạ bổ đà nam (VAPUDHANAM) Nhạ dã, kiếm ma lê (JAYA KAMALE) Khất-sử ni, khất-sử ni (KSINI KSINI) Tát la ni, tát la năng củ thế (VARADE VARADA ANÕKU’SE).
Án (OM) - Bát nột-ma vĩ truật đệ (PADMA VI’SUDDHE) Thú đà dã, thú đà dã (‘SODHAYA ‘SODHAYA) Thuấn đệ (‘SUDDHE) Bạt la, bạt la (BHARA BHARA) Tỷ lị, tỷ lị (BHIRI BHIRI) Bộ lỗ, bộ lỗ (BHURU BHURU) Mộng nga la, vĩ thuấn đệ (MAMGALA VI’SUDDHE) Bạt vĩ đát-la, mục khế (PAVITRA MUKHI) Khát nghĩ ni, khát nghĩ ni (KHARGANI KHARGANI) Khư la, khư la (KHARA KHARA) Nhập-phộc lý đa thủy lệ (JVALITA ‘SIRE) Tam mãn đa bát-la sa lị đá, phộc bà tất đa, truật đệ (SAMANTA PRASARITA VABHASITA ‘SUDDHE) Nhập-phộc la, nhập-phộc la (JVALA JVALA) Tát
phộc nê phộc nga noa, tam ma đa ca la-sái ni (SARVA DEVAGANA SAMA AKARSANI) Tát để-dã phộc đế (SATYA VATI) La hộ, la hộ (LAHU LAHU) Hộ nộ, hộ nộ (HUNU HUNU) Khất-sử ni, khất-sử ni (KSINI KSINI) Tát phộc nghĩ-la hạ bạc khất-sái ni (SARVA GRAHA BHAKSANI
Vĩnh nga lý, vĩnh nga lý (PIMÏGALI PIMÏGALI) Tổ mẫu, tổ mẫu (CUMU CUMU) Tô mẫu, tô mẫu (SUMU SUMU) Tổ mẫu tả lệ (CUVI CARE) Đa la, đa la (TARA TARA) Nẵng nga vĩ lộ chỉ nãnh đa la dã đổ hàm (NÀGA VILOKITE TÀRÀYA TUMAM) Bà nga phộc để (BHAGAVATI) A sắt-tra ma hạ bà duệ tỳ dược (ASTA MAHÀ BHAYE BHYAH) Tam muộn nại-la (SAMUDRA) Sa nga la (SÀGARA) Bát lị-dần đảm, bá đá la, nga nga nẵng, đát lãm (PRATYANTÀM PÀTÀLA GAGANA TALAM) Tát phộc đát la (SARVATRÀ) Tam mãn đế nẵng (SAMANTENA) Nễ xả mãn đệ nẵng (DI’SA BANDHENA) Phộc nhật-la bát-la ca la (VAJRA PRÀKÀRA) Phộc nhật-la bá xả mãn đà mật nẵng (VAJRA PA’SA BANDHANE) Phộc nhật-la,nhập phộc-la, vĩ truật đệ (VAJRA JVALA VI’SUDDHE) Bộ lị, bộ lị (BHURI BHURI) Nghiệt bà phộc để (GARBHA VATI) Nghiệt bà vĩ thú đà nãnh (GARBHA VI’SODHANE) Câu khất-sử tam bố la ni (KUKSI SAPÙRANI) Nhập phộc-la, nhập phộc-la (JVALA JVALA) Tả la, tả la (CALA CALA) Nhập phộc-lý nãnh (JVALANI) Bát-la vạt sát đổ, nê phộc (PRAVASATU DEVA) Tam mãn đế nãnh (SAMANTENA) Nễ miễu ná kế nãnh (DIDHYODAKENA) A mật-lật đa phộc la-sái ni (AMRTA VARSANI) Nê phộc đá phộc đá la ni (DEVA DEVA DHÀRANI) A tỵ tru giả mính (ABHISIMCA TUME) Tô nga đa (SUGATA) Phộc tả nẵng mật-lật đa (VACANA AMRTA) Phộc la phộc bổ sái (VARA VAPUSPE) La khất-sái, la khất-sái (RAKSA RAKSA) Ma ma (Tôi tên là...) (MAMA...) Tát phộc tát đa-phộc nan tả (SARVA SATVÀNÀMCA) Tát phộc đát-la (SARVATRÀ) Tát phộc ná (SARVADÀ) Tát phộc bà duệ tỳ-dược (SARVA BHAYE BHYAH) Tát mạo bát nại-la phệ tỳ-dược (SARVOPADRAVE BHYAH) Tát mạo bả tăng nghê tỳ-dược (SARVOPASAGRE BHYH) Tát phộc nột sắt-tra bà dã tỵ đát tả (SARVA DUSTA BHAYA BHÌTA SYA) Tát phộc ca li, ca la hạ, vĩ nghiệt la hạ (SARVA KÀLI KALAHÀ VIGRAHA) Vĩ phộc ná (VIVÀDA) Nậu tát-phộc bả-nan nột nãnh nhĩ đá (DUHSVAPNÀM DURNI MINTA) Mộng nga la (AMAMGALLYA) Bá bả (PÀPA) Vĩ nẵng xả nãnh (VINA’SANI) Tát phộc dược khất-xoa (SARVA YAKSA) La khất-sái sa (RAKSASA) Nẵng nga (NÀGA) Nãnh phộc la ni (NIVARANI) Tát la ni sa lệ (SARANI SARE) Ma la , ma la, ma la phộc để (BALA BALA - BALA VATI) Nhạ dã, nhạ dã (JAYA JAYA) Nhạ dã đổ hàm (JAYA YUMAM) Tát phộc tát-la (SARVATRÀ) Tát phộc la lam (SARVA KÀRAM) Tất đệ đổ mính (SIDDHE TUME) Ế hàm, ma hạ vĩ niệm, sa đà dã (IMAM MAHÀ VIDYA SÀDHAYA) Sa đà dã tát phộc mạn noa la (SADHAYA SARVA MANDALA) Sa đà nãnh già đa dã (SÀDHANI GHÀTAYA) Tát phộc vĩ cận-nãnh (SARVA VIGHNAM) Nhạ dã, nhạ dã (JAYA JAYA) Tất đệ, tất đệ (SIDDHE SIDDHE) Tô tất đệ (SUSIDDHE) Tất địa-dã, tất địa-dã (SIDDHYA SIDDHYA) Một địa-dã, một địa-dã (BUDDHYA BUDDHYA) Bố la dã, bố la dã (PÙRAYA PÙRAYA) Bố la ni, bố lani (PÙRANI PÙRANI) Bố la dã, mính, a thiêm (PÙRAYA ME À’SAM) Tát phộc vĩ nễ dã (SARVA VIDYA) Địa nga đa (ADHIGATA) Một lật-đế (MÙRTTE) Nhạ dụ đa lị (JAYOTTARI) Nhạ dạ phộc để (JAYA VATI) Để sắt-xá, để sắt-xá (TISTA TISTA) Tam ma dã ma nỗ bá la dã (SAMAYAM ANUPÀLAYA) Đát tha nghiệt đa, ngật-lị nãi dã (TATHÀGATA HRDAYA) Thuấn đệ (‘SUDDHE) Nhĩ-dã phộc lộ ca dã hàm (VYAVALOKAYA MAM) A sắt-tra tỵ ma hạ ná lỗ noa bà (ASTA MAHÀ DÀRUNA BHAYE) Tát la, tát la (SARA SARA) Bát-la sa la, bát-la sa la (PRASARA PRASARA) Tát phộc phộc la noa tỵ thú đà nãnh (SARVA AVARANA VI’SODHANE) Tam mãn đá ca la man noa la vĩ thuấn đệ (SAMANTA KÀRA MANDALA VI’SUDDHE) Vĩ
nga đế, vĩ nga đế, vĩ nga đa, ma la vĩ thú đà nãnh (VIGATE VIGATE VIGATA MALA VI’SODHANE) Khất-sử ni, khất-sử ni (KSINI KSINI) Tát phộc bá bả vĩ thuấn đệ (SARVA PÀPA VI’SUDDHE) Ma la vĩ nghiệt đế (MARA VIGATE)
Đế nhạ phộc để (TEJA VATI) Phộc nhật-la phộc để (VAJRA VATI) Tát-lạt lộ chỉ-dã địa sắt-xỉ đế, sa-phộc hạ (TRAILOKYA ADHISTITE SVÀHÀ) Tát phộc đát tha, một đà, vĩ sắt cật-đế, sa-phộc hạ (SARVA TATHÀ BUDDHA ABHISIKTE SVÀHÀ) Tát phộc mạo địa tát đa-phộc, vĩ sắt cật-đế, sa-phộc hạ (SARVA BADHISATVA ABHISIKTE SVÀHÀ) Tát phộc nê phộc đa, vĩ sắt cật-đế, sa-phộc hạ (SARVA DEVATÀ ABHISIKTE SVÀHÀ) Tát phộc đát tha nga đa cật-lị nãi dạ, địa sắt xỉ đa, hột-lị nãi duệ, sa-phộc hạ (SARVA TATHÀGATA HRDAYA ADHISTITA HRDAYE SVÀHÀ) Tát phộc đát tha nga đa tam ma dã tất đệ, sa-phộc hạ (SARVA TATHÀGATA SAMAYA SIDDHE SVÀHÀ) Ấn nại-lệ, ấn nại-la phộc để, ấn nại-la nhĩ-dã phộc lộ chỉ đế, sa-phộc hạ (INDRE INDRAVATI INDRA VYAVALOKITE SVÀHÀ) Một-la hám-mính, một-la hám-ma để-dữu sử đế, sa-phộc hạ (BRAHME BRAHMA ADHYUSTE SVÀHÀ) Vĩ sắt-nỗ nẵng mạc tắc cật-lị đế, sa-phộc hạ (VISNU NAMASKRTE SVÀHÀ) Ma hệ thấp-phộc la mãn nễ đa, bố nhĩ đá duệ, sa-phộc hạ (MAHE’SVARA VANDITA PÙJITAYE SVÀHÀ) Phộc nhật-la đà la, phộc nhật-la bá ni, ma la vĩ lị-dã địa sắt-xỉ đế, sa-phộc hạ (VAJRADHÀRA VAJRAPÀNI BALA VÌRYA ADHISTITE SVÀHÀ) Địa-lã đa la sắt-tra-la dã, tát-phộc hạ (DHRTARÀSTRÀYA SVÀHÀ) Vĩ lỗ trà ca dã, tát-phộc hạ (VIRÙDHAKÀYA SVÀHÀ) Phệ thất-la ma noa dã, tát-phộc hạ (VAI’SRAVANÀYA SVÀHÀ) Tạt đốt ma hạ la nhạ nẵng mạc tắc-cật-lị đá dã, tát-phộc hạ (CATUR MAHÀ RÀJA NAMASKRTÀYA SVÀHÀ) Diễm ma dã, tát-phộc hạ (YAMMÀYA SVÀHÀ) Diễm ma bố nhĩ đa, nẵng mạc tắc-cật-lị đá dã, tát-phộc hạ (YAMMA PÙJITA NAMASKRTÀYA SVÀHÀ) Phộc lỗ noa dã Tát-phộc hạ (VARUNÀYA SVÀHÀ) Ma lỗ đá dã Tát-phộc hạ (MARÙTÀYA SVÀHÀ) Ma ha ma lỗ đá dã Tát-phộc hạ (MAHÀ MARÙTÀYA SVÀHÀ) A ngân-nẵng duệ Tát-phộc hạ (AGNAYE SVÀHÀ) Nẵng nga vĩ lộ chỉ đá dã Tát-phộc hạ (NÀGAVILOKITÀYA SVÀHÀ) Nê phộc nga nãi tỳ-dược Tát-phộc hạ (DEVA GANE BHYAH SVÀHÀ) Nẵng nga nga nãi tỳ-dược Tát-phộc hạ (NÀGA GANE BHYAH SVÀHÀ) Dược khất-sái nga nãi tỳ-dược Tát-phộc hạ (YAKSA GANE BHYAH SVÀHÀ) La kất-sái sa nga nãi tỳ-dược Tát-phộc hạ (RÀKSASA GANE BHYAH SVÀHÀ) Ngạn đạt phộc tát nãi tỳ-dược Tát-phộc hạ (GANDHARVA GANE BHYAH SVÀHÀ) A tô la nga nãi tỳ-dược Tát-phộc hạ (ASURA GANE BHYAH SVÀHÀ) Nga lỗ noa nga nãi tỳ-dược Tát-phộc hạ (GARUDA GANE BHYAH SVÀHÀ) Khẩn na la nga nãi tỳ-dược Tát-phộc hạ (KINNARA GANE BHYAH SVÀHÀ) Ma hộ la nga nễ tỳ-dược Tát-phộc hạ (MAHORAGA GANE BHYAH SVÀHÀ) Ma nộ sái tỳ-dược Tát-phộc hạ (MANU SYE BHYAH SVÀHÀ) A ma nộ sái tỳ-dược Tát-phộc hạ (AMANU SYE BHYAH SVÀHÀ) Tát phộc nghiệt-la hệ tỳ-dược Tát-phộc hạ (SARVA GRAHE BHYAH SVÀHÀ) Tát phộc bộ đế tỳ-dược Tát-phộc hạ (SARVA BHÙTE BHYAH SVÀHÀ) Bật lị đế tỳ-dược Tát-phộc hạ (PRETE BHYAH SVÀHÀ) Tỳ xả tế tỳ-dược Tát-phộc hạ (PI’SACE BHYAH SVÀHÀ) A bả sa-ma lệ tỳ-dược Tát-phộc hạ (APASMARE BHYAH SVÀHÀ) Cấm bạn nễ tỳ-dược Tát-phộc hạ (KUMBHÀNDE BHYAH SVÀHÀ)
Án- Độ lỗ, độ lỗ Tát-phộc hạ (OM- DHURU DHURU SVÀHÀ
Án- Đổ lỗ, đổ lỗ Tát-phộc hạ (OM- TURU TURU SVÀHÀ)
Án- Mẫu lỗ, mẫu mẫu Tát-phộc hạ (OM- MURU MURU SVÀHÀ) .
Hạ nẵng, hạ nẵng, tát phộc thiết đổ-lỗ nẫm Tát-phộc hạ (HANA HANA SARVA ‘SATRÙNÀM SVÀHÀ) Ná hạ, ná hạ tát phộc nột sắt-tra, bát-la nột sắt-tra nẫm Tát-phộc hạ (DAHA DAHA SARVA DUSTA PRADUSTANÀM SVÀHÀ) Bát tá, bát tá tát phộc bát-la để dã dịch ca, bát-la để-dã nhĩ đát-la nẫm (PACA PACA SARVA PRATYARTHIKA PRATYÀMITRANÀM) Duệ ma ma (YE MAMA) A tứ đế sử noa (AHITESINA) Đế sam, tát phệ sam, xả lị lãm, nhập-phộc la dã, nột sắt-tra tức đá nẫm Tát-phộc hạ (TESAM SARVESÀM ‘SARIRAM JVALÀYA ADUSTA CITTÀNÀM SVÀHÀ) Nhập-phộc lý đá dã Tát-phộc hạ (JVALITÀYA SVÀHÀ)
Bát-la nhập-phộc lý đá dã Tát-phộc hạ (PRAJVALITÀYA SVÀHÀ) Nễ bát-đá nhập-phộc la dã Tát-phộc hạ (DÌPTA JVALÀYA SVÀHÀ) Tam mãn đa nhập-phộc la dã Tát-phộc hạ (SAMANTA JVALÀYA SVÀHÀ) Ma ni bạt nại-la dã Tát-phộc hạ (MANI BHADRÀYA SVÀHÀ) Bố la-noa bả nại-la dã Tát-phộc hạ (PÙRNA BHADRÀYA SVÀHÀ) Ma hạ ca la dã Tát-phộc hạ (MAHÀ KÀLÀYA SVÀHÀ) Ma để-lị nga noa dã Tát-phộc hạ (MATRANÀYA SVÀHÀ) Dã khất-sử ni nẫm Tát-phộc hạ (YAKSANÌNÀM SVÀHÀ) La khất-ma tỷ nẫm Tát-phộc hạ (RAKSASÌNÀM SVÀHÀ) A ca xả ma để-lị nẫm Tát-phộc hạ (ÀKA’SA MÀTRNÀM SVÀHÀ) Tam mẫu nại-la phộc tỷ nãnh nẫm Tát-phộc hạ (SAMUDRA VÀSINÌNÀM SVÀHÀ) La để-lị, tả la nẫm Tát-phộc hạ (RÀTR CARÀNÀM SVÀHÀ) Nễ phộc sa, tạt la nẫm Tát-phộc hạ (DIVASA CARÀNÀM SVÀHÀ) Để-lị tán-đình, tạt la nẫm Tát-phộc hạ (TRISANTYA CARÀNÀM SVÀHÀ) Vĩ la, tạt la nẫm Tát-phộc hạ (VELA CARÀNÀM SVÀHÀ) A vĩ la, tạt la nẫm Tát-phộc hạ (AVELA CARÀNÀM SVÀHÀ) Nghiệt bà ha lệ tỳ-dược Tát-phộc hạ (GARBHA HÀRE BHYAH SVÀHÀ) Nghiệt bà tán đá la ni. Hộ lỗ, hộ lỗ Tát-phộc hạ (GARBHA SANDHÀRANI HURU HURU SVÀHÀ)
Án- Tát-phộc hạ (OM- SVÀHÀ) Tát phộc Tát-phộc hạ (SVÀH SVÀHÀ) Bộc Tát-phộc hạ (BHÙH SVÀHÀ) Bộ phộc Tát-phộc hạ (BHÙVÀH SVÀHÀ) Án, bộ la-bộ phộc, tát-phộc Tát-phộc hạ (OM- BHÙRBHÙVÀH SVÀH SVÀHÀ) Tức trưng, tức trưng Tát-phộc hạ (CITI CITI SVÀHÀ) Vĩ trưng, vĩ trưng Tát-phộc hạ (VITI VITI SVÀHÀ) Đà la ni Tát-phộc hạ (DHÀRANÌ SVÀHÀ) Đà la ni Tát-phộc hạ (DHARANI SVÀHÀ) A ngận-nãnh Tát-phộc hạ (AGNI SVÀHÀ) Đế tổ, phộc bổ Tát-phộc hạ (TEJO VAPU SVÀHÀ) Tức lị, tức lị Tát-phộc hạ (CILI CILI SVÀHÀ) Tất lý, tất lý Tát-phộc hạ (SILI SILI SVÀHÀ) Một đình, một đình Tát-phộc hạ (BUDDHYA BUDDHYA SVÀHÀ) Tất đình, tất đình Tát-phộc hạ (SIDDHYA SIDDHYA SVÀHÀ) Mạn noa la tất đệ Tát-phộc hạ (MANDALA SIDDHE SVÀHÀ) Man noa la mãn đệ Tát-phộc hạ (MANDALA BANDHE SVÀHÀ) Tỷ ma mãn đà nãnh Tát-phộc hạ (‘SÌMA BANDHANI SVÀHÀ) Tát phộc thiết đốt-lỗ nẫm, tiệm bà tiệm bà Tát-phộc hạ (SARVA ‘SATRÙNÀM JAMBHA JAMBHA SVÀHÀ) Sa đảm-bà dã, sa đảm-bà dã Tát-phộc hạ (STAMBHÀYA STAMBHÀYA SVÀHÀ) Thân ná, thân ná Tát-phộc hạ (CCHINDHA CCHINDHA SVÀHÀ) Tẫn ná, tẫn ná Tát-phộc hạ (BHINDHA BHINDHA SVÀHÀ) Bạn nhạ, bạn nhạ Tát-phộc hạ (BHANÕJA BHANÕJA SVÀHÀ) Mãn đà, mãn đà Tát-phộc hạ (BANDHA BANDHA SVÀHÀ) Mãng hạ dã, mãng hạ dã Tát-phộc hạ (MOHAYA MOHAYA SVÀHÀ) Ma nĩ vĩ thuấn đệ Tát-phộc hạ (MANI VI’SUDDHE SVÀHÀ) Tố lị-duệ, tố lị-duệ, tố lị-dã, vĩ thuấn đệ, vĩ thú đà nãnh Sa-phộc hạ (SÙRYE SÙRYE SÙRYA VI’SUDDHE VI’SODHANE SVÀHÀ) Chiến niết-lệ, chiến niết-lệ, bố la-noa chiến niết-lệ Tát-phộc hạ (CANDRE CANDRE PÙRNA CANDRE SVÀHÀ) Nghiệt-la nễ tỳ-
dược Tát-phộc hạ (GRAHE BHYAH SVÀHÀ) Nhược khất-sát để-lệ tỳ-dược Tát-phộc hạ (NAKSTRE BHYAH SVÀHÀ) Thủy phệ Tát-phộc hạ (‘SIVE SVÀHÀ) Phiến để Tát-phạ hạ (‘SÀNTI SVÀHÀ) Tát phạ sa để-dã Dã nãnh Tát-phạhạ (SVASTYA YANE SVÀHÀ) Thủy noan yết-lị. phiến để yết lị, bổ sắt-trí yết lị, ma la mạt đạt nãnh Tát-phạ hạ (‘SIVAM KARI ‘SÀNTI KARI PUSTI KARI BALA VARDHANI SVÀHÀ) Thất-lị yết lị Tát-phạ hạ (‘SRÌ KARI SVÀHÀ) Thất-lị dã mạt đạt nãnh Tát-phạ haï (‘SRÌYA VARDHANI SVÀHÀ) Thất-lị dã nhập-phạ la nãnh Tát-phạ haï (‘SRÌYA JVALANI SVÀHÀ) Nẵng mẫu tỷ Tát-phạ haï (NAMUCI SVÀHÀ) Ma lỗ tỷ Tát-phạ haï (MARUCI SVÀHÀ) Phệ nga phạ để Tát-phạ haï (VEGA VATI SVÀHÀ).
* Án- tát phạ đát tha nga đa một lị-đeá (OM- SARVA TATHÀGATA MÙRTTE) Bát-la phộc la vĩ nga đa (PRAVARA VIGATI) Bà duệ xả ma dã (BHAYE ‘SAMAYA) Tát-phộc mính (SVAME) Bà nga phộc để (BHAGAVATI) Tát phộc bá bế tỳ-dụ sa-phộc sa-để bà phộc đổ (SARVA PÀPE BHYAH SVÀSTIRBHAVATU) Mẫu nãnh, mẫu nãnh, vĩ mẫu nãnh (MUNI MUNI VIMUNI) Tả lệ tả la ninh (CARE CALANE) Bà dã vĩ nga đế (BHAYA VIGATE) Bà dã ha la ni (BHAYA HÀRANI) Mạo địa, mạo địa (BODHI BODHI) Mạo đà dã, mạo đà dã (BODHIYA BODHIYA) Một địa lý, một địa lý (BUDHILI BUDHILI) Tát phộc đát tha nga đa hột-lã nãi dã, túc sắt tai Tát-phộc hạ (SARVA TATHÀGATA HRDAYA JUSTAI SVÀHÀ).
* Án- phộc nhật-la phộc để (OM- VAJRA VATI) Phộc nhật-la bát-la đề sắt-xỉ đế (VAJRA PRATISTITE) Thuấn đệ (‘SUDDHE)
Đát tha nga đa mẫu nại-la, địa sắt xá-nẵng, địa sắt xỉ-đế (TATHÀGATA MUDRA ADHISTANA ADHISTITE) Tát-phộc hạ (SVÀHÀ) .
* Án- mẫu nãnh, mẫu nãnh, mẫu nãnh phộc lệ (OM- MUNI MUNI MUNI VARE) A tị tru tá đổ hàm (ABHISIMCA TUMAM) Tát phộc đát tha nghiệt đa (SARVA TATHÀGATA) Tát phộc vĩ nễ-dã tị sái kế (SARVA VIDYA ABHISEKAI) Ma hạ phộc nhật-la ca phộc tá mẫu nại-la (MAHÀ VAJRA KAVACA MUDRA) Mẫu nại-lị đới (MUDRITEH) Tát phộc đát tha nga đa khất-lã nãi dạ, địa sắt-xỉ đa (SARVA TATHÀGATA HRDAYA ADHISTITA) Phộc nhật-lê Sa-phộc hạ (VAJRE SVÀHÀ) .
Bấy giờ Đức Bạc Già Phạm nói Phổ Biến Quang Minh Thanh Tịnh Xí Thạnh Như Ý Bảo Tấm Ấn Vô Năng Thắng Đại Minh Vương Tùy Cầu Đại Đà La Ni này xong, lại bảo Đại Phạm Thiên rằng : "Này Đại Phạm ! Nếu có kẻ trai lành, người nữ thiện nào vừa mới nghe qua Đà La Ni này thì hết thảy tội chướng đã tạo, đều được tiêu diệt. Nếu hay đọc tụng, thọ trì tại tâm thì nên biết người đó là thân kiên cố của Kim Cương, lửa chẳng thể đốt, đao chẳng thể hại, độc chẳng bị trúng.
Này Đại Phạm ! Vì sao biết là lửa chẳng thể thiêu đốt được? Ở thành Ca Tỳ La, lúc Đồng tử La Hầu La còn nằm trong thai mẹ. Mẹ Ngài tên là Gia Du Đà La, vốn là người nữ thuộc dòng Thích Ca, bà bị ném vào hầm lửa. Lúc đó La Hầu La nằm trong thai mẹ, nhớ niệm Đà La Ni này nên hầm lửa ấy liền tự trong mát biến thành ao sen. Tại sao thế ? Vì Đà La Ni này là lực gia trì của tất cả Như Lai vậy. Đại Phạm, Ông nên biết, do nhân duyên ấy mà lửa chẳng thể thiêu đốt được.
Lại nữa Đại Phạm ! Độc chẳng thể hại. Như thành Thiện Du có người con của Trưởng giả Phong Tài, trì tụng Mật Ngôn do Thế Thiên nói. Người đó dùng lực Trì Minh câu triệu Long Vương Đức Xoa Ca mà quên Kết Giới Hộ Thân. Vị Long Vương ấy giận dữ nghiến răng, làm cho người kia chịu nỗi đau khổ nặng nề và sắp sửa mất mạng. Rất nhiều người Trì Minh trợ giúp nhưng chẳng thể cứu hộ được. Lúc ấy trong Thành có một vị Ưu Bà Di (Cận Sự Nữ) tên là Vô Cấu Thanh Tĩnh thường trì Đà La Ni Tùy Cầu Đại Minh này. Vị Ưu Bà Di đó đã thành tựu Đại Bi, khởi lòng thương xót, đi đến nơi ấy dùng Đà La Ni này gia bị cho. Vừa mới tụng một biến, thì chất độc kia liền bị tiêu diệt và người con của vị Trưởng Giả được hồi phục. Khi đó, người ấy ở bên vị Vô Cấu Thanh Tĩnh thọ nhận Đà La Ni này và ghi nhớ trong tâm. Đại Phạm nên biết, đó là chất độc chẳng thể hại được.
Lại nữa Đại Phạm ! Ở thành Phiệt La Nại Ky,ø có vị vua tên là Phạm Thí . Vua nước lân cận là kẻ có thế lực lớn nên đã khởi 4 loại binh đến chinh phạt Phạm Thí. Thời, vị cân thần liền tâu với vua Phạm Thí rằng: "Đại Vương! Nay quân địch đi đến chiếm đoạt thành ấp của chúng ta. Mong Đại Vương ban lệnh cho chúng tôi phải dùng kế sách nào để đẩy lui quân địch ấy?" Bấy giờ Phạm Thí bảo quần thần rằng : "Nay các ngươi đừng vội chống cự. Ta có Đà La Ni Tùy Cầu Đại Minh Vương. Do uy lực của Đà La Ni này, hay đập tan quân địch khiến cho chúng giống như đám tro tàn vậy ”.
Các quần thần liền cúi đầu tâu rằng : "Đại Vương ! Bọn hạ thần chúng tôi chưa từng nghe qua điều này". Đức vua bảo rằng: "Nay các ngươi sẽ thấy sự hiệu nghiệm ngay lập tức.” Lúc đó Phạm Thí liền dùng nước thơm tắm gội, mặc áo mới sạch, y theo Pháp viết chép Đà La Ni này, bỏ vào trong cái hộp rồi đặt ở trong búi tóc. Nhà vua dùng Đà La Ni này hộ thân, mặc áo giáp rồi đi ngay vào quân trận. Một mình nhà vua đánh nhau với 4 loại binh, giáng phục và khiến chúng quy hàng. Đại Phạm nên biết, Đà La Ni Đại Tùy Cầu Vô Năng Thắng này là nơi gia trì của tất cả Như Lai Tâm Ấn nên có sự thần nghiệm to lớn. Ông nên thọ trì và phải biết Đà La Ni này ngang bằng với chư Phật. Sau này, vào thời Mạt Pháp sẽ vì những hữu tình : đoản mệnh, kém phước, không có phước, chẳng chịu tu phước mà làm lợi ích cho họ vậy.
Này Đại Phạm ! Đà La Ni Đại Tùy Cầu này, y theo Pháp viết chép rồi cột trên cánh tay hoặc đeo dưới cổ. Nên biết người đó là nơi gia trì của tất cả Như Lai, là thân kiên cố của Kim Cương. Nên biết người đó là Tạng Thân của tất cả Như Lai, nên biết người đó là con mắt của tất cả Như Lai, nên biết người đó là Thân Quang Minh Xí Thịnh của tất cả Như Lai, nên biết người đó là giáp trụ bất hoại, nên biết người đó hay đập nát tất cả oán địch, nên biết người đó hay thiêu đốt tất cả tội chướng, nên biết người đó hay làm cho nẻo Địa Ngục được thanh tịnh. Này Đại Phạm ! Vì sao lại biết được như thế ? Khi xưa có một vị Bật Sô (Tỳ khưu) mang tâm hoại niềm tin trong sạch (Tĩnh Tín), làm nhiều điều vi phạm Chế Giới của Như Lai, ăn trộm tài vật của Tăng hiện tiền với vật của Tăng Kỳ Chúng, vật của Tứ Phương Tăng đem dùng làm của riêng, sau đó bị tội nặng phải chịu sự khổ não lớn lao. Thời vị Bật Sô ấy không có người cứu tế nên kêu gào to tiếng. Bấy giờ ở xứ đó, có một vị Ưu Bà Tắc (Cận Sự Nam) thuộc dòng Bà La Môn nghe tiếng kêu gào liền đi đến chỗ vị Bật Sô bị bệnh kia, khởi tâm xót thương rộng lớn, liền vì vị Tăng ấy viết chép Đà La Ni Tùy Cầu Đại Minh Vương Đà La Ni này rồi đeo dưới cổ vị Tăng. Vị Bật Sô ấy liền dứt hết mọi sự khổ não, chết ngay và bị đọa vào Địa Ngục Vô Gián. Thi
hài của vị Bật Sô được đưa vào trong cái Tháp, nhưng trên thân vẫn đeo Đà La Ni đó. Do nhân ấy, khi vị Bật Sô vừa mới đọa vào Địa Ngục thì bao nhiêu sự đau khổ của kẻ thọ tội đều được chận đứng, hoặc đều được an vui. Bao nhiêu ngọn lửa mạnh mẽ của Địa Ngục A Tỳ do lực công đức của Đà La Ni này, thảy đều tiêu diệt.
Bấy giờ, Ngục Tốt của vua Diêm La nhìn thấy hiện tượng đó thì rất kinh ngạc, liền đến trình báo với vua Diêm La và nói Già Đà rằng :
Nay Đại Vương nên biết Việc này rất đặc biệt
Ở nơi hiểm ách lớn Khổ não đều ngưng nghỉ
Nghiệp ác của chúng sinh Ngọn lửa mạnh đều diệt
Cưa cắt tự dừng đứng Đao kiếm chẳng thể hại
Cây đao và rừng kiếm Các nỗi khổ giết mổ
Nồi nước nóng, ngục khác Khổ não đều ngưng trừ
Diêm Ma là Pháp Vương Dùng Pháp trị Hữu Tình
Nhân duyên này chẳng nhỏ Xin giúp tôi trừ nghi ".
Thời Đức vua Diêm La Từ Vô Bi ngục tốt
Nghe việc như vậy xong Liền nói lên lời là :
“ Việc này thật kỳ lạ ! Đều do nghiệp sở cảm
Ngươi đến thành Mãn Túc Xét xem việc thế nào ? "
Ngục tốt nhận sắc lệnh Ngay vào lúc đầu đêm
Phía Nam thành Mãn Túc Nhìn Tháp của Bật Sô
Liền thấy trên thi hài Đeo Chú Đà La Ni
Đại Minh Vương Tùy Cầu Tỏa ánh hào quang lớn
Rực rỡ như đám lửa Trời, Rồng với Dược Xoa
Tám Bộ Chúng vây quanh Cung kính mà cúng dường
Thời ngục tốt Diêm La Đặt hiệu Đại Tùy Cầu
(Đây là tên cái Tháp chứa thi hài của vị Tăng)
Khi ấy Ngục Tốt Diêm La quay về nơi vua ngự, trình bày đầy đủ sự việc trên. Vị Bật Sô kia nương theo uy lực của Đà La Ni này mà tội chướng đều được tiêu diệt và tái sinh về cõi Trời Tam Thập Tam Thiên. Nhân vì thân trước, mà vị Trời này có hiệu là Thiên Tử Tùy Cầu.
Đại Phạm nên biết Đà La Ni này có uy lực to lớn . Ông nên thọ trì, viết chép, đọc tụng, y theo Pháp mà đội đeo, ắt sẽ mau được xa lìa tất cả khổ não, tất cả nẻo ác và chẳng bị sấm sét gây thương hại. Làm sao mà biết ? Này Đại Phạm ! Ở thành Hình Ngu Mật Đàn có vị Trưởng Giả tên là Vĩ Ma La Thương Khư. Ông là nhà cự phú, kho tàng cất chứa đầy dẫy vàng bạc với rất nhiều tiền gạo. Khi ấy, vị Trưởng giả đó là một vị thương chủ. Ông dùng chiếc thuyền lớn đi vào biển để tìm kiếm báu vật. Lúc ở giữa biển lớn, ông gặp con cá Đề Di muốn phá nát thuyền. Vị Long Vương trong biển ấy lạisinh tâm giận dữ, khởi sấm sét lớn, gào thét tạo ra mây sấm và mưa đá Kim Cương. Thời các thương nhân nhìn thấy cơn mưa đá sấm sét này, đều buồn rầu phiền não và rất sợ hãi liền gấp rút kêu gọi cầu cứu nhưng vẫn không có ai đến cứu giúp. Bấy giờ, chúng thương nhân đến gặp vị thương chủ, khóc lóc bi than và nói rằng : "Nhân Giả có kế sách nào cứu giúp cho chúng tôi xa lià khỏi nỗi lo âu sợ hãi này chăng ? ! “
Lúc đó, vị thương chủ không hề sợ hãi. Nhờ chí tính kiên cố, có đại Trí tuệ nên khi thấy các thương nhân bị sợ hãi bức bách, ông liền bảo rằng: "Hỡi các thương nhân ! Các ông đừng sợ mà hãy khởi tâm mạnh mẽ cứng cáp. Nay tôi sẽ giúp các ông miễn trừ sự sợ hãi". Các thương nhân sinh tâm cứng mạnh, lại nói rằng : "Đại thương chủ ! Nguyện xin mau chóng nói phương cách trừ tai nạn, khiến cho chúng tôi bảo tồn được mạng sống". Vị thương chủ ấy liền bảo các thương nhân rằng : "Tôi có Đại Minh Vương tên là Đà La Ni Tùy Cầu, có thần thông to lớn hay giáng phục các điều khó điều phục. Nay tôi giải thoát các sự ưu não này cho ".
Vị thương chủ liền viết chép Đà La Ni Tùy Cầu này đặt trên đầu cây phướng. Tức thời con cá Đê Di nhìn thấy chiếc thuyền này tỏa ánh sáng rực rỡ như đám lửa mạnh mẽ. Do đại uy lực Trí Hỏa của Đà La Ni này thiêu đốt , con cá Đê Di liền tiêu tan. Các hàng Long Vương nhìn thấy tướng này đều khởi tâm từ, liền bay từ trên hư không xuống, tác cúng dường rộng lớn và đưa chiếc thuyền này đến bãi chứa vật báu. Này Đại Phạm ! Điều này đều do Đại Trí Đại Minh Đại Tùy Cầu dùng nơi thần lực gia trì của tất cả Như Lai, cho nên có tên là Đại Minh Vương. Nếu có người viết chép Đà La Ni này, đặt ở đầu cây phướng trên thuyền thì hay chận đứng tất cả gió ác, mưa đá, nóng lạnh không đúng thời tiết, sấm chớp, sét đánh. Hay chận đứng sự kiện cáo tranh đấu của tất cả chư Thiên. Hay trừ tất cả muỗi mòng, hoàng trùng (loài sâu ăn lúa mạ) với các loài ăn lúa mạ khác. Hay làm cho tất cả loài thú mạnh ác có móng vuốt sắc bén đều lui tan. Hay khiến cho tất cả lúa mạ, hoa quả tăng trưởng hương vị và có thân thể tốt đẹp trơn láng. Nếu đất nước bị nạn khô hạn chẳng thể điều phục, do uy lực của Đà La Ni này thì Long Vương vui vẻ tuôn mưa đúng thời tiết.
Lại nữa Đại Phạm ! Nếu có nơi lưu bố Đà La Ni Đại Tùy Cầu này thì các hữu tình đã biết điều này, nên dùng hương hoa, phướng, lọng, mọi thứ cúng dường thượng diệu.
Phải dùng vải lụa thù thắng bao bọc Kinh lại, đặt ở trong cái Tháp hoặc đặt trên đầu cây phướng. Dùng mọi loại âm nhạc ca vịnh tán thán, nhiễu quanh cúng dường, chân thành lễ bái; ắt mọi việc suy tư, ước vọng mong cầu trong tâm của các Hữu Tình ấy đều được mãn túc. Nếu có thể y theo Pháp viết chép rồi đeo giữ trên thân thì mọi mong cầu đều được. Cầu con trai được con trai, cầu con gái được con gái, thai nhi an ổn lớn dần tròn đủ và sinh nở an vui. Này Đại Phạm ! Làm sao mà biết được ? Xưa kia ở thành Ma Già Đà có vị vua tên là Thí Nguyện Thủ (Prasàrita - Pani). Do nhân duyên gì mà có tên là Thí Nguyện Thủ ? Lúc vị vua ấy sinh ra, liền giơ tay nắm bầu vú của mẹ. Do bàn tay chạm vào vú mẹ, thì bầu vú mẹ biến thành màu vàng, vú mẹ tăng trưởng tự nhiên và tuôn chảy sữa. Nếu có chúng nhân đi đến cầu xin thì nhà vua duỗi bàn tay phải, khởi niềm tin trong sạch nơi Phật, Bồ Tát, Chư Thiên rồi nghiêng úp xuống, thì mọi thứ trân bảo màu nhiệm đã được ghi chép đều tuôn vào bàn tay của nhà vua mà ban cho người cầu xin. Tùy theo sự tu hành của người ấy, mà đều được đầy đủ và đều thành tựu mọi sự an vui. Do nguyên nhân ấy nên có tên là Thí Nguyện Thủ. Vị vua ấy vì cầu con nên cúng dường chư Phật với các Tháp Miếu, nhưng cầu con chẳng được. Nhà vua giữ gìn Tế Giới rộng bày Vô Giá Thí Hội, rộng tu phước nghiệp, hộ trì Tam Bảo, tu sửa chùa chiền bị phá hoại, trong tương lai làm một kho cất chứa.
Có điều Đại Phạm ! Ta nhớ về thời quá khứ, ở quốc cảnh Ma Già Đà này, trong thành Câu Thi Na, phần lớn tụ lạc Đại Lực Sĩ đều theo giáo Pháp của Như Lai. Khi ấy có một vị Trưởng Giả tên là Pháp Tuệ (Dharma Mati) đối với tất cả chúng sinh khởi tâm Đại Bi, vì các hữu tình nói Pháp yếu của Đà La Ni Đại Tùy Cầu này. Ngay lúc ấy, ở trong nhà Trưởng Giả có một người nghèo nghe được Pháp màu nhiệm này, thì nói với Trưởng Giả Tử rằng : "Trưởng Giả Tử ! Tôi ở trong nhà của ông làm việc, thường vui nghe Pháp, tôi sẽ cúng dường Pháp này". Người nghèo túng này ở nhà Trưởng Giả làm đủ mọi việc, lại cúng dường Pháp. Về sau, lúc Trưởng Giả Tử ấy trao cho một đồng tiền vàng. Nhận xong, người đó phát tâm Bồ Đề, muốn cứu giúp chúng sinh, rồi dùng phước này hồi thí cho tất cả hữu tình. Người ấy liền đem đồng tiền vàng cúng dường Đà La Ni Đại Tùy Cầu này và phát nguyện rằng : "Dùng Phước xả thí này, nguyện cho tất cả hữu tình cắt đứt được nghiệp nghèo túng ". Do nhân duyên này, mà Phước xả thí ấy không hề chấm dứt. Như vậy phần lớn nhân duyên của Chủng Phước là cúng dường chư Phật, Bồ Tát.
Vì phước nghiệp này, Thiên Tử Tĩnh Cư hiện ở trong mộng báo cho nhà vua rằng : "Nay Đại Vương có thể y theo Pháp, viết chép Đà La Ni Tùy Cầu này, khiến cho Đại Phu Nhân giữ Tế Giới và đeo giữ, ắt có con ngay". Khi tỉnh giấc, nhà vua cho triệu thỉnh một người xem tướng với chúng Bà La Môn có Trí, chọn ngày trực của Tú Diệu tốt y theo Pháp giữ Tế Giới, viết chép Đà La Ni này khiến cho Phu Nhân đeo dưới cổ. Lại sai cúng dường Tháp Suốt Đổ Ba, chư Phật Bồ Tát, rộng hành xả thí nên liền có mang. Đầy đủ ngày tháng sinh ra một đứa con đầy đủ sắc tướng đoan nghiêm thù thắng, người nhìn thấy đều vui vẻ. Đại Phạm nên biết, đó là uy lực của Đà La Ni Vô Năng Thắng Vô Ngại Đại Tùy Cầu Bảo Ấn Tâm Minh Vương, là nơi cúng dường của tất cả Như Lai, ai có mong cầu đều được vừa ý.
Này Đại Phạm ! Người nghèo làm công cho nhà Trưởng Giả Tử Pháp Tuệ lúc ấy chẳng phải ai xa lạ, mà chính là Vua Thí Nguyện Thủ vậy. Do đời quá khứ xả thí một đồng tiền vàng cúng dường Đà La Ni Đại Tùy Cầu này, rồi hồi thí cho tất cả hữu tình. Do
nhân duyên ấy mà được Phước vô tận, nên thân đời sau được làm quốc vương, tin tưởng trong sạch nơi Tam Bảo, tâm chẳng thoái lui, rộng hành xả thí, thành tựu Đàn Ba La Mật.
PHỔ BIẾN QUANG MINH THANH TĨNH XÍ THỊNH NHƯ Ý BẢO ẤN TÂM VÔ NĂNG THẮNG ĐẠI MINH VƯƠNG ĐẠI TÙY CẦU ĐÀ LA NI
(Quyển Thượng)
23/ 07/ 1998
KINH PHỔ BIẾN QUANG MINH THANH TĨNH XÍ THỊNH NHƯ Ý BẢO ẤN TÂM VÔ NĂNG THẮNG ĐẠI MINH
VƯƠNG ĐẠI TÙY CẦU ĐÀ LA NI
QUYỂN HẠ
Chùa Đại Hưng Thiện, Tam Tạng Sa Môn Đại Quảng Trí Bất Không phụng chiếu dịch Phạn ra Hán văn
Việt dịch : Huyền Thanh
Lại nữa Đại Phạm ! Lúc Thiên Đế Thích đánh nhau với A Tô La thì Thiên Đế Thích đem Đà La Ni này đeo giữ ở trong búi tóc trên đỉnh đầu, nên chúng của Trời Đế Thích chẳng bị thương tổn, thường đắc thắng và an ổn quay về Cung. Bồ Tát Sơ phát Tâm cho đến Bồ Tát ở Cứu Cánh Địa đeo trì thì hay xa lìa mọi thứ chướng nạn, nghiệp Ma.
Nếu có người đeo Đà La Ni này tức là nơi gia trì của tất cả Như Lai, là nơi hộ niệm của tất cả Bồ Tát. Tất cả người, Trời, Quốc vương, Vương tử, Đại thần, Bà La Môn, trưởng giả luôn luôn cung kính, lễ bái thừa sự. Tất cả hàng Trời, Rồng, A Tô La, Nghiệt Lộ Trà, Khẩn Na La, Ma Hầu La Già, Nhân Phi Nhân đều cung kính người đeo trì ấy. Tám Bộ Trời Rồng của nhóm ấy đều tin rằng người đó là bậc Đại Trượng Phu.
Đức Như Lai lại nói : "Kẻ trai lành, người nữ thiện ấy đều hay đập nát tất cả Ma chướng, xa lìa tất cả bệnh tật, xa lìa tất cả não hoạnh, trừ tất cả ưu não, luôn là nơi thủ hộ của tất cả Trời Rồng".
Đức Phật bảo : "Này Đại Phạm ! Lại có 4 Đà La Ni gọi là Chân Ngôn Vô Năng Thắng Phi Đại Tâm. Nếu có ai viết chép, hay đeo trên thân, thì thường nên tụng trì, thâm tâm suy tư Quán Hạnh, ắt hay trừ bỏ mộng ác, việc chẳng lành, đều được thành tựu tất cả sự an vui.
* Án - A mật-lị đa, phộc lệ, phộc la phộc la, bát-la phộc la, vĩ thú đệ, hồng hồng, phả tra phả tra. sa-phộc haï
(OM- AMRÏA VARE VARA VARA PRAVARA VI’SUDDHE HÙM HÙM PHAT PHAT SVÀHÀ)
* Án- A mật-lị đa vĩ lô chỉ nãnh, nghiệt bà tăng la khất-sái ni, a yết lị-sái ni, hồng hồng, phả tra phả tra, sa-phộc hạ
(OM- AMRTA VILOKINI GARBHA SAMRAKSANI AKARSANI
HÙM HÙM PHAT PHAT SVÀHÀ)
* Án- Vĩ ma lê, nhạ dã, phộc lệ. A mật-lị đế. Hồng hồng hồng hồng, phả tra phả tra phả tra phả tra, sa-phộc hạ.
(OM- VIMALE JAYA VARE AMRTE HÙM HÙM HÙM HÙM PHAT PHAT PHAT PHAT SVÀHÀ)
* Án- Bả la, bả la, tam bả la tam bả la, ấn nại-lị dã, vĩ thú đà nãnh, hồng hồng, lỗ lỗ tả lệ, sa-phộc hạ.
(OM- BHARA BHARA SAMBHARA SAMBHARA INDRIYA VI’SODHANE RURU CALA SVÀHÀ).
Vừa mới nói 4 Đại Đà La Ni này xong, thì tất cả chư Phật, chư Đại Bồ Tát, Thanh Văn khác miệng cùng lời nói Đại Tùy Cầu Đại Minh Vương Vô Năng Thắng Đà La Ni Giáp Trụ Mật Ngôn Cú này. Dùng Ấn của tất cả Như Lai, ấn lên. Đà La Ni này rất khó được nghe huống chi viết chép, thọ trì, đọc tụng, vì người khác diễn nói. Chính vì thế cho nên biết đó là Đại Phật sự, Như Lai khen ngợi khôn cùng, nói lời tùy hỷ, rất khó được nghe. Tên của Đà La Ni Đại Tùy Cầu Đại Vô Năng Thắng này rất khó được nghe, rất ư khó được, hay diệt các tội. Đại lực dũng kiện, cụ đại uy đức thần lực, hay sinh vô lượng công đức, hay đập nát tât cả Ma chúng, hay cắt đứt tất cả các tập khí với Ma chướng. Hay trừ tất cả Chân ngôn khác, chất độc, yểm đảo, dược pháp, tăng pháp, giáng phục pháp hoặc khiến cho chúng sinh có tâm ác khởi tâm Đại Bi. Hay giúp đỡ, yêu thích người cúng dường chư Phật Bồ Tát Thánh chúng. Hay hộ giúp kẻ viết chép thọ trì đọc tụng, chân thành nghe Kinh Điển Đại Thừa, lại hay mãn túc việc tu Phật Bồ Đề.
Này Đại Phạm! Trì Đại Tùy Cầu Vô Năng Thắng Đại Minh này chẳng bị hoại nát, ở tất cả nơi được đại cúng dường giống như Phật Đại Sư Lưỡng Túc Tôn. Làm sao biết được Minh Vương này hay nghiền nát tất cả Ma? Đại Phạm ! Vào thời quá khứ có Đức Phật tên là Quảng Bác Vi Tiếu Diện Ma Ni Kim Bảo Quang diễm Chiếu Diệu Cao Dũng Vương (Vipùla Pratita Vadana Sùktva Mani Kanaka Ratna Jvala Ra’smi Prabha Abhyunõgata Ràja) Như Lai Ứng Chính Giác, lúc vừa mới thành Đạo đi đến Bồ Đề Trường muốn chuyển Pháp Luân, tất cả Như Lai xưng tán.
Bấy giờ tất cả Ma với vô lượng câu đê na dữu đa quyến thuộc vây quanh, thị hiện mọi loại Ma cảnh, hiển tác thần thông, tuôn mưa đủ loại khí trượng tràn khắp 4 phương để gây chướng nạn. Khi ấy Như Lai Quảng Bác Vi Tiếu Diện Ma Ni Kim Bảo Quang Diễm Chiếu Diệu Cao Dũng Vương trong phút chốc tịch nhiên an trú, ý tụng Đại Tùy
Cầu Đà La Ni này, chỉ khoảng sát na thì tất cả Thiên Ma Ba Tuần nhìn thấy từ mỗi một sợi lông của Đức Như Lai ấy tuôn ra vô lượng câu đê trăm ngàn na dữu đa Kim Cương Sứ giả, thân mặc giáp trụ tỏa ánh hào quang lớn, đều cầm đao kiếm, búa, dây, gậy, côn, Tam Cổ Xoa cùng nhau nói là: "Bắt trói ác Ma, nghiền nát tâm ác, chém đứt mạng chúng, tán nát chư Ma đã gây chướng nạn cho Đức Như Lai, tức là tất cả ác Ma khó điều phục ấy". Dùng Đại uy lực của Như Lai, ở trong lỗ chân lông hiện ra vị Đại Trượng Phu. Các Chúng Ma ấy buồn thảm té lăn ra đất, đều bị mất: tự tính, thần thông, biện tài…. bỏ chạy tứ tán. Đức Như Lai dùng cây kiếm Đại Bi thắng được Ma cảnh, thành Vô Thượng Bồ Đề, liền chuyển tất cả Như Lai Pháp Luân giống như tất cả Phật. Tất cả loài gây chướng, Tỳ Na Dạ Ca, các Ma ác… thảy đều bị tồi hoại. Đức Như Lai liền chuyển Pháp Luân, vượt khỏi biển lớn sinh tử đến được bờ kia (bờ Giác Ngộ). Như vậy, Đại Phạm! Đà La Ni này có thế lực lớn hay đắc thần thông đi đến bờ kia. Nếu vừa mới khởi ý niệm thì ở nơi hiểm nguy đều được giải thoát, vui thích thanh tịnh, Hữu Tình có tâm ác liền khởi tâm Đại Bi. Vì thế Đại Phạm nên ghi nhớ, tác ý như lý, y theo Pháp viết chép mà thường đeo giữ.
Lại nữa Đại Phạm! Tại thành Ô Thiền Na (Ujayanì) có vị vua tên là Phạm Thí. Thời ấy có một người phạm vào tội nặng, nhà vua ra lệnh giết chết kẻ ấy. Người nhận lệnh đem tội nhân vào trong núi hành tội. Khi vào hang núi, người áp giải tội nhân liền vung đao tính chém chết. Tội nhân kia, lúc trước có đeo Đà La Ni Tùy Cầu Vô Năng Thắng này ở cánh tay phải, nay tâm lại ghi nhớ. Do uy lực của Đại Minh này, nên cây đao ấy lóe ra ánh sáng giống như đám lửa rồi gãy ra từng mảnh như bụi nhỏ. Khi nhìn thấy hiện tượng này, người đao phủ lấy làm kinh ngạc, liền trình báo đầy đủ cho nhà vua hay. Đức vua nghe xong, rất tức giận, lại sai sứ giả đem tội nhân ấy đẩy vào hang Dược Xoa khiến cho chúng Dược Xoa ăn thịt. Người áp lãnh liền đem tội nhân đẩy vào trong hang. Khi tội nhân mới vào hang thì chúng Dược Xoa vui vẻ thích thú chạy ra phía trước, muốn ăn thịt ngay. Do tội nhân ấy đeo Đại Tùy Cầu Uy Đức Lực cho nên chúng Dược Xoa nhìn thấy trên thân thể của tội nhân ấy có ánh hào quang rực rỡ chiếu soi, chúng rất sợ hãi đều nghĩ rằng : "Lửa này muốn thiêu cháy chúng ta". Do vậy, chúng Dược Xoa liền đẩy tội nhân ra ngoài của hang rồi vây quanh lễ bái. Sứ giả lại trình báo đầy đủ cho vua hay. Nghe xong, nhà vua càng giận dữ hơn nữa, lại sai sứ giả cột tội nhân lại ném xuống sông sâu. Sứ giả vâng lệnh thi hành. Lúc tội nhân ấy vừa rơi xuống sông thì nước sông liền khô cạn giống như bờ đất và tọâi nhân kia liền đứng trên bờ, mảnh lụa trên tay từ từ đứt đoạn. Khi nhà vua nghe qua việc này thì rất kinh ngạc, vui vẻ mỉm cười, sinh đại kỳ đặc liền kêu tội nhân đến hỏi: "Vì sao ngươi lại thoát được nạn ?". Tội nhân đáp : "Đại Vương ! Sở dĩ tôi được thoát nạn, vì trên thân của tôi có đeo Đà La Ni Đại Tùy Cầu Vô Năng Thắng Đại Minh Vương”. Vua liền khen ngợi: "Thật là lạ lùng ! Đại Minh này quả là vi diệu, hay dẹp tan tội chết ", rồi nói Già Đà rằng :
Đại Minh thật vi diệu ! Hay phá tan tội chết
Nơi chư Phật gia trì Cứu giúp các hữu tình
Hay giải thoát bệnh khổ Uy Đức của Đại Minh
Giải thoát sự chết yểu Đại Bi Tôn đã nói
Hay chận bệnh tật lớn Mau chứng Đại Bồ Đề
Bấy giờ, nhà vua vui mừng hớn hở liền lấy Đà La Ni Tùy Cầu đó cúng dường, lễ bái và đem vải lụa cột trên đầu người bị tội, ban cho phép quán đỉnh và xưng là Thành Chủ (5 Pháp của nước Thirên Trúc. Nếu nhận quan vinh, đều dùng vải lụa cột trên đầu, quán đỉnh, sau đó mới nhận chức),
Như vậy Đại Phạm ! Đà La Ni Đại Tùy Cầu Vô Năng Thắng này. Nếu có người đeo hay cột trên người, thì ở tất cả nơi đều được đại cúng dường. Nếu có chúng sinh tâm ác khó điều phục, liền khởi sanh tâm từ và cùng thuận phục. Vì thế, nên thường đeo giữ Đại Đà La Ni này. Lại nữa Đại Phạm ! Nếu muốn đeo Đà La Ni này thì nên lựa ngày tốt, sao tốt, giờ tốt y theo Pháp viết Đà La Ni " .
Khi Đại Phạm Vương nghe lời dạy xong thì rất vui vẻ, cúi 5 vóc sát đất đỉnh lễ dưới chân Đức Phật, rồi bạch rằng : "Bạch Thế Tôn ! Dùng phương pháp nào để viết chép Đà La Ni Đại Tùy Cầu Vô Năng Thắng này ? "
Bấy giờ Đức Như Lai liền nói Già Đa,ø bảo Đại Phạm rằng :
Đại Phạm ! Ông nên biết Nay Ta vì ông nói
Thương xót các hữu tình Khiến được an vui lớn
Mau lìa nghiệp bức bách Giải thoát các bệnh tật
Phụ nữ được mang thai (Cầu con được như ý)
Hữu tình lìa nghèo túng Nghiệp khốn khó đều trừ
Nên vào lúc cát Tú (Sao Tú trực tốt)
Bày sa tú tương ứng (Tinh tú làm bằng cát)
Cần phải giữ Tế Giới Mà cúng dường chư Phật
Phát Tâm Đại Bồ Đề Lại sinh tâm Bi Mẫn
Và khởi Tâm Đại Bi Nghĩ lợi ích cho người
Khắp các loại hữu tình Dùng nước cốt của hương
Long Não, Chiên Đàn hương Mặc quần áo mới sạch
Liền đốt hương xông ướp Nên dùng Cù Ma Di
Tôâ Man Trà La nhỏ Nên lấy năm Hiền Bình
Đều chứa đầy nước thơm Cắm các loại hoa quả
Đặt ở bốn góc Đàn Còn một cái giữa Đàn
Trành hoa và hương đốt Với hương xoa màu nhiệm
Nên đốt Ngũ Vị hương Đàn hương, Táp Tất Ca
Tô Hợp, Trầm, Thạch Mật Hòa hợp rồi thiêu đốt
Đủ mọi thứ diệu hoa Các hoa quả, hạt giống
Tùy thời đem cúng dường Hương xoa dùng nghiêm sức
Tô, Mật và nhũ lạc Miến, lúa và sữa mè
Chứa đầy vật cúng dường Ưùng lượng đều cát tường
Dùng chén bát sành sứ Bốn góc đầy mùi thơm
Cọc gỗ Khư Đà La Đóng ở bốn góc Đàn
Dùng chỉ ngũ sắc cột Nếu cầu xin Tất Địa
Nên ăn Tam Bạch Thực Vẽ Tùy Cầu Nhân này
Nên ngồi chính giữa Đàn Trải chiếu bằng tranh cói
Y Pháp mà tô vẽ Hoặc lụa trắng, lụa màu
Hoặc dùng vỏ cây hoa Hoặc lá hoặc vật khác
Viết Đà La Ni này Người nữ cầu xin con
Nên dùng Ngưu hoàng vẽ Chính giữa đặt Đồng Tử
Anh lạc trang nghiêm thân Bát chứa đầy trân bảo
Dùng tay trái cầm giữ Ngồi ngay trên hoa sen
Lá sen đều nở rộng Lại ở góc phía Tây
Tô vẽ bốn núi báu Dùng vàng báu tô núi
Nghiêm cần nên tô vẽ Hay khiến thai an ổn
Trượng phu cầu xin con Nên dùng Uất Kim vẽ
Ắt việc mong cầu ấy Thảy đều được thành tựu
Ở bốn mặt Chân Ngôn Nên vẽ mọi loại Ấn
Lại vẽ đóa hoa sen Hoặc hai, hoặc ba, bốn
Cho đến năm hoa sen Hoa ấy đều hé nở
Tám cánh đủ râu nhụy Cuống sen dùng lụa buộc
Trên hoa vẽ Tam Kích Trên kích lại treo lụa
Lại vẽ cây búa lớn (Phủ việt) Cũng ở trên hoa sen
Lại vẽ hoa sen trắng Bên trên vẽ cây kiếm
Lại ngay trên hoa sen Tô vẽ ngay Thương Khư
Các hoa sen đã vẽ Đều ở trong ao báu
Nếu trượng phu đeo giữ Chẳng nên vẽ Đồng Tử
Nên vẽ hình Thiên nhân Mọi thứ báu trang nghiêm
Nếu Đế Vương đeo giữ Chính giữa nên tô vẽ
Bồ Tát Quán Tự Tại Lại ở nơi bốn mặt
Vẽ mọi loại Ấn Khế Nếu là Bật Sô đeo
Nên vẽ Trì Kim Cương Phải, cầm chày Kim Cương
Quyền trái dựng ngón trỏ Lại nên ở bốn góc
Tô vẽ bốn Thiên Vương Bà La Môn đeo giữ
Tô vẽ Y Xá Na Nếu Sát Lợi đeo giữ
Vẽ Ma Hê Thủ La Nếu Tỳ Xá đeo giữ
Tô vẽ Thiên Đế Thích Hoặc vẽ Tỳ Sa Môn
Nếu Thị Đà đeo giữ Nên vẽ Na La Diên
Đồng nam hoặc đồng nữ Vẽ Ba Xà Ba Đề
Nữ nhân đeo màu xanh Vẽ Thiên Lô Đà La
Nữ nhân đeo màu trắng Nên vẽ Danh Xưng Thiên
Nếu nữ nhân mập béo Nên vẽ Bảo Hiền Tướng
Người nữ gầy ốm đeo Vẽ Dược Xoa Mãn Hiền
Nếu phụ nữ mang thai Nên vẽ Đại Hắc Thiên
Hoặc vẽ Phạm Thiên Vương Như vậy các loại người
Đều vẽ Bản Sở Tôn Y Pháp mà vẽ chép
Thường đeo ở trên thân Mong cầu đều như ý
Kim Cương làm Hoa Sen Ở trên đặt Bảo Châu
Như Ý, hình Hỏa Diễm Đặt trên đầu cây phướng
Ở trong viên ngọc này Đặt bản Đại Tùy Cầu
Ở trong Tùy Cầu này Vẽ Ấp Thành Chủ kia
Nếu nhà cửa của mình Dựng Tùy Cầu Sát nầy
(tức cõi của Tùy Cầu) Thì vẽ Bản gia chủ
Ở bốn mặt Tùy Cầu Chung quanh vẽ hoa sen
Ở trên nhụy thai hoa Vẽ một sợi dây lụa
Chày Kim Cương, bánh xe Cây côn, Xước Khất Để
(‘sakti) Các Khế Ấn như vậy Đều ngay trên hoa sen
Trên Sát treo phan lụa Y như Pháp cúng dường
Do Tùy Cầu Sát này Hay hộ quốc thành ấp
Và hộ giúp gia tộc Ôn dịch, các bệnh tật
Đói khát chẳng lưu hành Kẻ địch khó xâm hại
Quốc thổ đều an vui Nếu gặp trời quá nắng
Hoặc lúc mưa ứ trệ Nên vẽ Rồng chín đầu
Trên đầu có bảo châu Tỏa ra ánh lửa mạnh
Ngay trên tim của Rồng Vẽ một chày Kim Cương
Ở bốn mặt thân Rồng Vẽ Đại Tùy Cầu này
Đặt ở trong cái rương Cũng đặt trên phướng sát
Tùy thời giáng mưa ngọt (Cam vũ)Mưa ứ trệ liền hết
Thương Chủ dẫn mọi người Hoặc dưới nước trên bờ
Các thương nhân đeo giữ Nên vẽ hình thương chủ
Như trước đặt trên Sát Lìa giặc cướp, sợ hãi
Thảy đều đến bờ kia Vì thế nên siêng năng
Đeo giữ và đọc tụng Cát tường diệt các tội
Nếu là người niệm tụng Nên vẽ Tôn của mình
Nếu Nhật, Nguyệt, Huỳnh Hoặc (Hỏa Tinh)
Thần Tinh với Tuế Tinh Thái Bạch và Trấn Tinh
Tuệ và La Hầu Diệu Nhóm Cửu Chấp như vậy
Lấn bức Bản Mệnh Tú Gây ra các tai họa
Thảy đều được giải thoát Hoặc có người Thạch Nữ
(Phụ nữ không thể sinh con) Phiến Xá Bán Xá Ca
Các loại người như vậy Do đeo Đại Tùy Cầu
Liền có thể có con Nếu loại này đeo giữ
Nên vẽ Cửu Chấp Diệu Hai mươi tám Tú Thiên
Giữa vẽ hình người đó Mong cầu đều như ý
Như Thế Tôn đã nói Đắc được nơi tối thắng
Đời này và đời khác Hay được vui thù thắng
Ba Mươi Ba Thiên Cung Tùy ý liền sinh vào
Vui thích Thiểm Bộ Châu Nhà Tộc Tính tối thắng
Được sinh vào Tộc ấy Hoặc sinh Sát Lợi Thiên
Hoặc nhà Bà La Môn Do đeo Đại Tùy Cầu
Sinh nơi thù thắng này Vẽ chép, giữ, đọc tụng
Y Pháp mà đeo giữ Sinh về cõi An Lạc
Hóa sinh trong hoa sen Quyết định chẳng nghi ngờ
Tất cả chư Như Lai Khen ngợi công đức này
Xưng dương không cùng tận Đóng chặt cửa Địa Ngục
Hay mở lối chư Thiên An lạc đều thành tựu
Trí Tuệ đều viên mãn Chư Phật và Bồ Tát
Thường an ủi người ấy Thân thường thọ khoái lạc
Mạnh khỏe có Đại lực Như Lai thành thật nói
Sẽ được Chuyển Luân Vị An ủi chúng Trời người
Khiến loài tâm ác sợ Tu Đà La Ni này
Chẳng lâu sẽ đắc được Chẳng bị đao gây thương
Thuốc độc và nước lửa Thảy đều chẳng thể hại
Phi mệnh và chết yểu Các tội đều mau lìa
Thấy nghe và chạm thân Ở tất cả thời xứ
Quỷ mỵ và đấu tranh Sợ hãi… đều tiêu diệt
Trùng ác với rắn độc Ngục tù đều giải thoát
Mọi loại tật bệnh nặng Thảy đều trừ diệt hết
Do tu trì Minh này Ở các chúng Ma La
(Mara: chướng, ma chúng) Không ngại được thông đạt
Hay ở tất cả thời Đều được cúng dường lớn
Trong người được tối thắng Gia hộ tu Chân Ngôn
TU HÀNH TÙY CẦU ĐẠI HỘ MINH VƯƠNG ĐÀ LA NI
PHẨM THỨ HAI
Bấy giờ Đức Thế Tôn bảo Đại Phạm, nói Già Đà rằng:
Nay Ta vì ông nói Việc tu hành Trì Minh
Nói nghi tắc gia hộ Thương nhớ các hữu tình
Do sự ủng hộ này Đắc được thành tựu lớn
Các phương sở cư ngụ Dùng tác gia trì này
Đắc được vô chướng ngại Tâm quyết định không nghi
Không sợ không nhiệt não Trừ diệt tất cả Mỵ
Tùy thuận nơi tú diệu Hay đoạn nghiệp câu tỏa
Aùc thực, ác khiêu mạch (tự nhảy múa)
Yếm thư… đều tiêu diệt Chẳng bị các oan gia
Lấn hiếp gây thương tích Ác thị và yếm đảo
Chú dược và trùng độc Nơi nguy hiểm, địch quân
Nơi oán địch đáng sợ Tất cả đều tiêu dung
Do lực Đại Tùy Cầu Chư Phật đều ủng hộ
Nhất Thiết Trí Bồ Tát Thảy đều tác gia hộ
Duyên Giác và Thanh Văn Với nhiều chủng loại khác
Trời Rồng đại uy đức Đều cùng nhau ủng hộ
Người tụng Mật Ngôn này Do mới vừa nghe qua
Minh Vương Tối Thắng Tôn Tất cả nơi Vô úy
Mâu Ni nói điều này Mộng ác, việc làm ác
Sự bức bách cực ác Bệnh tật vây quấn thân
Bệnh gầy tiêu xương thịt Với nhiều loại bệnh khác
Đinh sang, các độc thũng Ác chú với tai họa
Cắn nhai các hữu tình Làm hữu tình tổn hại
Việc đáng sợ, hại lớn Thảy đều được trừ diệt
Do gia hộ Đại Minh Dùng Minh này gia hộ
Sắp chết, được giải thoát Nếu dùng giấy lụa đen
Đem đến cung Diêm Ma Mệnh lại tăng tuổi thọ
Do vẽ đeo Đại Hộ Nếu có người hết mạng
Sau bảy ngày sẽ chết Vừa vẽ đeo Minh này
Vô Thượng Đại Gia Hộ Hoặc nếu vừa nghe qua
Y theo pháp gia trì Nơi nơi được an ổn
Tùy ý thọ an vui Sáu mươi tám Câu Chi
Một trăm Na Dữu Đa Ba Mươi Ba chư Thiên
Trợ giúp cho Đế Thích Đến hộ giúp người này
Tùy toại tác gia hộ Bốn Đại Hộ Thế Vương
Kim Cương Thủ, Đại Lực Một trăm Minh Tộc Chúng
Thường gia hộ người ấy Nhật Thiên và Nguyệt Thiên
Phạm Vương và Tỳ Nữu Tự Tại, Dạ Ma Thiên
Bảo Hiền với Lực Thiên Mãn Hiền, Đại Dũng mãnh
Ha Lị Đế cùng con Bán Già La, Bán Chi
Câu Ma La chúng Chủ Cát Tường Đại Minh Phi
Đa Văn và Biện Tài Thương Khí Ni, Hoa Xỉ
Nhất Kế, Đại Uy Đức Đại Dược Xoa như vậy
Thường thường sẽ ủng hộ Thạch nữ ngưng sinh con
Mang thai đều tăng trưởng Thường gia hộ người ấy
Cho đến giữ thọ mệnh Trượng phu thường được thắng
Nơi chiến đấu sợ hãi Do mãn các nguyện này
Do y Tịnh Tín Thiên Các tội đều tiêu diệt
Do vẽ đại minh này Chư Phật thường quán sát
Đại uy đức Bồ tát Danh xưng ấy tăng trưởng
Phước thọ cũng như thế Tài cốc đều phong thịnh
Đắc được thảy không nghi Ngủ nghỉ và thức tỉnh
Thảy đều được an lạc Oan gia và quỉ thần
Đều chẳng dám hủy hoại Lúc đang ở chiến trường
Thường đều được đắc thắng Nếu lúc tu Mật Ngôn
Hộ này là tối thắng An vui tu các Minh
Đều được không chướng ngại Tất cả Mật Ngôn Giáo
Thảy đều được thành tựu Thâm nhập tất cả Đàn
Mau thành Tam muội gia Cho đến ở đời sau
Chư phật đều ủy ký Do trì Đại Hộ này
Các Cát tường đều mãn Ý nguyện đều thành tựu
Do mới viết Minh này Tất cả vui (lạc) phong thịnh
An lạc mà xả thọ Ắt sinh về nẻo lành
Muốn sinh Cực Lạc quốc Trì đeo Minh Vương này
Quyết định không nghi hoặc Đấu tranh nơi kiện cáo
Trong chiến trận đáng sợ Đều mau lìa sợ hãi
Lời Phật nói chân thật Thường được Túc Mệnh Trí
Đời đời đều không nghi Quốc vương đều vui vẻ
Quyến thuộc với Hậu Cung Hết thảy thường cung kính
Thường hoà cùng người thiện Thảy đều sinh thương xót
Chư Thiên cùng với người Khiến chở che giúp đỡ
Suốt cả ngày lẫn đêm Đại Hộ Thành Tựu Minh
Đẳng Chính Giác đã nói.
Bấy giờ Đức Bạc Già Phạm liền nói Tùy Cầu Đại Hộ Minh Vương Đại Tâm Đà La Ni :
Nẵng mô mẫu đà gia (NAMO BUDDHÀYA )
Nẵng mô Đạt Ma dã (NAMO DHARMÀYA)
Ná mạc Tăng Già daõ (NAMO SAMGHÀYA)
Nẵng mô Bà nga phộc đế, xả chỉ-dã mẫu nẵng duệ, ma ha ca lỗ ni ca dã, đát tha nghiệt đá dạ la-ha đế, tam miệu tam mẫu đà dã (NAMO BHAGAVATE ‘SAKYAMANAYE MAHÀ KARUNIKÀYA TATHÀGATÀYA ARHATE SAMYAKSAMBUDDHÀYA Ná mạc táp đáp tỳ-dược tam miệu tam một đệ tỳ-dược (NAMAH SAPTA BHYAH SAMYAKSAMBUDDHE BHYAH) Ế sam, ná mạc sa khất-lị đát-phộc (ESÀM NAMAH SKRTVA) Mẫu đà xả bà nẵng vật-lã đà duệ (BUDDHA ‘SASANA VRDHAYE) A hạ nhĩ ná nãnh-dần (AHAMIDÀNYÀM) Tam bát-la phộc khất-sái mính
(SAMPRAVA KSA ME) Tá phộc tát đát-phộc nộ kiếm bả daï (SARVA SATVÀ DAKAMPAYA) I hàm vĩ niệm, ma hạ đế nghệ (IMÀM VIDYA MAHÀ TEJÌ) Ma hạ ma la bả la khất-la hàm (MAHÀ MALA PARÀKRA MÀM) Duệ thấp bà sử đam ma đát-la diễm (YE SYAM BHISITAM MÀTRÀYAM) Phộc nhật-la sa nẵng ma nãnh sử tị (VAJRÀSANA MANÌSIBHI) Cật-la hạ tát phệ vĩ nẵng dã ca (GRAHA SARVE VINÀYAKA) Thất-chế phộc đắc khất-sái noa, vĩ la dựng tát đá (‘SCA VATA KSANA VIRAYAM GATA)Ï Đát nễ dã tha (TADYATHÀ) :
Nghi lị, nghi lị, nghi lị ni (GÌRI GÌRI GIRINI) Nghi lị phộc để (GIRI VATI) Ngu noa phộc để (GUNA VATI) A ca xả phộc để (ÀKÀ’SA VATI) A ca xả truật đệ (ÀKÀ’SA ‘SUDDHE) Bá bả vĩ nga đế (PÀPA VIGATE) A ca thế nga nga nẵng đát lê (ÀKÀ’SE GAGANA TALE) A ca xả vĩ tá lị ni (ÀKÀ’SA VICÀRINI) Nhập-phộc lý đa thất lệ (JVALITA ‘SIRE) Ma ni mục khất-để khư (MANI MUKTI KHA) Tức đa mạo lý đà lệ (CITTA BOLI DHARE)
Tô kế thế (SUKE’SE) Tô phộc khất-đát-lê (SOVAKTRA) Tô mật đát-lệ (SUNÌTRÌ) Tô vạt la-noa mạo lý (SUVARNA BOLI) A để đế , a nỗ đáp-bán ninh ma nẵng nghiệt đế (ATÌTE ANATMAMNI MANA GATE) Bát-la để-luật đáp-bán ninh (PRATYUTMAMNI) Nẵng mạc tát phệ sam mẫu đà nam (NAMAH SARVASÀM BUDDHÀNÀM) Nhập-phộc lý đa đế nhạ tam mẫu đệ (JVALITA TEJA SAMBUDDHE ) Tố mẫu đế (SUBUDDHE) Bà nga phộc để (BHAGAVATE) Tố la khất-sái mính (SURA KSANI)
Tố khất-sái mính (SUKSA ME) Tố bát-la bệ (SUPRABHE) Tố ná mính (SUDAME) Tố nan đế (SUNÀMTE) Tả lệ (CARE) Bà nga phộc để (BHAGAVATE) Bả nại-la phộc để (BHADRA VATI) Bả nại-lệ, tố bả nại-lệ (BHADRE SUBHADRE) Vĩ ma lê nhạ dã bạt nại-lệ (VIMALE JAYA BHADRE) Bát-la tán noa tán nị (PRACANDA CANDI) Phộc nhật-la tán nị (VAJRA CANDI) Ma hạ tán nị (MÀHÀ CANDI) Kiểu lị (GAURI) Hiến đà lị (GANDHÀRI)
Chế tán noa lý (CERI CANDALI) Ma đặng nghĩ (MATAMGI) Phó yết tư xả phộc lị nại-la nhĩ nị (PUKASI ‘SAVARI DRAMINDI) Lao nại-lị ni (RAUDRINI) Tát phộc la-tha sa đà nãnh (SARVÀRTHA SÀDHANE) Hạ nẵng hạ nẵng, tát phộc thiết đốt-lỗ nẫm (HANA HANA SARVA ‘SATRÙNÀM) Nhược hạ nhược ha (DAHA DAHA) Tát phộc nột sắt-tra nam (SARVA DUSTANÀM) Tất lệ đa (PRETA) Tỷ xá tả (PI’SACA) Noa chỉ nãnh nam (DAKININÀM) Ma nộ sái (MANUSA) Ma nộ sái nẫm (AMANUSYANÀM) Bả tả bả tả (PACA PACA) Hột-lị nãi diêm vĩ đà-võng sa dã nhĩ vĩ đam (HRDAYA VIDHVAM ‘SAYA JÌVITAM) Tát phộc nột sắt-tra ngật-la hạ nẫm (SARVA DUSTA GRAHÀNÀM) Nẵng xả dã nẵng xả dã (NÀ’SAYA NÀ’SAYA) Tát phộc bá bả nãnh mính (SARVA PÀPAN IME) La khất-sái, la khất-sái hàm (RAKSA RAKSA MÀM Tát phộc tát đát-phộc nan tả (SARVA SATVANÀM CA) Tát phộc bà dữu bát nại-la phệ tỳ-dược (SARVA BHAYOPADRAVE BHYAH) Tát phộc nột sắt-tra nam (SARVA DUSTANÀM) Mãn đà năng củ lỗ (BANDHANAM KURU) Tát phộc chỉ lý-vĩ sái nẵng xả nãnh (SARVA KILISA NÀ’SANI) Mạt đa nan nị ma nãnh nãnh, tả lê để trí để trí nãnh (MÀTA NANDI MÀNINI CALE TITÏI TITINI) Đốt lai cụ la ni vị la ni (TUTAI GHORANI VÌRANI) Bát-la vạt la tam ma lệ (PRAVARA SAMMARE) Tán noa lý (CANDRI) MA đặng kỳ (MATAMGI) Vạt tạt tư, tố mẫu lỗ yết tư xả phộc lị hướng ca lị nại-la vĩ nị (VACASI SUMURU PUKASI ‘SAVARI ‘SAMKARI DRAVINDI) Nhược hạ nãnh bả tả nãnh mạt ná nãnh (DAHANI PACANI MADANI) Tát la tát la lê (SARA SARALE) Tát la lãm bệ tứ nẵng (SARALAMBHE
HÌNA) Mạt địa-dữu đắc-khất sắt-tra (MADHYOKRSTA) Vĩ ná lị ni vĩ đà lị ni ma tứ lý (VIDÀRINI VIDHÀRINI MAHÌLI) Ma hộ ma hộ lý nãnh (MAHO MAHOLINI) Nghiệt nãi nãnh, nghiệt noa bạn tể (GANENI GANA PACE) Mãn đế mãn đế nãnh (BATI BATINI) Mãn đế chước khất-la chỉ nãnh (BATI CAKRA KINI) Nhạ lê tổ lê (JALE CULE) Xả phộc lị xả ma lị xả phộc lị (‘SAVARI ‘SAMARI ‘SAVARI) Tát phộc nhĩ-dã địa hạ la ni (SARVA VYADHI HARANI) Tổ nị tổ nị nãnh (CONDI CONDINI) Nãnh nhĩ nãnh nhĩ nãnh một (NIMI NIMINI NIMIM) Đà lị để-lị lộ ca nhạ hạ nãnh ( DHARI TRILOKA JAHANI) Để-lị lộ ca lộ ca yết lị (TRILOKA LOKA KARI) Đát-lạt đà đổ ca (TRAIDHÀTUKA ) Nhĩ-dã Phộc lộ chỉ nãnh (VYAVALOKINI) Phộc nhật-la bả la thú bả xả khát nga chước khất-la để-lị thú la chấn đá ma ni (VAJRA PARA’SU PÀ’SA KHANÕGA CAKRA TRI’SÙLA CINTAMANI) Ma hạ vĩ nễ-dã đà la ni (MAHÀ VIDYA DHÀRANI) La khất-sái, la khất-sái hàm (RAKSA RAKSA MÀM) Tát phộc tát đát-phộc nan tả (SARVA SATVANÀM CA) Tát phộc đát-la , tát phộc sa-tha nẵng nghiệt đát tả (SARVATRÀ SARVA STHANA GATA SYA Tát phộc nột sắt-tra bà duệ tỳ-dược (SARVA DUSTA BHAYE BHYAH) Tát phộc ma nộ sái ma nộ sái bà duệ tỳ-dược (SARVA MANUSYA AMANUSYA BHAYE BHYAH) Tát phộc vĩ-dã địa tỳ-dược (SARVA VYADHI BHYAH) Phộc nhật-lệ phộc nhật-la phộc để (VAJRE VAJRA VATI) Phộc nhật-la bá ni đà lệ (VAJRAPÀNI DHÀRE) Tứ lý tứ lý (HILI HILI) Nhĩ lý nhĩ lý (MILI MILI) Tức lý tức lý (CILI CILI) Tất lý (SILI) Phộc la phộc la phộc la nễ (VARA VARA VARANI) Tát phộc đát-la nhạ dã lạp đệ Sa-phộc hạ (SARVATRÀ JAYA LAMDHI SVÀHÀ). Bá bả vĩ ná la ni (PÀPA VIDÀRANI) Tát phộc nhĩ-dã địa ha la ni Sa-phộc hạ (SARVA VYADHI HÀRANI SVÀHÀ). Tát phộc đát-la bà dã hạ la ni Sa-phộc hạ (SARVATRÀ BHAYA HARANI SVÀHÀ) . Bổ sắt-trí sa-phộc sa-để bà phộc đổ ma ma (….) Sa-phộc haï (PUSTI SVASASTIRBHAVATU MAMA (…) SVÀHÀ) . Phiến để Sa-phộc hạ (‘SÀNTI SVÀHÀ) . Bổ sắt-trí Sa-phộc hạ (PUSTI SVÀHÀ) . Nhạ dã đô nhạ duệ nhạ dã phộc để (JAYA TUJAYE JAYAVATI) Nhạ dã vĩ bổ la vĩ ma lê Sa-phộc hạ (JAYA VIPULA VIMALE SVÀHÀ) . Tát phộc đát tha nghiệt đa, địa sắt-xá nẵng, bố la-để Sa-phộc hạ (SARVA TATHÀGATA ADHISTANA PURTI SVÀHÀ) . Án- Bộ lị bộ lị phộc nhật-la phộc để (OM- BHURI BHURI VAJRAVATI) Đát tha nghiệt đa hột-lị nãi dã bố la ni tán đà la ni (TATHÀGATA HRDAYA PURANI SANDHÀRANI) Mạt la mạt la nhạ dã vĩ nễ-duệ (BALA BALA JAYA VIDYE ) Hồng hồng (HÙM HÙM) Phát tra phát tra (PHAT PHAT) Sa-phộc hạ (SVÀHÀ).
Nếu có người dùng câu cú cuả Như Lai Thân Minh Đà La Ni tác cứu tế nhiếp thọ gia hộ, hay làm pháp Tức Tai, pháp Cát Tường che chận sự trách phạt, thành Đại Gia Hộ.
Nếu có người sắp hết thọ mệnh, tụng Chân Ngôn này lại được diên mệnh tăng thọ, mạng sống kéo dài, thường được an vui, được Đại niệm trì.
Nếu dùng chày Kim Cương vừa tụng niệm gia trì, giả sử có bị tai họa, đại tật phi mệnh đều được giải thoát. Tất cả bệnh tật đều được trừ diệt. Người bị bệnh hoạn lâu ngày, tụng Chân Ngôn này gia trì vào góc áo Cà Sa rồi đem phủi phất lên người đó, thì bệnh liền được trừ khỏi.
Người trì tụng hàng ngày sẽ được đại thông tuệ, thành tựu được uy lực, đại cần dũng, biện tài. Tất cả tội chướng đã định theo nghiệp báo thảy đều trừ diệt. Tất cả Phật,
Bồ Tát, Trời, Rồng, Dược Xoa… đối với người thọ trì Đà La Ni này sẽ khiến cho Tinh Khí nhập vào thân để gia tăng uy lực, làm cho thân tâm thường được vui thích.
Này Đại Phạm ! Đại Minh Vương Đại Hộ Đà La Ni này. Nếu có người cho đến loài bàng sinh, cầm thú được nghe qua tai thì hết thảy các loại ấy vĩnh viễn chẳng thoái chuyển nơi Vô Thượng Bồ Đề, huống chi kẻ trai lành, người nữ thiện có tịnh tín (niềm tin trong sạch), Bật Sô, Bật Sô Ni, Ô Bà Tố Ca, Ô Bà Tư Ca, Quốc Vương, Vương Tử, Bà La Môn, Sát Lợi với các loại khác một lần nghe qua Đà La Ni Đại Tùy Cầu Đại Hộ này. Nghe xong, thân tâm tịnh tín, cung kính viết chép, đọc tụng, sinh tâm ân trọng tu tập, vì người khác rộng diễn lưu bố. Đại Phạm ! Ông nên biết người này thảy đều mau chóng xa lìa 8 loại Phi Mệnh. Trong thân người đó chẳng sinh bệnh tật, người đó chẳng bị lửa, độc, đao, gậy, trùng độc, yểm đảo, chú trớ, các pháp thuốc ác gây tổn hoại, đồng thời chẳng bị đau nhức thân thể, đau nhức đầu, các bệnh sốt rét phát theo chu kỳ 1 ngày, 2 ngày, 3 ngày, 4 ngày cho đến 7 ngày phát ra một lần và cũng chẳng bị các bệnh điên cuồng, thần kinh. Do người này chính niệm ngủ nghỉ, chính niệm giác ngộ nên mau chóng chứng Đại Niết Bàn. Đời này được đại phú quý tự tại. Khi sinh ra, ở khắp mọi nơi thường được Túc Mệnh. Tất cả Người, Trời thảy đều yêu kính, dung nghi đoan chính, đều được thoát khỏi tất cả nẻo Địa Ngục, Ngạ Quỷ, Bàng Sinh, giống như mặt trời tỏa sáng chiếu soi tất cả hữu tình, hay như mặt trăng đem nước Cam Lộ rưới vẩy lên thân của tất cả hữu tình, khiến cho yêu thích người đó. Dùng pháp Cam Lộ nhập vào trong tâm tương tục của tất cả hữu tình, khiến cho Từ Trạch hoan hỷ.
Đối với tất cả hàng Dược Xoa, La Sát, Bộ Đa, Tất Lệ Đa, Tất Xá Già, Điên Giản Quỷ (Quỷ điên cuồng) Noa Chỉ Ninh (Dakini) chư Mỵ, Tỳ Na Dạ Ca hung ác … thảy đều dùng uy lực đại hộ của Đại Tùy Cầu, khiến cho chúng chẳng dám xâm não.
Nếu đến vùng lân cận, ghi nhớ Đại Hộ Minh Vương này thì tất cả loài có tâm ác đối với người trì tụng, sẽ phát sinh lòng vui vẻ, thọ giáo rồi bỏ đi. Do uy lực của Đại Tùy Cầu Đại Hộ Minh Vương này, cuối cùng không có oán địch sợ hãi vì các oán địch đó chẳng dám lấn bức. Hoặc nếu có người lỡ bị phạm tội với Quốc Vương, Đại Thần, Bà La Môn mà bị xử tội chết. Vào lúc thọ hình sắp bị đao kiếm chặt chém, nếu vừa ghi nhớ Đại Hộ Minh Vương thì cây đao ấy sẽ gẫy nát từng đoạn giống như bụi nhỏ. Người thọ tội ấy liền được gặp tất cả Pháp bình đẳng và được lực Đại Niệm".
Bấy giờ Đức Như Lai nói Già Đà rằng:
Đại Hộ gia trì này Thanh tĩnh diệt các tội
Hay tác Tuệ cát tường Tăng trưởng các công đức
Hay mãn các Cát Khánh Hay gặp mộng tươi đẹp
Hay tĩnh các mộng ác Đại Minh Đại Hộ này
Giúp trượng phu, người nữ Trong khoảng khắc giải thoát
Nơi trống vắng hiểm nguy Được các nguyện mong ước
Như Chính Đẳng Giác nói Nếu bị mất lối đi
Niệm Đại Minh Vương này Mau chóng được Chính Đạo
Được ăn uống thù thắng Dùng Nghiệp thân khẩu ý
Thời trước gây các tội Chẳng hề làm nghiệp lành
Vừa nhớ đến Minh này Thảy đều được tiêu diệt
Viết chép và thọ trì Chuyển đọc và niệm tụng
Vì người khác diễn nói Các Pháp đều thông đạt
Như vậy được Pháp Vị Các tội đều tiêu diệt
Tâm Ý cầu niềm vui Các việc đều thành tựu
Trong cái chết, sợ hãi Thảy đều được cứu hộ
Vua, Quan với nước, lửa Sương, mưa đá, trộm cướp
Chiến đấu và kiện cáo Nạn thú răng vuốt bén
Tất cả đều tiêu dung Ở núi tụng lạc xoa
Liền thành tựu Minh này Tất cả chư Phật nói
Xưng tụng đều hoan hỷ Mãn tư lương Bồ Đề
Tất cả nơi trú ngụ Nếu dùng Đại Minh này
Tạo tác nơi gia trì Muốn làm các sự nghiệp
Nên lợi ích ta, người Nhậm vận được thành tựu
Dùng Đại Hộ không ngại Đại Phạm ! Ông nên biết
Nay Ta lại diễn nói Vì người bị bệnh nặng
Nên làm bốn Đàn vuông Cù Ma hòa bùn đất
Dùng phấn ngũ sắc vẽ Mà làm Man Noa La
Đặt bốn bình bốn góc Bậc Trí y nghi quỹ
Rải các hoa trên Đàn Nên đốt hương thù thắng
Dâng mọi thức ăn uống Khiến người thấy tịnh tín
Như vậy dùng hương hoa Y theo pháp phụng hiến
Bốn góc cắm bốn (mũi) tên Dùng chỉ ngũ sắc quấn
Khiến người bệnh tắm gội Mặc quần áo thanh tịnh
Toàn thân bôi dầu thơm Dẫn vào chính giữa Đàn
Ngồi đối mặt phương Đông Bấy giờ người Trì Minh
Tụng Đại Minh này trước Khiến đầy đủ bảy biến
Tự gia trì thân mình Tiếp tụng hăm mốt biến
Gia trì cho người bệnh Do tụng Đại Hộ này
Các bệnh đều ngưng trừ Liền lấy một bình nước
Đầy hương hoa ẩm thực Tác gia hộ bảy lần
Mau ném về phương Đông Tiếp lấy bình phương Nam
Hương hoa, thực như giáo Như trước tụng bảy biến
Mau ném về phương Nam Tiếp dùng bình phương Tây
Hương hoa, thức ăn uống Y Pháp gia trì trước
Phương Bắc cũng như vậy Bấy giờ người trì tụng
Ngửa mặt hướng phương trên Tụng Minh này một biến
Thành gia trì thù thắng Đại Phạm ! Làm xong rồi
Tất cả khổ đều trừ Pháp gia trì như vậy
Thích Sư Tử đã nói Trong tất cả các Pháp
Không có gì sánh bằng Hộ thắng trong ba cõi
Người đó không chết yểu Không già cũng không bệnh
Khổ : Oán Tằng, Ly Biệt Nếu hay lại Lý Quán
Tâm xa lìa buồn khổ Chúng Diêm Ma cúng dường
Pháp Vương cõi Diêm Ma Cung kính mà thừa sự
Bảo người Trì Minh ấy Mau qua nơi Thiên Thú
Do Đại Minh này nên Địa Ngục đều hết sạch
Ắt ngự Cung Điện diệu Đủ uy lên trời cao
Tất cả Người và Trời Chúng Dược Xoa, La Sát
Hết thảy đều cúng dường Thường sẽ được phước này
Vì thế thường thọ trì Bồ Tát Kim Cương Thủ
Bí Mật Dược Xoa Tướng Đế Thích, Xá Chi, Hậu
Chúng Ha Lị Đế Mẫu Bán Chi Ca Dược Xoa
Hộ Thế Thiên Uy Đức Nhật, Nguyệt và Tinh Tú
Chấp Diệu, loài mãnh ác Tất cả Đại Long Vương
Chư Thiên và Tiên Chúng A Tu La và Rồng
Kim Xí, Càn Đạt Bà Khẩn Na, Ma Hầu La
Do viết đeo Minh này Luôn luôn theo tùy toại
Do y Pháp tụng trì Đắc được đại vinh ích .
Khi Đức Thế Tôn nói Kinh này xong, các Đại Bồ tát, Đại Thanh Văn chúng và Đại Phạm Thiên, tất cả hàng Trời, Rồng, Dược Xoa, A Tu La, Càn Đạt Bà, Nghiệt Lệ Trà, Khẩn Na La, Ma Hô La Già, Nhân, Phi nhân … đều rất vui vẻ, tin nhận phụng hành.
(Quyển Hạ)
Chân Ngôn sau đây y theo Bản đời Minh (c.f- P.618b)
Nẵng mô tát phộc tát tha nga đa nam (NAMAH SARVA TATHÀGATÀNÀM) . Nẵng mô nẵng mạc (NAMO NAMAH) Tát phộc một đà mạo độc tát đa phộc (SARVA BUDDHA BODHISATVA) Một đà đạt ma, Tăng khế tỳ dược (BUDDHA DHARMA SAMGHE BHYAH).
Án- (OM) Vĩ bổ la nghiệt bệ (VIPULA GARBHE) Vĩ bổ la vĩ ma lê (VIPULA VIMALE) Nhạ dã nghiệt bệ (JAYA GARBHE) Phộc nhật la nhập phộc la nghiệt bệ (VAJRA JVALA GARBHE) Nga đễ nga hạ ninh (GATI GAHANE) Nga nga nẵng vĩ thú đã ninh (GAGANA VI’SODHANE) Tát phộc bá bả vĩ thú đã ninh (SARVA PÀPA VI’SODHANE) . Án- (OM) Ngu noa phộc để (GUNA VATI) Nga nga lị nê ni (GAGARININI) Nghĩ lị nghĩ lị (GIRI GIRI) Nga ma lị, nga ma lị (GAMÀRI GAMÀRI) Ngược hạ ngược hạ (GAHA GAHA) Nghiệt nga lị, ngược nga lị (GARGÀRI GARGÀRI) Nga nga lị, nga nga lị (GAGARI GAGARI) Nghiêm bà lị, nghiêm bà lị (GAMBHARI GAMBHARI) Nga để nga để (GATI GATI) Nga ma nãnh nga lệ (GAMARI GARE) Ngu lỗ ngu lỗ (GÙRU GÙRU) Ngu lỗ ni (GÙRUNE) Tả lê (CALE) A tả lê (ACALE) Mẫu tả lê (MUCALE) Nhạ duệ (JAYE) Ni nhạ duệ (VIJAYE) Tát phộc bà dã vĩ nga đế (SARVA BHAYA VIGATE) Nghiệt bà tam bà la ni (GARBHA SAMBHARANI) Tất lị tất lị (SIRI SIRI) Nhĩ lị nhĩ lị (MIRI MIRI) Kỳ lị kỳ lị (GHIRI GHIRI).
- Tam mãn đá ca la sái ni (SAMANTA AKARSANI) - Tát phộc thiết đốt lỗ bát la mạt tha nãnh (SARVA ‘SATRÙ PRAMARTHANI) - La khất sái, la khất sái, ma na (mỗ giáp) tát phộc tát đa phộc nam tá (RAKSA RAKSA MAMA (….) SARVA SATVANÀM CA) - Vĩ lị vĩ lị (VIRI VIRI) - Vĩ nga đá phộc la noa (VIGATA AVARANA) - Bà dã nẵng xả nãnh (BHAYA NÀ’SANI) - Tô lị tô lị (SURI SURI) - Tức lị kiến ma lê (CILI KAMALE) - Vĩ ma lê (VIMALE) - Nhạ duệ (JAYE) - Vĩ nhạ duệ (VIJAYE) - Nhạ dạ phộc hề (JAYA VAHE) - Nhạ dạ phộc để (JAYA VATI) - Bà nga phộc để tha đát nẵng ma củ tra nha đà lị (BHAGAVATI RATNA MAKUTA MALA DHÀRI) - Ma hộ vĩ vĩ đà vĩ tức đát la (BAHU VIVIDHA VICITRA) - Phệ sái lỗ bả đà lị ni (VESA RÙPA DHÀRANI) - Bà nga phộc để ma hạ vĩ nễ dã nê vĩ (BHAGAVATI MAHÀ VIDYA DEVI) - La khất sái, la khất sái ma ma (Tôi tên là….) (RAKSA RAKSA MAMA….) - Tát phộc tát đa phộc nam tá (SARVA SATVANÀM CA) - Tam mãn đá tát phộc đát la (SAMANTA SARVATRÀ) - Tát phộc bá bả vĩ thú đà nãnh (SARVA PÀPA VI’SODHANE) - Hộ lỗ hộ lỗ (HURU HURU). Nặc khất sát đát la ma la đà lị ni (NAKSATRA MÀLÀ DHÀRINI) - La khất sái, la khất sái Hàm, ma ma (Tôi tên là…) (RAKSA RAKSA MAMA…..) - A nẵng tha tả (ANÀTHA SYA). Đát la noa bả la gia noa tả (ATRÀNA PARÀYANA SYA) - Bả lị mô tá dã ninh (PARIMOCA YA ME) - Tát phộc nậu khế tỳ dược (SARVA DUHKHE BHYAH) - Chiến ni chiến ni ( CANDI CANDI) - Chiết nị nẵng phệ nga phộc để (CANDINI VEGA VATI) - Tát phộc nột sắt-tra nãnh phộc la ni (SARVA DUSTA NIVARANI) - Thiết đốt lỗ, bác khất xoa bát la mạt tha nãnh (‘SATRÙ PAKSA PRAMATHANI) - Vĩ nhạ dã phộc tứ nãnh (VIJAYA VÀHINI) - Hộ lỗ , Hộ lỗ (HURU HURU) - Mẫu lỗ, Mẫu lỗ (MURU MURU) - Tổ lỗ, Tổ lỗ (CURU CURU) - A dục Á la nãnh (AYUH PÀLANI) - Tô la phộc la mạt đà nãnh (SURA VARA MATHANI) - Tát phộc nê phộc đá bố tỷ đế (SARVA DEVATA PÙJITE) - Địa lị, địa lị (DHIRI DHIRI) - Tam mãn đá phộc lộ chỉ đế ( SAMANTA AVALOKITE) - Bát la bê, Bát
la bệ (PRABHE PRABHE) - Tô bát la bà vĩ truật đệ (SUPRABHA VI’SUDDHE) - Tát phộc bá bả vĩ thú đà nãnh (SARVA PÀPA VI’SODHANE) - Đạt la đạt la (DHARA DHARA) - Đạt la ni đà la đạt lệ (DHÀRANI DHARA DHARE) - Tô mẫu tô mẫu (SUMU SUMU) - Lỗ lỗ tá lê (RURU CALE) - Tá la gia nộ sắt-tra (CALÀYA DUSTA) - Bố la dã mính, A Thiêm (PÙRAYA ME À’SAM) - Thất lị phộc bổ đà nan nhạ dã kiếm ma lê (‘SRÌ VAPUDHANAM JAYA KAMALE) - Khất sử ni khất sử ni (KSINI KSNI) - Tát phộc nê phộc la năng củ thế (SARVA VARADE VARA ANÕKU’SE).
Án- Bát nột ma vĩ truật đệ (OM- PADMA VI’SUDDHE) - Thú đà dã thú đà dã (‘SODHAYA ‘SODHAYA) - Thuấn đệ (‘SUDDHE) - Bả la bả la (BHARA BHARA) - Tị lị tị lị (BHIRI BHIRI) - Bộ lỗ bộ lỗ (BHURU BHURU) - Mộng nga la vĩ thuấn đệ (MAMGALA VI’SUDDHE) - Bả vĩ đát la mục nghiệt (PAVITRA MUKHI) - Khất nghĩ ni Khất nghĩ ni (KHARGANI KHARGANI) - Khư la khư la (KHARA KHARA) - Nhập phộc lý đá Thủy khát lệ (JVALITA ‘SIRE) - Tam mãn đa bát-la sa lị đá phộc bà tất đa truật đệ (SAMANTA PRASARITA VABHASITA ‘SUDDHE) - 101. Nhập-phộc la, nhập-phộc la (JVALA JVALA) - Tát phộc nê phộc nga noa tam ma ca la-sái ni (SARVA DEVAGANA SAMA AKARSANI) - Tát để-dã phộc đế đá la đát la đá lị dã hàm (SATYA VATI TARA TARA TÀRÀYA MAM) - Nẵng nga vĩ lộ chỉ đế (NÀGA VILOKITE) - La hộ la hộ (LAHU LAHU) - Hộ nỗ hộ nỗ (HUNU HUNU) - Khất-sử ni, khất-sử ni (KSINI KSINI) - Tát phộc nghĩ-la hạ bạc khất-sái ni (SARVA GRAHA BHAKSANI) - Nga lị băng nga lị (GALI PIMGALI) - Tổ mẫu tổ mẫu (CUMU CUMU) - Tô mẫu tô mẫu (SUMU SUMU) - Tổ mẫu tả lệ (CUVI CARE) - Đa la đa la (TARA TARA ) - Nẵng nga vĩ lộ chỉ nãnh đá la dã đổ hàm (NÀGA VILOKINA TÀRÀYA TUMAM) - Bà nga phộc để a sắt-tra ma hạ bà duệ tỳ-dược (BHAGAVATE ASTA MAHÀ BHAYE BHYAH) - Tam muộn nại-la sa nga la bát lị-dần đảm (SAMUDRA SÀGARA PRATYANTÀM) - Bá đá la nga nga nẵng đát-lam tát phộc đát-la (PÀTÀLA GAGANA TALAM SARVATRÀ) - Tam mãn đế nẵng nễ xả mãn đệ nẵng (SAMANTENA DI’SA BANDHENA) - Phộc nhật-la bát-la ca la. Phộc nhật-la bá xả mãn đạn mật nẵng (VAJRA PRÀKÀRA VAJRA PA’SA BANDHANE) - Phộc nhật-la nhập-phộc la vĩ truật đệ (VAJRA JVALA VI’SUDDHE) - Bộ lị bộ lị (BHURI BHURI) - Nghiệt bà phộc để, nghiệt bà vĩ thú đà nãnh (GARBHA VATI GARBHA VI’SODHANE) - Quynh khất-sử tam bố la ni (KUKSI SAMPÙRANI) - Nhập-phộc la, nhập-phộc la (JVALA JVALA) Tá la tá la (CALA CALA) - Nhập-phộc lý nãnh, bát-la vạt sái đỗ nê phộc (JVALANI PRAVASATU DEVA) - Tam mãn đế nẵng nễ miễu ná kế nẵng (SAMANTENA DIDHYOKENA) - A mật-lật đa phộc la-sái nê (AMRTA VARSANI) - Nê phộc đá phộc đá la ni (DEVATÀ DHÀRANI) - A tỵ tru giả đổ minh (ABHISIMCA TUME) - Tô nga đa phộc la phộc tá nẵng mật-lật đa (SUGATA VARA VACANA AMRTA) - Phộc la phộc bổ lệ la khất-sái la khất-sái ma ma (Tôi tên là….) (VARA VAPUSPE RAKSA RAKSA MAMA…..) -
Tát phộc tát đa phộc nan tá (SARVA SATVÀNÀM CA Tát phộc đát-la tát phộc ná tát bà duệ tỳ-dược (SARVATRÀ SARVADÀ SARVA BHAYE BHYAH) -Tát mạo bát nại-la phệ tỳ-dược (SARVOPADRAVE BHYAH) - Tát mạo bả tăng nghê tỳ-dược (SARVOPASARGE BHYAH) - Tát phộc nột sắt-tra bà dã tị đát tả (SARVA DUSTA BHAYA BHÌTA SYA) - Tát phộc ca lý ca la hạ vĩ nghiệt-la hạ vĩ phộc ná nậu tát-phộc bả-nan (SARVA KÀLI KALAHÀ VIGRAHA VIVÀDA DUHSVAPNÀM) - Nột nãnh nhĩ đá mộng nga la bá bả vĩ nẵng xả nãnh (DURNI MINTA AMAMGALLYA PÀPA VINA’SANI) - Tát phộc dược khất-xoa, la khất-sái sa (SARVA YAKSA RAKSASA) - Nẵng nga nãnh phộc la ni (NÀGA NIVARANI) - Ma la ma la (BALA BALA) - Ma la phộc để (BALA VATI) - Nhạ dã nhạ dã (JAYA JAYA) - Tát phộc đát-la, tát phộc ca lam (SARVATRÀ SARVA
KÀRAM) - Tất điền đổ minh ế hàm, ma hạ vĩ niệm sa đà dã, sa đà dã (SIDDHYAM TUME IMAM MAHÀ VIDYA SÀDHAYA SÀDHAYA) - Tát phộc mạn noa la sa đà nãnh (SARVA MANDALA SÀDHANI) - Già đa dã, tát phộc vĩ-cận nẵng (GHÀTAYA SARVA VIGHNAM) - Nhạ dã nhạ dã (JAYA JAYA) - Tất đệ, tất đệ, tô tất đệ (SIDDHE SIDDHE SUSIDDHE) - Tất địa-dã, tất địa-dã (SIDDHYA SIDDHYA) - Một địa-dã, một địa-dã (BUDDHYA BUDDHYA) - Bố la dã, bố la dã (PÙRAYA PÙRAYA) - Bố la ni, bố la ni (PÙRANI PÙRANI) Bố la dạ, a thiêm (PÙRAYA À’SAM) - Tát phộc vĩ nễ-dã (SARVA VIDYA) - Nhạ dã đa lị nhạ dạ phộc để (JAYOTTARI JAYAVATI) - Để sắt-tra, để sắt-tra (TISTA TISÏTÏA) - Tam ma dã ma noa bá la dã (SAMAYAM ANUPÀLAYA) - Đát tha nghiệt đa hột-lị nãi dã thuấn đệ nhĩ-dã phộc lệ ca dã hàm (TATHÀGATA HRDAYA ‘SUDDHE VYAVALOKAYA MAM) - A sắt-tra tị ma hạ ná lỗ noa bà thường (ASTA BHI MAHÀ DÀRUNA BHAYAM) - Tát la tát la (SARA SARA) - Bát-la tát la, bát-la tát la (PRASARA PRASARA) - Tát phộc phộc la noa vĩ thú đà nãnh (SARVA AVARANA VI’SODHANE) - Tam mãn đá ca la mạn noa la vĩ thuấn đệ (SAMANTA KÀRA MANDALA VI’SUDDHE) - Vĩ nga đế, vĩ nga đế (VIGATE VIGATE) - Vĩ nga đa ma la vĩ thú đà nãnh (VIGATA MALA VI’SODHANE) - Khất-sử ni, khất-sử ni (KSINI KSINI) - Tát phộc bá bả vĩ thuấn đệ (SARVA PÀPA VI’SUDDHE) - Ma la vĩ nghiệt đế (MARA VIGATE) - Đế nhạ phộc để, phộc nhật-la phộc để, đát-lại lộ chỉ-dã địa sắt-xỉ đế, sa-phộc hạ (TEJAVATI VAJRAVATI TRAILOKYA ADHISTITE SVÀHÀ). Tát phộc đát tha nghiệt đa một đá tỳ sắc khất-đế, sa-phộc hạ (SARVA TATHÀGATA BUDDHA ABHISIKTE SVÀHÀ). Tát phộc mạo địa tát đa-phộc tỳ sắc khất-đế, sa-phộc hạ (SARVA BODHISATVA ABHISIKTE SVÀHÀ). Tát phộc nê phộc đá tỳ sắc khất-đế, sa-phộc hạ (SARVA DEVATÀ ABHISIKTE SVÀHÀ). Tát phộc đát tha nga đa hột-lị nãi dạ địa sắt-xỉ đa hột-lị nãi duệ, sa-phộc hạ (SARVA TATHÀGATA HRDAYA ADHISTITA HRDAYE SVÀHÀ). Tát phộc đát tha nga đa tam ma dã tất đệ, sa-phộc hạ (SARVA TATHÀGATA SAMAYA SIDDHE SVÀHÀ). Ấn nại-lệ, ấn nại-la phộc để, ấn nại-la nhĩ-dã phộc lộ chỉ đế, sa-phộc hạ (INDRA INDRAVATI INDRA VYAVALOKITE SVÀHÀ). Một-la hám-minh. Ba-la hám-ma để-dữu sử đế, sa-phộc hạ (BRAHME BRAHMA ADHYUSTE SVÀHÀ). Vĩ sắt-nỗ nẵng mạc tắc-khật-lị đế, sa-phộc hạ (VISNU NAMASKRTE SVÀHÀ). Ma hê thấp-phộc la mãn nễ đa bố nhĩ đá duệ, sa-phộc hạ (MAHE’SVARA VANDITA PÙJITAYE SVÀHÀ). Phộc nhật-la đà la, phộc nhật-la bá ni, ma la vĩ lị-dã địa sắt-xỉ đế, sa-phộc hạ (VAJRADHARA VAJRAPÀNI BALA VÌRYA ADHISTITE SVÀHÀ). Địa-lã đa la sắt tra-la dã, tát-phộc hạ (DHRTARÀSTRÀYA SVÀHÀ). Vĩ lỗ trà ca dã, tát-phộc hạ (VIRÙDHAKÀYA SVÀHÀ). Vĩ lỗ bá khất-sái dã, tát-phộc hạ (VIRÙPAKSAYA SVÀHÀ). Phệ thất-la ma noa dã, tát-phộc hạ. Tạt đốt ma hạ la nhạ nẵng mạc tắc-khất-lị đa dã, tát-phộc hạ (VAI’SRAVANÀYA SVÀHÀ. CATUR MAHÀ RÀJA NAMASKRTÀYA SVÀHÀ). Diễm ma dã, tát-phộc hạ (YAMMÀYA SVÀHÀ). Diễm ma bố nhĩ đa nẵng mạc tắc-khất-lị đa dã, tát-phộc hạ (YAMMA PÙJITA NAMASKRTÀYA SVÀHÀ). Phộc lỗ noa dã, tát-phộc hạ (VARUNÀYA SVÀHÀ). Ma lỗ đá dã, tát-phộc hạ (MURÙTÀYA SVÀHÀ). Ma hạ ma lỗ đá dã, tát-phộc hạ (MAHÀ MARÙTÀYA SVÀHÀ). A ngân-nẵng duệ, tát-phộc hạ (AGNAYE SVÀHÀ). Nẵng nga vĩ lộ chỉ đá dã, tát-phộc hạ (NÀGAVILOKITÀYA SVÀHÀ). Nê phộc nga nãi tỳ-dược, tát-phộc hạ (DEVAGANE BHYAH SVÀHÀ). Nẵng nga nga nãi tỳ-dược, tát-phộc hạ (NÀGAGANE BHYAH SVÀHÀ). Dược khất-sái nga nãi tỳ-dược, tát-phộc hạ (YAKSAGANE BHYAH SVÀHÀ). La khất-sái sa nga nãi tỳ-dược, tát-phộc hạ (RAKSASAGANE BHYAH SVÀHÀ). Ngạn đạt phộc nga nãi tỳ-dược, tát-phộc hạ (GANDHARVAGANÏE BHYAH SVÀHÀ). A tô la nga nãi tỳ-dược, tát-phộc hạ
(ASURAGANE BHYAHÏ SVÀHÀ). Nga lỗ noa nga nãi tỳ-dược, tát-phộc hạ (GARUDAGANE BHYAH SVÀHÀ). Khẩn na la nga nãi tỳ-dược, tát-phộc hạ (KINNARAGANE BHYAH SVÀHÀ). Ma hộ la nga nga nãi tỳ-dược, tát-phộc hạ (MAHORAGAGANE BHYAH SVÀHÀ). Ma nộ sái tỳ-dược, tát-phộc hạ (MANU SYE BHYAH SVÀHÀ). A ma nộ sái tỳ-dược, tát-phộc hạ (AMUNU SYE BHYAH SVÀHÀ). Tát phộc nghiệt-la hệ tỳ-dược, tát-phộc hạ (SARVA GRAHE BHYAH SVÀHÀ). Tát phộc bộ đế tỳ-dược, tát-phộc hạ (SARVA BHÙTE BHYAH SVÀHÀ). Tát-lị đế tỳ-dược, tát-phộc hạ (PRETE BHYAH SVÀHÀ). Tỉ xả tế tỳ-dược, tát-phộc hạ (PI’SACE BHYAH SVÀHÀ). A bả sa-ma lệ tỳ-dược, tát-phộc hạ (APASMARE BHYAH SVÀHÀ). Cấm bạn nãi tỳ-dược, tát-phộc hạ (KUMBHÀNDE BHYAH SVÀHÀ). Án, độ lỗ độ lỗ, tát-phộc hạ (OM-Ï DHURU DHURU SVÀHÀ). Án, đổ lỗ đổ lỗ, tát-phộc hạ (OM- TURU TURU SVÀHÀ). Án, mẫu lỗ mẫu lỗ, tát-phộc hạ (OM- MURU MURU SVÀHÀ). Hạ nẵng hạ nẵng tát phộc nột đổ-lỗ nẫm, tát-phộc hạ (HANA HANA SARVA ‘SATRÙNÀM SVÀHÀ). Ná hạ ná hạ tát phộc nột sắt-tra bát-la nột sắt-tra nẫm, tát-phộc hạ (DAHA DAHA SARVA DUSTA PRADUSTANÀM SVÀHÀ). Bát tá bát tá tát phộc bát-la để-dã vẫn ca, bát-la để-dã nhĩ đát-la nẫm (PACA PACA SARVA PRATYARTHIKA PRATYÀMITRANÀM) - Duệ, ma ma, a tứ đế sử noa nhập , đế sam tát phệ sam xả lị lam, nhập-phộc la dã, nột sắt-tra tức đa nẫm, tát-phộc hạ (YE MAMA…. AHITESINA TESAM SARVESÀM ‘SARIRAM JVALÀYA ADUSTA CITTÀNÀM SVÀHÀ). Nhập-phộc lý đá dã, tát-phộc hạ (JVALITÀYA SVÀHÀ Bát-la nhập-phộc lý đá dã, tát-phộc hạ (PRAJVALITÀYA SVÀHÀ). Nễ bả-đa nhập-phộc la dã, tát-phộc hạ (DÌPTA JVALÀYA SVÀHÀ). Tam mãn đa nhâïp-phộc la dã, tát-phộc hạ (SAMANTA JVALÀYA SVÀHÀ). Ma ni bạt nại-la dã, tát-phộc hạ (MANI BHADRÀYA SVÀHÀ). Bố la-noa bả nại-la dã , tát-phộc hạ (PÙRNA BHADRÀYA SVÀHÀ). Ma hạ ca la dã, tát-phộc hạ (MAHÀ KÀLÀYA SVÀHÀ). Ma để-lị nga noa dã, tát-phộc hạ (MATRGANÀYA SVÀHÀ). Dã khất-sử ni nẫm, tát-phộc hạ (YAKSANÌNÀM SVÀHÀ). La khất-sái tỷ nẫm, tát-phộc hạ (RAKSASÌNÀM SVÀHÀ). A ca xả ma để-lị nẫm, tát-phộc hạ (ÀKA’SA MATRNÀM SVÀHÀ). Tam mẫu nại-la phộc tỷ nãnh nẫm, tát-phộc hạ (SAMUDRA VÀSINÌNÀM SVÀHÀ). La để-lị tạt la nẫm, tát-phộc hạ (RÀTR CARÀNÀM SVÀHÀ). Nễ phộc sa tạt la nẫm, tát-phộc hạ (DIVASA CARÀNÀM SVÀHÀ). Để-lị tán đình tạt la nẫm, tát-phộc hạ (TRISANTYA CARÀNÀM SVÀHÀ). Vĩ la tạt la nẫm, tát-phộc hạ (VELA CARÀNÀM SVÀHÀ). A vĩ la tạt la nẫm, tát-phộc hạ (AVELA CARÀNÀM SVÀHÀ). Nghiệt bà hạ lê tỳ-dược, tát-phộc hạ (GARBHA HÀRE BHYAH SVÀHÀ). Nghiệt bà tán đà la ni, tát-phộc hạ (GARBHA SANDHÀRANI SVÀHÀ). Hộ lỗ hộ lỗ, tát-phộc hạ (HULU HULU SVÀHÀ). Án-tát-phộc hạ (OM- SVÀHÀ). Tát-phộc, tát-phộc hạ (SVÀH SVÀHÀ). Bộc, tát-phộc hạ (BHÙH SVÀHÀ). Bộ-phộc, tát-phộc hạ (BHÙVÀH SVÀHÀ). Án- bộ la-bộ phộc sa-phộc, tát-phộc hạ (OM- BHÙRBHÙVÀH SVÀH SVÀHÀ). Tức vi tức vi, tát-phộc hạ (CITI CITI SVÀHÀ). Vĩ vi vĩ vi, tát-phộc hạ (VITI VITI SVÀHÀ). Đà la ni, tát-phộc hạ (DHÀRANÌ SVÀHÀ). Đà la ni, tát-phộc hạ (DHARANI SVÀHÀ). A ngân-nãnh, tát-phộc hạ (AGNI SVÀHÀ). Đế tổ phộc bổ, tát-phộc hạ (TEJO VAPU SVÀHÀ). Tức lý tức lý, tát-phộc hạ (CILI CILI SVÀHÀ). Tất lý tất lý, tát-phộc hạ (SILI SILI SVÀHÀ). Một đình một đình, tát-phộc hạ (BUDDHIM BUDDHIM SVÀHÀ). Tất đình tất đình, tát-phộc hạ (SIDDHIM SIDDHIM SVÀHÀ). Mạn noa la tất đệ, tát-phộc hạ (MANDALA SIDDHE SVÀHÀ). Mạn noa la mãn đệ, tát-phộc hạ (MANDALA BANDHE SVÀHÀ). Tỷ ma mãn đà nãnh, tát-phộc hạ (‘SÌMA BANDHANI SVÀHÀ). Tát phộc thiết đốt-lỗ nẫm tiệm bà tiệm bà, tát-phộc hạ (SARVA ‘SATRÙNÀM JAMBHA JAMBHA SVÀHÀ Sa-chiêm bà dã, sa-chiêm bà dã, tát-phộc hạ (STAMBHÀYA STAMBHÀYA
SVÀHÀ). Đổ ná đổ ná, tát-phộc hạ (CCHINDHA CCHINDHA SVÀHÀ). Tẫn ná tẫn ná, tát-phộc hạ (BHINDHA BHINDHA SVÀHÀ). Bạn nhạ bạn nhạ, tát-phộc hạ ( BHANÕJA BHANÕJA SVÀHÀ). Mãn đà mãn đà, tát-phộc hạ (BANDHA BANDHA SVÀHÀ). Mãng hạ dã, mãng hạ dã, tát-phộc hạ (MOHAYA MOHAYA SVÀHÀ). Ma ni vĩ thuấn đệ, tát-phộc hạ (MANI VI’SUDDHE SVÀHÀ). Tố lị-duệ, tố lị-duệ, tố lị-dã vĩ thuấn đệ vĩ thú đà nãnh, sa-phộc hạ (SÙRYE SÙRYE SÙRYA VI’SUDDHE VI’SODHANE SVÀHÀ). Chiến niết-lệ, tố chiến niết-lệ, bố la-noa chiến niết-lệ, tát-phộc hạ (CANDRE SUCANDRA PÙRNA CANDRE SVÀHÀ). Nghiệt-la hệ tỳ-dược, tát-phộc hạ (GRAHE BHYAH SVÀHÀ). Nhược khất-sát để-lệ tỳ-dược, tát-phộc hạ (NAKSATRE BHYAH SVÀHÀ). Thủy phệ, tát-phộc hạ (‘SIVE SVÀHÀ). Phiến để, tát-phộc hạ (‘SÀNTI SVÀHÀ). Tát phộc sa để-dã dã ninh, tát-phộc hạ (SVASTYA YANE SVÀHÀ). Thủy noan yết lị, phiến để yết lị, bổ sắt-trí yết lị. Ma la mạt đạt nãnh, tát-phộc hạ (‘SIVAM KARI - ‘SÀNTI KARI- PUSTI KARI - BALA VARDHANI SVÀHÀ). Thất-lị yết lị, tát-phộc hạ (‘SRÌ KSRI SVÀHÀ). Thất-lị dã (‘SRÌYA) Tát-phộc hạ (SVÀHÀ). Nẵng mẫu thử, tát-phộc hạ (NAMUCI SVÀHÀ). Ma lỗ thử, tát-phộc hạ (MURUCI SVÀHÀ). Phệ nga phộc để, tát-phộc hạ (VEGA VATI SVÀHÀ). Án- Tát phộc đát tha nga đa một đế. Bát-la phộc la vĩ nga đa bà duệ xả ma dã- Tát-phộc minh bà nga phộc để- Tát phộc bá bế tỳ-dụ sa-phộc sa-để bà phộc đổ (OM- SARVA TATHÀGATA MÙRTTE - PRAVARA VIGATA - BHAYE ‘SAMAYA - SVAME BHAGAVATI - SARVA PÀPE BHYAH SVÀSTIRBHAVATU) - Mẫu nãnh mẫu nãnh (MUNI MUNI) - Vĩ mẫu nãnh, tả lê tả la ninh bà dã, vĩ nga đế bà dã hạ la ni (VIMUNI CARE CALANE BHAYA VIGATE BHAYA HÀRANI) - Mạo địa mạo địa (BODHI BODHI) - Mạo đà dã, mạo đà dã (BODHIYA BODHIYA) - Một địa lý, một địa lý (BUDHILI BUDHILI) - Tát phộc đát tha nga đa hột-lý nãi dã túc sắt-lai, tát-phộc hạ (SARVA TATHÀGATA HRDAYA JUSTAI SVÀHÀ) . Án- Phộc nhật-la phộc để, phộc nhật-la bát-la để sắt xỉ đế thuấn đệ (OM- VAJRAVATI VAJRA PRATISTITE ‘SUDDHE) - Đát tha nga đa mẫu nại-la địa sắt-xá nẫm, địa sắt-xỉ đế, tát-phộc hạ (TATHÀGATA MUDRA ADHISTITE SVÀHÀ) . Án- Mẫu nãnh mẫu nãnh (OM- MUNI MUNI) - Mẫu nãnh phộc lệ, a tỵ tru tá đổ hàm (MUNI VARE ABHISIMCA TUMAM) - Tát phộc đát tha nghiệt đá, tát phộc vĩ nễ-dã tỵ sái kế (SARVA TATHÀGATA SARVA VIDYA ABHISEKAI) - Ma hạ phộc nhật-la ca phộc tá mẫu nại-la mẫu nại-lị đới (MAHÀ VAJRA KAVACA MUDRA MUDRITEH) - Tát phộc đát tha nga đa khất-lị nãi dạ địa sắt-xỉ đa, phộc nhật-lệ, sa-phộc hạ. (SARVA TATHÀGATA HRDAYA ADHISTITA VAJRE SVÀHÀ).
TÙY CẦU ĐẠI HỘ MINH VƯƠNG ĐẠI TÂM ĐÀ LA NI
(Bản này y theo Bản đời Minh cf.P.626)
Nẵng mô mẫu đà dã (NAMO BUDDHÀYA)
Nẵng mô đạt ma dã (NAMO DHARMÀYA)
Ná mạc Tăng dà dã (NAMAH SAMGHÀYA)
Nẵng mô bà nga phộc đế (NAMO BHAGAVATE) Xá chỉ-dã mẫu nẵng duệ (‘SAKYAMUNAYE) Ma hạ ca lỗ ni ca dã (MAHÀ KARUNIKÀYA) Đát tha nghiệt đá dạ (TATHÀGATÀYA) La-hạ đế . Tam muội tam mẫu đà dã (ARHATE SAMYAKSAMBUDDHÀYA) Ná mạc táp đáp Tỳ-dược Tam miệu tam một đề tỳ-dược (NAMAH SAPTA BHYAH SAMYAKSAMBUDDHE BHYAH) Ê sam ná mạc sa cật-lị đát-phộc (ESÀM NAMAH SKRTVÀ) Mẫu đà xá sa nẵng vật-lã đà duệ (BUDDHA ‘SASANA VRDHAYE) A hạ A ná nãnh-dần (AHAM ADÀNYÀM) Bát-la phộc khất-sái mính (PRAVAKSA ME) Tát phộc tát đát-phộc nỗ kiến bả dạ (SARVA SATVA ANUKAMPAYÀ) I hàm vĩ niệm ma hạ đế cữu (IMÀM VIDYA MAHÀ TEJÌ) Ma hạ ma la bả la cật-la Hàm (MAHÀ MALA PARÀKRAMÀM) Duệ xiêm bà sử đam ma tị đát-la diễm (YE SYAM BHASITAM MÀTRÀYAM) Phộc nhật-la sa nẵng ma nãnh sử lị (VAJRÀSANA MANI SIRI) Ngật-la hạ Tát phộc vĩ nẵng dã ca (GRAHA SARVA VINÀYAKA) Thất-chế tát đát đắc-vĩ-sái noa vĩ la dựng nghiệt đá (‘SCA VATA KSANA VÌRAYAM GATA) Đát nễ dã tha (TADYATHÀ) :
Nghĩ lị, nghĩ lị, nghĩ lị ni (GÌRI GÌRI GÌRINI) Nghĩ lị phộc để (GIRI VATI) Ngu noa phộc để (GUNA VATI) A ca xả phộc để (ÀKÀ’SA VATI) A ca xả la truật đệ Bá bả vĩ nga đế (ÀKÀ’SA ‘SUDDHE PÀPA VIGATE) A ca phế nga nga nẵng đát lê (ÀKÀ’SE GAGANA TALE) A ca xả vĩ tá lị ni (ÀKÀ’SA VICÀRINI) Nhập-phộc lý đa thất-lê (JVALITA ‘SIRE) Ma ni mục cật-để khư, tức đa mạo lý đà lê (MANI MUKTI KHA CITTA BOLI DHARE) Tô kế thế (SUKE’SE) Tô phộc cật đát lê (SUVAKTRÌ) Tô mật đát lê (SUNÌTRÌ) Tô vật la-noa mạo lý (SUVARNA BOLI) A để đế, A noa đáp-bán ninh, ma nẵng nghiệt đế (ATÌTE ANÀTMAMNI MANA GATE) Bát la để-luật đáp-bán ninh (PRATYUTMAMNI) Nẵng mô tát phệ sam mẫu đà nam (NAMO SARVESÀM BUDDHÀNÀM) Nhập-phộc lý đa đế nhạ tam mẫu đệ (JVALITA TEJA SAMBUDDHE) Tố mẫu đệ (SUBUDDHE) Bà nga phộc để (BHAGAVATE) Tố la khất-sái ni (SURA KSANI) Tố khất-sái mính (SUKSA ME) Tố bát-la bệ (SUPRABHE) Tố ná mính (SUDAME) Tố nam đế (SUNÀMTE) Ca lê (CALE) Bà nga phộc để (BHAGAVATE) Bạt nại-la Phộc-để (BHADRA VATI) Bạt nại-lê (BHADRE) Tố bạt nại-lê (SUBHADRE) Vĩ ma lê nhạ dã bạt nại lê (VIMALE JAYA BHADRE) Bát-la tán noa tán nị (PRACANDA CANDI) Phộc nhật-la tán nị (VAJRA CANDI) Ma hạ tán nị (MAHÀ CANDI) Kiểu lị (GAURI) Hiến đà lị (GANDHÀRI) Lai lý tán noa lý
(CERI CANDALI) Ma đặng nghĩ (MATANÕGI) Phú yết tư xả phộc lị nại-la nhĩ lị (PUKASI ‘SAVARI DRAMINDI) Lao nại-lị ni (RAUDRINI) Tát phộc la-tha sa đà nãnh (SARVÀRTHA SÀDHANE) Hạ nẵng Hạ nẵng (HANA HANA) Tát phộc thiết đốt-lỗ nẫm, nhược hạ nhược hạ (SARVA ‘SATRÙNÀM DAHA DAHA) Tát phộc nột sắt-tra nam (SARVA DUSTANÀM) Tất-lệ đa, Tỳ xá tả noa chỉ nãnh nam (PRETA PI’SACA DAKININÀM) Ma nỗ sái ma nỗ sái nẫm (MANUSYA AMANUSYANÀM) Bả tả Bả tả (PACA PACA) Hột-lị nãi diêm, vĩ đà-võng sa dã nhĩ vĩ đam (HRDAYAM VIDHVAM ‘SAYA JÌVITAM) Tát phộc nột sắt-tra ngật-la hạ nẫm (SARVA DUSTA GRAHANÀM) Nẵng xả dã, nẵng xả dã (NÀ’SAYA NÀ’SAYA) Tát phộc bá bả nãnh mính la khất-sái la khất-sái Hàm (SARVA PÀPA NIME RAKSA RAKSA MÀM) Tát phộc tát đát-phộc nam tả (SAVA SATVÀNÀM CA) Tát phộc bà dữu bát nại-la phệ Tỳ-dược (SARVA BHAYOPADRAVE BHYAH) Tát phộc nột sắt-tra nam mãn đà năng củ lỗ (SARVA DUSTANÀM BANDHANAM KURU) Tát phộc chỉ lý-vĩ sái nẵng xả nãnh (SARVA KILISA NÀ’SANI) Mạt đa nam nị ma nãnh nãnh tả lê để trí để trí nãnh (MÀTA NANDI MÀNINI CALE TITI TITINI) Đốt tại cụ la ni vị la ni (TUTAI GHORANI VÌRANI) Bát-la vạt la Tam ma lê (PRAVAVA SAMMALE ) Tán noa lý (CANDARI) Ma đăng kỳ (MATANÕGI) Vạt tạt tư tố lỗ phó yết tư xả phộc lý hướng ca lị nạo-la vĩ lị (VACASI SURU PUKASI ‘SAVARI ‘SAMKARI DRAVANDI) Nhược hạ nãnh bả tả nãnh mạt ná nãnh (DAHANI PACANI MADANI) Tát la la, tát la lê (SARALA SARALE) Tát la lãm bệ tứ nẵng (SARALAMBHE HÌNA) Mạt địa-dữu đắc-cật-lị sắt-tra (MADHYOKRSTA) Vĩ ná lị ni (VIDÀRINI) Vĩ đà lị ni (VIDHÀRINI) Ma tứ lý (MAHÌLI) Ma hộ ma hộ lý nãnh (MAHO MAHO LINI) Tát nãi nãnh Tát noa bạn Tễ (GANENI GANA PACE) Mãõn đế mãn để nãnh (VATI VATINI) Mãn đế chước cật-la phộc chỉ nãnh (VATI CAKRA VASINI) Nhạ lê tổ lê (JALE CULE) Xả phộc lị xả ma lị xả phộc lị (‘SAVARI ‘SAMARI ‘SADHARI) Tát phộc nhĩ -dã địa hạ la ni (SARVA VYADHI HARANI) Tổ nị tổ nị nãnh (CONDI CONDINI) Nãnh nhĩ nãnh nhĩ (NIMI NIMI) Nãnh mẫn đà lị để lị lộ ca nhạ hạ nãnh (NIMIM DHARI TRILOKA JAHANI) Đệ-lị lộ ca lộ ca yết lị (TRILOKA LOKA KARI) Đát-lạt đà đổ ca nhĩ-dã phộc lộ chỉ nãnh (TRAIDHÀTUKA VYAVALOKINI) Phộc nhật-la bả la thú bá xả Khát nga chước cật-la để lị thú la đá ma ni (VAJRA PRA’SÙ PÀ’SA KHANÕGA CAKRA TRI’SÙLA CINTAMANI) Ma hạ vĩ nễ-dã đà la ni (MAHÀ VIDYA DHÀRANI) La khất-sái la khất-sái Hàm Ma ma tát phộc tát đát-phộc nam tả (RAKSA RAKSA MÀM MAMA SARVA SARVÀNÀM CA) Tát phộc tát-la Tất phộc sa-tha nẵng nghiệt đát tả (SARVATRÀ SARVA STHANA GATASYA) Tát phộc nột sắt-tra bà duệ Tỳ-dược (SARVA DUSTA BHAYE BHYAH) Tát phộc ma nỗ sái, ma nỗ sái bà duệ Tỳ-dược (SARVA MANUSYA AMANUSYA BHAYE BHYAH) Tát phộc vĩ-dã địa Tỳ-dược (SARVA VYADHI BHYAH) Phộc nhật-lê phộc nhật-la phộc để (VAJRE VAJRAVATI) Phộc nhật-la bá ni đà lê (VAJRAPÀNI DHÀRE) Tứ lý tứ lý (HILI HILI) Nhĩ lý nhĩ lý (MILI MILI) Tức lị tức lị (CILI CILI) Tất lý tất lý (SILI SILI) Phộc la phộc la phộc la nễ (VARA VARA VARANI) Tát phộc đát-la nhạ dã Lạp đệ Sa-phộc hạ (SARVATRÀ JAYA LAMÏVI SVÀHÀ) Bá bả vĩ ná la ni (PÀPA VIDÀRANI) Tất phộc nhĩ-dã địa hạ la ni Sa-phộc hạ (SARVA VYADHI HARANI SVÀHÀ) Tát phộc đát-la bà dã, hạ la ni Sa-phộc hạ (SARVATRÀ BHAYA HARANI SVÀHÀ) Sa-phộc Sa-để bà phộc đô ma ma (……) Sa-phộc hạ (SVASTIRBHAVATU MAMA…. SVAHA) Phiến để Sa-phộc hạ (‘SÀNTI SVÀHÀ) Bổ sắt-trí Sa-phộc hạ (PUSTI SVÀHÀ) Nhạ dã đô nhạ duệ nhạ dã phộïc để (JAYA TUJAYE JAYAVATI) Nhạ dã vĩ bổ la vĩ ma lê Sa-phộc hạ (JAYA VIPULA VIMALE SVÀHÀ) Tát phộc đát tha nghiệt đa, địa sắt-xá nẵng bố la-để Sa-phộc hạ (SARVA TATHÀGATA
ADHISTANA PURTI SVÀHÀ) ÁN - Bộ lị, bộ lị Phộc nhật la phộc để (OM- BHURI BHURI VAJRAVATI) Đát tha nghiệt đa hột lị nãi dã Bố la ni Tán đà la ni (TATHÀGATA HRDAYA PURANI SANDHARANI) Mạt la mạt la nhạ dã vĩ nễ-duệ Hồng Hồng Phát Tra, Phát Tra Sa-phộc hạ (BALA BALA JAYA VIDYE HÙM HÙM PHAT PHAT SVÀHÀ) .
22/09/1998
PHẬT THUYẾT KINH THẦN CHÚ TÙY CẦU TỨC ĐẮC ĐẠI TỰ TẠI ĐÀ LA NI
Mật Tạng Bộ 3 No.1154 (Tr.637 - Tr.644)
Đời Đường, Nước Ca Thấp Di La thuộc Bắc Ấn Độ, Tam Tạng Pháp Sư Bảo Tư Duy ở Chùa Thiên Cung dịch Phạn ra Hán
Việt Dịch : Huyền Thanh
Tôi nghe như vầy: Một thời Đức Bạc Già Phạm ngự tại núi Kỳ Xà Quật, ở Đại thành Vương Xá cùng với các đệ tử dự hội nói Pháp.
Bấy giờ, có vị Thiên Vương Đại Phạm là Chủ của thế giới Ta-bà đến chỗ Phật ngự, nhiễu quanh bên phải 3 vòng, đảnh lễ dưới chân Đức Phật, chắp tay hướng về Đức Phật, rồi bạch rằng: "Nguyện xin Đức Thế Tôn vì lợi ích cho chúng sanh nói Thần chú Đà La Ni, khiến cho khắp cả Trời người được an vui”.
Đức Phật bảo: “Lành thay! Lành thay! Thiên Vương Đại Phạm! Ông hay thương xót tất cả chúng sanh mà hỏi về các việc lợi ich. Ông hãy khéo suy nghĩ, Ta sẽ vì ông mà phân biệt, diễn nói Thần Chú Đà La Ni Tùy Cầu Tức Đắc Đại Tự Tại này, hay ban cho tất cả chúng sanh sự an vui tối thắng, chẳng bị tất cả Dạ xoa, La sát và các bệnh điên loạn, quỷ đói, quỷ Tắc Kiến Đà, các hàng quỷ thần gây não hại; cũng chẳng bị bệnh nóng lạnh xâm tổn. Nơi cư ngụ luôn luôn được thù thắng, chẳng bị sự xâm hại về đấu chiến oán thù, lại hay đập tan kẻ địch, chú trớ yểm đảo chẳng có thể làm hại. Tội của nghiệp trước đều tiêu trừ Các độc không thể hại, lửa chẳng thể thiêu đốt, đao chẳng thể gây thương tích, nước chẳng thể cuốn chìm hoặc không bị sấm sét (Lôi điển, phích lịch), gió ác, mưa bão không đúng thời gây tổn hại .
Nếu có người thọ trì Thần chú này thì nơi ở thường được thù thắng. Nếu có thể viết chép Thần chú rồi đeo trên cổ hoặc cột trên cánh tay, thì người đó hay thành tất cả việc thanh tịnh tối thượng. Thường được Chư Thiên, Long Vương ủng hộ. Lại được Chư Phật, Bồ Tát hộ niệm. Kim Cang Mật Tích, Bốn Đại Thiên Vương, Thiên Đế Thích, Đại Phạm Thiên Vương, Tỳ Nữu Thiên, Đại Tự Tại Thiên, Câu Ma La Quân Chúng, Tỳ Na Dạ Ca, Đại Hắc Thiên, Nan Đề Kê Thuyết Thiên v.v...ngày đêm thường theo ủng hộ người trì chú này.
Lại được Ma Đế Kiến NoaThiên chúng với các Thiên Thần chúng Tự Tại khác cũng theo ủng hộ. Lại được Chư Ma Thiên chúng cùng các quyến thuộc, chư Thần có đại uy đức của Thần chú là: Thần Ương Câu Thi, Thần Bạt Chiết La, Thần Thương Yết La, Thần Ma Mạc Kê, Thần Tỳ Câu Tri, Thần Đa La, Thần Ma Ha Ca La, Thần Bộ Đa, Thần Chước Yết La Ba Ni, Thần Đại Lực, Thần Trường Thọ Thiên, Thần Ma Ha Đề Tỳ, Thần Ca La Yết Ni, Thần Hoa Xỉ, Thần Ma Ni Châu Kế, Thần Kim Kế, Thần Tân Nghiệt La La Khí, Thần Điển Man, Thần Ca La La Lợi, Thần Tỳ Câu, Thần Kiên Lao Địa, Thần Ô Đà Kế Thi, Thần Thập Phiệt Lật Đa Na Na, Thần Đại Nộ, Thần Chấp Kiếm, Thần Ma Ni Quang, Thần Xà Tri Ni, Thần Nhất Xà Tra, Thần Phất Đà La Ba Lợi Ni, Thần Lăng Kê Thuyết cùng với vô lượng Chư Thiên Thần khác; các Thiên chúng đó đều đến ủng hộ.
Nếu Thần Chú này được đeo trên thân, tay thì Quỷ Tử Phụ Mẫu, Thần Ma Ni Bạt Đà, Lực Thiên, Đại Lực Thiên, Thần Thắng Khí Ni, Thần Câu Tra Đàn Để, Công Đức Thiên, Đại Biện Thiên v.v...luôn luôn đi theo ủng hộ.
Nếu có người nữ nào thọ trì Thần Chú này, sẽ có thế lực lớn, thường sanh con quý. Lúc thọ thai, thì thai sẽ được an ổn, khi sanh sản được an vui, không có các bệnh tật, mọi tội tiêu trừ, quyết định không nghi.
Do oai lực phước đức mà tiền của, lúa gạo được tăng trưởng. Lời nói ra khiến cho người tin nhận, thường được tất cả mọi điều cung kính, nên phải khiết tĩnh. Nếu có người nam, người nữ, đồng nam, đồng nữ trì chú này sẽ được an vui, không có bệnh tật, mọi tội tiêu trừ, sắc tướng đẹp đẽ mạnh khoẻ, viên mãn kiết tường, tăng trưởng phước đức.
Người đeo chú này, tuy chưa vào Đàn liền thành. Người đã vào tất cả Đàn, cùng đồng hạnh với người đã vào Đàn, chẳng bị ác mộng, tội nặng tiêu trừ. Nếu có kẻ khởi tâm ác hướng đến, thì chẳng thể làm hại người trì chú này được. Tất cả lạc dục mong cầu đều được thành tựu".
Bấy giờ , Đức Thế Tôn liền nói chú rằng:
- Na mâu tát bà đát tha nghiệt đa nẵng. Na mâu bột đà đạt ma tăng chi biều. Án- Tỳ bổ la nghiệt bệ. Tỳ mạt lê xà gia nghiệt bệ. Phiệt chiết la thời phạ la nghiệt bệ. Nghiệt để già ha nê. Già già na tỳ du đạt nê. Tát bà bả ba tỳ du đạt nê.
Án- Cù noa bạt để. Già già lị ni. Kỳ lị kỳ lị. Già mạt Lị Già ha già ha. Già nghiệt lị già nghiệt lị. Già già lị, Già già lị Kiềm bà lị, Kiềm bà lị. Nghiệt để, nghiệt để. Già mạt nê già lị. Cù lô cù lô, Cù lô ni. Chiết lệ chiết lệ, mâu chiết lệ. Thệ duệ, tỳ thệ duệ. Tát bà bà gia tỳ nghiệt để. Nghiệt bà tam bà la ni Bỉ lị tỷ lị. Dĩ lị dĩ lị. Tam mạn đa ca lị sa ni. Thiết đổ tăng bát la mạt tha nễ. Lạc xoa lạc xoa ma ma (Tôi tên là….) tả. Tỳ lị tỳ lị. Tỳ nghiệt đa phiệt la ni. Bà gia bà xả tô lị tô lị. Chất lý ca mạt lệ. Thị duệ. Thị gia bà hê. Thị gia bà để. Bà già bạt để. Hạt la đát na ma câu tra ma la đạt lị. Tỳ chất đa la bệ sa ba đà lị ni. Bà già bạt để tất địa gia đệ tỳ. Lạc xoa đô ma (Tôi tên là ….) tả. Tam mạn đa ca la tỳ du đạt nễ. Hô lô hô lô. Nhược sát đát tả ma la đà lị ni. Chiên noa chiên noa chiên ni. Bệ già bạt đế. Tát bà đột sắt tra nễ bà la ni. Thiết đốt lỗ bát xoa bát loa mạt tha nễ. Tỳ xà gia bà tứ. Hổ lô hổ lô. Mẫu lô mẫu lô.
Chu lô chu lô. A dữu ba thư nễ. Tô la bà la ma thát nễ. Tát bà đề bà đa bổ thị để. Địa lị địa lị. Tam mạn đa bà lô cát đế. Bát la bệ. Tô bát la bà du nễ. Tát bà bả ba tỳ du đạt nễ. Đà la đà la đà la ni. Bạt la đà lệ. Tô mẫu tô. Tô mẫu lô chiết lệ. Chiết lệ giá la gia đột sắt tra. Bộ la gia a thưởng. Thi li bà bô đà la chiết gia ca mạt lệ. Khí sử ni khí sử ni. Tát bà đề ba đa bà la đà tả câu thí. Án- Bát đặc ma tỳ du đề. Du đạt nễ du đề. Bà la bà la. Tỳ lị tỳ lị. Bộ lô bộ lô. Mãng ngải la nhiếp bật đề. Bạt bậc đa la mục. Khương ca lị. Khư la khư la. Thời phạ lật đa thất lệ. Tam mạn đa bát la tát lị đa bà bà chí đa du đề. Thời phạ la thời phạ la. Tát bà đề bà đề noa tam ma yết lị sa ni. Tát để gia phiệt để. Đát la đát la. Na già tỳ lô yết nễ. La hô la hô Hô nỗ hô nỗ. Sát ni sát ni. Tát bà nghiệt la ha bạc sát ni. Thỉ nghiệt la thỉ nghiệt la. Chu mẫu chu mẫu, tô mẫu tô mẫu . Tỳ
chiết lệ. Đát la đát la . Đa la gia đổ ma (Tôi tên là….) tả. Ma ha bội gia. Tam mâu đạt la, sa già la, bát lị diễn đa, ba đa la, già già na. Sa man để na. Bạt chiết la thời phạ la tỳ du đạt nễ.
Bộ lị bộ lị. Nghiệt bà phiệt để nghiệt bà tỳ du đạt nễ. Câu khí sử tam bộ la ni. Xà la giá la xà lật nễ. Bát la phiệt lị sa đổ đề bà sa mạn đế na. Điệt tỳ dụ đà kế na. A mật lật đa phiệt lị sa ni. Đề ba đa bà đa lật ni. A tỳ tru giá đổ mê. A mật lật đa bạt la bà bộ sái. Lạc xoa, lạc xoa ma ma (Tôi tên là…) tả. Tát bà đát la. Tát bà đà. Tát bà bà duệ biều. Tát bồ ô ba đạt la bệ biều. Tát bồ ô bát tát kỳ biều. Tát bà đột sắt tra bà duệ tỳ đát tả. Tát bà yết lị yết la ha. Tỳ yết la ha tỳ bà đà. Đột táp phạp bát na. Đột lật nễ mật đa, a mãng ngải lược dạ. Bả ba tỳ na thiết nễ. Tát bà dược phu la sát sa nễ bà la ni. Sa la ni tát lệ. Bà la bà la. Bà la bạt để. Xà gia xà gia đổ ma (Tôi tên là….) tả. Tát bà đát la. Tát bà ca lam. Tất đoạn đổ bật địa gia sa đà gia. Tát bà mạn trà la sa đạt nễ. Xà gia tất đề. Tất đề, tô tất đề. Tất đà gia tất đà gia. Bột địa gia, bột địa gia. Bô la ni, bô la ni. Tát bà bật địa gia địa nghiệt đá mẫu lật đê. Xà du đát lệ xà gia bạt để. Sắt xá để. Để sắt xá để sắt xa. Tam muội gia ma nỗ ba lại gia. Đát tha nghiệt đa du đề. Tỳ gia bà lô ca gia đô ma (Tôi tên là….) tả. A sắt tra bật hiệt lam , ma ha bà gia đà lỗ ni. Tát la tát la. Bát la tát la, bát la tát la. Tát bà phiệt la noa tỳ du đạt nễ. Tam mạn đa ca la man trà la du đề. Tỳ nghiệt đê, tỳ nghiệt đê. Tỳ nghiệt đa mạt lê du đạt nễ. Khí sử ni, khí sử ni. Tát bà bạt ba tỳ du đề. Mạt la tỳ du đề. Đế xà bạt để, bạt chiết la bạt để. Đề lệ lô chỉ gia địa sắt xỉ để, sa ha. Tát bà đát tha nghiệt đa mẫu la đà tỳ sắc ngật để, sa ha. La bà bồ đề tát đỏa, tỳ sắc ngật để, sa ha. Tát bà đề bà đa, tỳ sắc ngật đề, sa ha. Tát bà đát tha nghiệt đa hiệt lật đà lệ, địa sắt xỉ để, sa ha. Tát bà đát tha nghiệt đa tam muội gia tất đệ, sa ha. Ấn điệt lệ, ấn đà la bạt để, ấn đà la tỳ gia bà lô cát để, sa ha. Bột la ế mê, bột la ế mê, bột la ha ma địa du sắt để, sa ha. Tỷ sắt nỗ na ma tất cát lật để, sa ha. Ma hê thấp phộc la na ma tất cát lật để, sa ha. Bạt chiết la đà la , bạt chiết la ba ni, bà la tỳ lê gia, địa sắt xỉ để, sa ha. Tiểu lị để la sắt tra la gia, sa ha. Tỳ lô trà ca gia, sa ha. Tỳ lô ba xoa gia, sa ha. Bùi thất la mãn noa gia, sa ha Chiết đốt lặc ma ha la xà, na ma tất cát lật đa gia, sa ha. Bà lỗ noa gia, sa ha. Na già tỳ lô chỉ đa gia, sa ha. Đề bà nghiệt nãi biều, sa ha. Na già nghiệt nãi biều, sa ha. Dược xoa nghiệt nãi biều, sa ha. Kiện đạt bà nghiệt nãi biều, sa ha. A tô la nghiệt nãi biều, sa ha. Già lỗ trà nghiệt nãi biều, sa ha. Khẩn na la nghiệt nãi biều, sa ha. Ma hô la già nghiệt nãi biều, sa ha. Hạt la sát sa nghiệt nãi biều, sa ha. Ma nỗ sái biều, sa ha. A ma nỗ sái biều, sa ha. Tát bà già lạc hê biều , sa
ha. Tát bà bộ để biều, sa ha. Bế lệ để duệ biều, sa ha. Tất xá chế biều, sa ha. Aùng ba tát ba lệ biều, sa ha. Cát lý nãi biều, sa ha. Án- Độ lô độ lô, sa ha. Đổ lô đổ lô, sa ha. Mâu lô mâu lô, sa ha. Ha na tát bà thiết đổ lỗ ấp ma ma tả, sa ha. Đà ha đà ha tát bà đột sắt tra, bát la đột sắt tra, ma ma (Tôi tên là…) tả, sa ha. Bát già bát già tát bà bát la để gia thiết ca, bát la để gia mật đa la, ma ma (Tôi tên là….) tả, sa ha. Thời phạ lật đa gia, sa ha. Bát la thời phạ lật đa gia, sa ha. Địa bát đa thời phạ la gia, sa ha. Tam mạn đa bát la thời phạ lật đa gia, sa ha. Ma ni bạt đạt la gia, sa ha. Bố lật noa bạt đà la gia, sa ha. Ma ha ca la gia, sa ha. Ma để lị già noa gia, sa ha. Dược khất sử ni ấp , sa ha. Hạt la sát tư ấp, sa ha. A ca xa ma để ấp, sa ha. Tam mãn đạt la nễ bà tất nễ ấp, sa ha. Hạt la để lị chiết lam , sa ha. Địa bà sa chiết lam, sa ha. Để lị tán địa gia chiết lam, sa ha. Bệ la chiết lam, sa ha. A bệ la chiết lam, sa ha. Hạt bà chiết lệ biều, sa ha. Hạt bà tán đà la ni, hô lô hô lô, sa ha. Án, sa ha. Tát bà, sa ha. Bộ phiệt, sa ha. Bộ lỗ bộ phiệt, sa ha. Chất tán chất tán, sa ha. Phí tán phí tán, sa ha. Đà la ni, sa ha. Đà la ni, sa ha. Ác kỳ nễ, sa ha. Đế thù bà bố, sa ha. Chỉ lý chỉ lý, sa ha. Tỷ lý tỷ lý, sa ha. Bột địa gia, bột địa gia, sa ha. Mạn trà la tất địa duệ, sa ha. Mạn trà la bạn đà duệ, sa ha. Tư ma bạn đạt ni, sa ha. Chiêm bà chiêm bà, sa ha. Tất đam bà, tất đam bà, sa ha. Sân đà, sân đà, sa ha. Tần đà tần đà, sa ha. Bạn đà bạn đà, sa ha. Mâu hối già mâu hối già, sa ha. Ma ni tỳ dụ đề, sa ha. Tố lật duệ, tố lật duệ, tô lị gia, tỳ dụ đề, sa ha. Chiến điệt lệ, tô chiến điệt lệ, bố lật noa chiến điệt lệ, sa ha. Nhạ sát đa la gia, sa ha. Thất phệ, sa ha. Phiến để duệ, sa ha. Tô phạ tất để dã , dã nễ, sa ha. Thi phạm yết lị, phiến để yết lị, bố sắt trí bạt lạt đà nễ, sa ha. Thất lị yết lệ, sa ha. Thất lị gia bạt lị đà nễ, sa ha. Thất lị gia thời phạ la nễ, sa ha. Na mâu chi, sa ha. Ma lỗ chi, sa ha . Bệ già phiệt để, sa ha.
* Bản Phạn :
NAMAH SARVA TATHÀGATÀNÀM. NAMO BUDDHA DHARMA SAMGHE BHYAH. OM- VIPULA GARBHE, VIMALE JAYA GARBHE, VAJRA JVALA GARBHE, GATI GAHANE, GAGANA VI’SODHANE, SARVA PÀPA VI’SODHANE. OM- GUNA VATI, GAGARINI, GIRI GIRI, GAMÀRI, GAHA GAHA, GARGÀRI GARGÀRI, GAGARI GAGARI, GAMBHARI GAMBHARI, GATI GATI, GAMARI GARE, GÙRU GÙRU GÙRUNE, CALE ACALE MUCALE, JAYE VIJAYE, SARVA BHAYA VIGATE, GARBHA SAMBHARANI, SIRI SIRI, MIRI MIRI, SAMANTA AKARSANI, ‘SATRÙNÀM PRAMATHANI, RAKSA RAKSA MAMA SYA, VIRI VIRI, VIGATA AVARANI, BHAYA PÀ’SA SURI SURI, CILI KAMALE JAYE JAYA VAHE JAYA VATI BHAGAVATI RATNA MAKUTA MÀLÀ DHÀRI VICITRA VESA RÙPA DHÀRINI BHAGAVATI VIDYA DEVI RAKSA TUMAM SYA SAMANTA KARA VI’SODHANE HURU HURU NAKSATRA MÀLÀ DHÀRINI CANDA CANDA CANDI VEGA VATI SARVA DUSTA NIVARANI ‘SATRÙ PAKSA PRAMATHANI VIJAYA VÀHINI HURU HURU MURU MURU CURU CURU AYUH PÀLANI SURA VARA MATHANI SARVA DEVATA PÙJITE DHIRI DHIRI SAMANTA AVALOKITE PRABHE SUPRABHA ‘SUDDHE SARVA PÀPA VI’SODHANE DHARA DHARA DHARANI VARA DHARE SUMURU SUMURU CALE CALE CALÀYA DUSTA PÙRAYA À’SAM ‘SRI VAPUDHARA JAYA KAMALE KSINI KSINI SARVA DEVATA VARADA ANÕKU’SE. OM- PADMA VI’SUDDHE ‘SUDDHANI ‘SUDDHE BHARA BHARA BHIRI BHIRI BHURU BHURU MAMGALA VI’SUUDHE PAVITRA MUH KHANÕGARI KHARA KHARA JVALITA ‘SIRE SAMANTA PRASARITA VABHASITA ‘SUDDHE JVALA JVALA SARVA DEVAGANA SAMA AKARSANI SATYA VATI TARA TARA NÀGAVILOKINI LAHU LAHU HUNU HUNU KSINI KSINI SARVA GRAHA BHAKSANI PIMGALA PIMGALA CUMU CUMU SUMU SUMU VICALE TARA TARA TÀRÀYA TUMAM SYA MAHÀ BHAYA SAMUDRA SÀGARA PRATYANTÀM PÀTÀLA GAGANA SAMANTENA VAJRA JVALA VI’SODHANE BHURI BHURI GARBHAVATI GARBHA VI’SODHANE KUKSI SAPÙRANI CALA CALA JVALINI PRAVASATU DEVA SAMANTENA DIDHYODAKENA AMRTA VARSANI DEVA DEVA DHÀRINI ABHISIMCA TUME
AMRTA VARA VAPUSPE RAKSA RAKSA MAMA SYA SARVATRÀ SARVADÀ SARVA BHAYE BHYAH SARVA UPADRAVE BHYAH SARVA UPASARGE BHYAH SARVA DUSTA BHAYE BHÌTA SYA SARVA KÀLI KALAHÀ VIGRAHA VIVÀDA DUHSVAPNÀM DURNI MINTA AMAMGALLYA PÀPA VINA’SANI SARVA YAKSA RAKSASA NIVARANI SARANI SARE BALA BALA BALAVATI JAYA JAYA TUMAM SYA SARVATRÀ SARVA KÀRAM SIDDHYAM TUME VIDYA SÀDHAYA SARVA MANDALA SÀDHANI JAYA SIDDHE SIDDHE SUSIDDHE SIDDHYA SIDDHYA BUDDHYA BUDDHYA PÙRANI PÙRANI SARVA VIDYA ADHIGATA MÙRTTE JAYOTTARI JAYAVATI STHATI TISTAù TISTA SAMAYAM ANUPÀLAYA TATHÀGATA ‘SUDDHE VYAVALOKAYA TUMAM SYA ASTA BHIRIRAM MAHÀ BHAYA DÀRUNI SARA SARA PRASARA PRASARA SARVA AVARANA VI’SODHANE SAMANTA KÀRA MANDALA ‘SUDDHE VIGATE VIGATE VIGATA MALE ‘SODHANE KSINI KSINI SARVA PÀPA VI’SUDDHE MARA VIGATE TEJAVATI VAJRAVATI TRAILOKYA ADHISTITE SVÀHÀ SARVA TATHÀGATA MURDDHA ABHISIKTE SVÀHA.Ø SARVA BODHISATVA ABHISIKTE SVÀHÀ. SARVA DEVATA ABHISIKTE SVÀHÀ. SARVA TATHÀGATA HRDAYE ADHISTITE SVÀHÀ. SARVA TATHÀGATA SAMAYA SIDDHE SVÀHÀ. INDRE INDRAVATI INDRAVYAVALOKITE SVÀHÀ. BRAHME BRAHME BRAHMA ADHYUSTE SVÀHÀ. VISNU NAMASKRTE SVÀHÀ. MAHE’SVARA NAMASKRTE SVÀHÀ. VAJRADHÀRA VAJRAPÀNI BALA VÌRYA ADHISTITE SVÀHÀ. DHRTARÀSTRÀYA SVÀHÀ. VIRÙDHAKÀYA SVÀHÀ. VIRÙPÀKSAYA SVÀHÀ. VAI’SRAVANÀYA SVÀHÀ. CATUR MAHÀ RÀJA NAMASKRTÀYA SVÀHÀ. VARUNÀYA SVÀHÀ. NÀGAVILOKITÀYA SVÀHÀ. DEVAGANE BHYAH SVÀHÀ. NÀGAGANE BHYAH SVÀHÀ. YAKSAGANE BHYAH SVÀHÀ. GANDHRVAGANE BHYAH SVÀHÀ. ASURAGANE BHYAH SVÀHÀ. GURUDAGANE BHYAH SVÀHÀ. KINNARAGANE BHYAH SVÀHÀ. MAHORAGAGANE BHYAH SVÀHÀ. RÀKSASAGANE BHYAH SVÀHÀ. MUNUSYE BHYAH SVÀHÀ. AMANUSYE BHYAH SVÀHÀ. SARVA GRAHE BHYAH SVÀHÀ. SARVA BHÙTE BHYAH SVÀHÀ. PRETE BHYAH SVÀHÀ. PI’SACE BHYAH SVÀHÀ. APASMARE BHYAH SVÀHÀ. KUMBHÀNE BHYAH SVÀHÀ. TURU TURU SVÀHÀ. OM- DHURU DHURU SVÀHÀ. MURU MURU SVÀHÀ. HANA SARVA ‘SATRÙNÀM MAMA SÏYA SVÀHÀ. DAHA DAHA SARVA DUSTA PRADUSTA MAMA SYA SVÀHÀ. PACA PACA SARVA PRATYARTHIKA PRATYÀMITRA MAMA SYA SVÀHÀ. JVALITÀYA SVÀHÀ. PRAJVALITÀYA SVÀHÀ. DÌPTA JVALÀYA SVÀHÀ. SAMANTA PRAJVALITÀYA SVÀHÀ. MANBHADRÀYA SVÀHÀ. PÙRNABHADRÀYA SVÀHÀ. MAHÀ KÀLÀYA SVÀHÀ. MATRGANÀYA SVÀHÀ. YAKSINÌNÀM SVÀHÀ. RAKSASÌNÀM SVÀHÀ. ÀKA’SA MATRNÀM SVÀHÀ. SAMUDRA NIVÀSINÌNÀM SVÀHÀ. RÀTR CARÀNÀM SVÀHÀ. DIVASA CARÀNÀM SVÀHÀ. TRISANTYA CARÀNÀM SVÀHÀ. VELA CARÀNÀM SVÀHÀ. AVELA CARÀNÀM SVÀHÀ. GARBHA HÀRE BHYAH SVÀHÀ. GARBHA SANDHÀRANI HULU HULU SVÀHÀ. OM- SVÀHÀ. SVÀH SVÀHÀ. BHÙH SVÀHÀ. BHÙRBHÙH SVÀHÀ. CITI CITI SVÀHÀ. VITI VITI SVÀHÀ. DHÀRANÌ SVÀHÀ. DHARANI SVÀHÀ. AGNI SVÀHÀ. TEJO VAPU SVÀHÀ. CILI CILI SVÀHÀ. SILI SILI SVÀHÀ. BUDDHYA BUDDHYA SVÀHÀ. MANDALA SIDDHYE SVÀHÀ. MANDALA BANDHAYE SVÀHÀ. ‘SÌMA BANDHANI SVÀHÀ. JAMBHA JAMBHA SVÀHÀ. STAMBHA STAMBHA SVÀHÀ. CCHINDHA CCHINDHA SVÀHÀ. BHINDHA BHINDHA SVÀHÀ. BANDHA BANDHA SVÀHÀ. MOHAYA MOHAYA SVÀHÀ. MANI ‘SUDDHE SVÀHÀ. SÙRYE SÙRYE SÙRYA VI’SUDDHE SVÀHÀ. CANDRE SUCANDRE PÙRNACANDRE SVÀHÀ. NAKSATRÀYA SVÀHÀ. ‘SIVE SVÀHÀ. ‘SÀNTIYE SVÀHÀ. SVACTYA YANE SVÀHÀ. ‘SIVAM KARI, ‘SÀNTI KARI, PUSTI BALA VARDHANI SVÀHÀ. ‘SRÌYE SVÀHÀ. ‘SRÌYA VARDHANI SVÀHÀ ‘SRÌYA JVALANI SVÀHÀ. NAMUCI SVÀHÀ. MURUCI SVÀHÀ. VEGA VATI SVÀHA.Ø
Phần bên trên là Chú Căn Bản.
* Chú Nhất Thiết Phật Tâm :
- Án, Tát bà đát tha nghiệt đa mộ lật đế. Bạt la phiệt la nghiệt đa bà duệ. Xa ma diễn đổ ma ma tả (Tôi tên là...), tát bà bả bế biều. Sá tất để la bà phiệt đổ. Mâu chi, mâu chi, tỳ mâu chi. Giá lị, giá lị, giá la nễ. Nghiệt đế. Bà đà la nãi. Bộ địa bộ
địa. Bộ đà gia, bộ đà gia. Bột địa lợi, bột địa lam. Tát bà đát tha nghiệt đa hiệt lật đà gia. Thụ sắt lai. Sa ha.
(OM- SARVA TATHÀGATA MÙRTTE PRAVARA GATA BHAYE ‘SAMAYAMTU MAMA SYA (Tôi tên là...) SARVA PÀPE BHYAH SVÀSTIRBHAVATU MUNI MUNI VIMUNI CALE CALE CALANE GATI BHAYA HÀRANI BODHI BODHI BODHIYA BODHIYA BUDHILI BUDHILAM SARVA TATHÀGATA HRDAYA JUSTAI SVÀHÀ).
* Chân Ngôn Nhất Thiết Phật Tâm Ấn :
- Án, Bạt chiết la bạt để. Bạt chiết la bát la để sắt xỉ đa du đề. Đát tha nghiệt đa mẫu đà la. Địa sắt xá na, địa sắt xỉ đế,sa ha.
(OM- VAJRA VATI VAJRA PRATISTITA ‘SUDDHE TATHÀGATA MUDRA ADHISTTANA ADHISTITE SVAHA
* Chú Quán Đảnh :
- Án, Mâu nễ, mâu nễ, mâu nễ phiêt lệ. A tỳ tru giả đô mê. Tát bà đát tha nghiệt đa ma hồng (Tôi tên là….). Tát bà bật tha gia tỳ sái kế. Ma ha bạt chiết la phiệt gia, mẫu đà la, mẫu địa lị để. Đát tha nghiệt đa hiệt lật đà gia. Địa sắt xỉ đa, bạt chiết lệ, sa ha.
(OM- MUNI MUNI MUNI VARE ABHISIMCA TUME SARVA TATHÀGATA MAMAM SARVA VIDYA ABHISEKAI MAHÀ VAJRA KAVACA MUDRA MUDRITEH TATHÀGATA HRDAYA ADHISTITA VAJRE SVÀHÀ).
* Ấn Chú Quán Đảnh :
- Án, A mật lật đa phiệt lệ. Phạ la phạ la. Bát la phạ la tỳ du đề. Hàm hàm. Phấn tra, phấn tra. Sa ha.
(OM- AMRTA VARE VARA VARA PRAVARA VI’SUDDHE HÙM HÙM PHAT PHAT SVÀHÀ).
* Chú Kết Giới :
- Án, A mật lật đa phiệt lệ. Nghiệt bà lạc sát ni. A yết la sa ni. Hàm hàm. Phấn tra, phấn tra. Sa ha.
(OM- AMRTA VARE GARBHA RAKSANI AKARSANI HÙM HÙM PHAT PHAT SVÀHÀ).
* Chú Phật Tâm :
- Án. Tỳ ma lệ. Xà gia phiệt để. A mật lật đế. Hàm hàm hàm hàm. Phấn tra, phấùn tra, phấn tra, phấùn tra, sa ha.
(OM- VIMALE JAYA VATI AMRTE HÙM HÙM HÙM HÙM PHAT PHAT PHAT PHAT SVÀHÀ).
* Chú Tâm Trung Tâm :
- Án, Bạt la bạt la Tâm bạt la Ấn địa lật gia Tỳ du đạt nễ Hàm hàm Tằng lô già lệ Sa ha.
(OM- BHARA BHARA SAMBHARA INDRIYA VI’SODHANE HÙM HÙM KURU CALE SVÀHÀ).
Bấy giờ, Đức Thế Tôn nói Thần Chú này xong, liền bảo Đại Phạm rằng: "Nếu có ai tạm nghe Đà La Ni này thì tất cả mọi tội chướng của kẻ trai lành, người nữ thiện ấy đều được trừ diệt. Nếu hay tụng trì thì nên biết người ấy tức là thân Kim Cang, lửa chẳng thể thiêu đốt được. Này Đại Phạm! Ông nên biết việc này: Tại Đại Thành Ca Tỳ La, lúc Đồng Tử La Hầu La ở trong thai mẹ. Mẹ Ngài tên là Gia Du Đà La vốn là người nữ thuộc dòng tộc Thích Ca. Khi bà tự nhảy vào hầm lửa thì La Hầu La đang nằm trong thai mẹ ghi nhớ Chú này, nên hầm lửa lớn kia liền biến thành ao sen. Đây là do uy lực của Thần Chú này, vì nhân duyên ấy mà lửa chẳng thể thiêu đốt được.”
Đức Phật lại bảo: "Này Đại Phạm! Chất độc chẳng thể hại người trì Chú nầy được. Như ở Thành Thiện Du có người con của vị Trưởng Giả Phong Tài khéo trì tất cả Cấm Chú khác. Khi đang trì Chú lực nhiếp triệu vua Rồng Đức Xoa Ca lại quên Kết Giới. Vị Long Vương ấy giận dữ, nghiến răng gây tổn hại, khiến cho người kia phải chịu đại khổ não. Trong khoảnh khắc, mạng không thể cứu vãn được. Bấy giờ, ở trong Thành có vị Ưu Bà Di (Cận Sự Nữ) tên là Vô Cấu thường trì Thần Chú Tùy Cầu Tức Đắc Đại Tự Tại Đà La Ni này. Vị Ưu Bà Di Vô Cấu ấy khởi Đại Từ Bi, sanh tâm thương xót, liền đi đến nơi đó dùng Chú này cứu chữa. Bà mới tụng Chú một biến, thì chất độc kia liền bị tiêu diệt làm cho người ấy đươc hoàn lại Bổn Tâm. Thời người con của Vị Trưởng Giả ở bên bà Vô Cấu thọ trì Chú này, liền ghi nhớ tại tâm. Vì thế nên biết chất độc chẳng thể hại được.
Lại nữa Đại Phạm! Ở Thành Ba La Nại có vị vua tên là Phạm Thí. Lúc đó, vị vua của nước lân cận có uy lực lớn, khởi 4 loại binh chinh phạt vua Phạm Thí. Khi 4 loại binh vào đến Thành Ba La Nại, thì vua Phạm Thí đã biết rồi. Ngài ban sắc lệnh cho mọi người trong Thành rằng: "Các ngươi đừng sợ hãi ! Ta có Thần Chú tên là Tùy Cầu Tức Đắc Đà La Ni. Thần Chú này có sức mạnh hay đập nát kẻ địch với 4 loại binh". Khi đó, vua Phạm Thí tắm rửa sạch sẽ, mặc áo mới sạch, ghi chép Chú này đeo ở trên thân, rồi lao vào chiến trận. Một mình vua giao tranh với giặc, giáng phục 4 Binh khiến chúng quy hàng. Này Đại Phạm! Nên biết Đại Thần Chú này có uy lực lớn được Như Lai ấn khả, nên thường nhớ niệm. Sau khi Đức Phật nhập diệt thì Chú này rất lợi ích cho chúng sanh.
Lại nữa Đại Phạm! Nếu có người đeo Chú này, nên biết được Như Lai dùng sức thần thông ủng hộ cho người đó. Nên biết người đó là thân Như Lai. Nên biết người đó là thân Kim Cang. Nên biết người đó là thân Như Lai Tạng. Nên biết người đó là con mắt của Như Lai. Nên biết người đó mặc áo giáp Kim Cang. Nên biết người đó là Thân Quang Minh. Nên biết người đó là Thân Bất Hoại. Nên biết người đó hay tồi phục tất cả
oán địch. Nên biết bao nhiêu tội chướng của người đó đều được tiêu diệt. Nên biết Chú nầy hay trừ nạn khổ của Địa Ngục.
Đại Phạm nên biết, có một vị Tỳ Kheo ít tín tâm, đối với Giới của Như Lai có sự khuyết phạm, lại ăn trộm đồ vật của Tăng hiền tiền, Tăng thường trụ, Tăng đi 4 phương mà dùng riêng cho mình. Sau này vị Tỳ Kheo đó bị bệnh nặng, chịu nhiều khổ não. Lúc đó, có một vị Ưu Bà Tắc (Cận Sự Nam) thuộc dòng Bà La Môn khởi lòng Đại Bi, chép Thần Chú này, đeo dưới cổ vị Tỳ Kheo bị bệnh. Khi đeo xong, thì tất cả bệnh khổ thảy đều tiêu diệt. Sau khi hết thọ mạng, vị Tỳ Kheo này bị đọa vào Địa Ngục A Tỳ. Quan tài của vị Tỳ Kheo ấy được đặt trong cái Tháp và để Thần Chú lên trên thi hài. Ngày nay cái Tháp của vị Tỳ Kheo nầy còn tồn tại ở phía Nam của Thành Mãn Túc. Vị Tỳ Kheo này vào Địa Ngục chẳng bao lâu, thì bao nhiêu nỗi đau khổ của các kẻ chịu tội đều được ngừng dứt, các tội nhân đều được an vui, bao nhiêu đám lửa trong Địa Ngục cũng đều tiêu diệt. Khi Ngục Tốt nhìn thấy hiện tượng đó, thì rất kinh ngạc lạ lùng, liền đem việc ấy thưa trình với vua Diêm La. Thời vua Diêm La bảo Ngục Tốt rằng: "Đây là Đại uy đức của Xá Lợi thuộc thân đời trước. Các ngươi có thể đến phía Nam Thành Mãn Túc tìm xem có việc gì ?". Ngục Tốt nhận lệnh đi ngay, đầu đêm đến cái Tháp đó, nhìn thấy cái Tháp tỏa hào quang như đám lửa lớn. Nhìn vào trong Tháp, thì thấy ở trên thi hài của vị Tỳ Kheo có đặt Thần Chú Tùy Cầu Tức Đắc Đại Đà La Ni, lại có chư Thiên vây quanh phòng hộ. Lúc ấy, Ngục Tốt nhìn thấy sức mạnh chẳng thể luận bàn của Chú này, liền đặt tên hiệu cho cái Tháp đó là Tùy Cầu Tức Đắc . Bấy giờ, Ngục Tốt quay trở về trình báo mọi việc đã nhìn thấy cho vua Diêm La. Vị Tỳ Kheo đó nương theo sức mạnh của Chú này, mà tội chướng đều trừ diệt. Liền được sanh về cõi Trời Tam Thập Tam Thiên. Nhân đây, mà vị Trời này có tên là Thiên Tử Tùy Cầu Tức Đắc. Này Đại Phạm! Ông nên biết nếu y theo Pháp viết chép Chú này, đeo giữ trên thân thì thường không có khổ não, được tất cả sự lợi ích và trừ bỏ mọi sự sợ hãi.
Lại nữa Đại Phạm! Như ở trong Thành Tiêu A Ngùy, có vị Trưởng Giả tên là Tỳ Lam Bà. Kho tàng của ông đầy tràn, vàng bạc sung mãn, tiền gạo cực nhiều. Vị Trưởng Giả ấy là một Thương Chủ, ông chèo chiếc thuyền lớn đi vào biển lớn. Ở nơi cái biển lớn ấy, gặp một con cá Đê Di Lê muốn phá hư thuyền. Vị vua Rồng trong biển lại sanh giận dữ, khởi sấm sét lớn, tuôn mưa đá cứng như Kim Cang. Lúc ấy mọi người rất sợ hãi lo lắng. Vị Thương Chủ bảo các Thương Nhân rằng: "Các ông đừng sợ hãi ! Tôi có phương kế quyết định thoát khỏi hiểm nạn này". Chúng Thương Nhân nói:’ Lành thay ! Lành Thay ! “. Bấy giờ Vị Thương Chủ liền đúng như Pháp viết chép Chú này đặt trên đầu cây phướng. Tức thời, con cá kia nhìn thấy chiếc thuyền này có vầng hào quang lớn như đám lửa rực, nên thoái lui. Các hàng Rồng kia cũng nhìn thấy tướng ấy, liền khởi Tâm Từ. Khi ấy, vị Thương Chủ cùng với các Thương nhân sanh tâm cực vui vẻ và đến được nơi cất chứa vật báu.
Vì thế, Đại Phạm! Ông nên chép Chú này đặt trên đầu cây phướng sẽ hay trừ bỏ tất cả trận gió ác, các hiện tượng rét lạnh chẳng đúng thời. Trời chợt nổi mây đen tuôn mưa sương mưa đá …. thảy đều ngừng dứt. Tất cả muỗi mòng, sâu trùng với các loài khác, loài ăn phá lúa mạ tự nhiên sẽ lui tan. Tất cả giống thú ác, loài có nanh bén vuốt nhọn chẳng thể gây hại được. Tất cả lúa mạ, hoa quả, dược thảo đều được tăng trưởng. Quả trái
có vị ngon ngọt, chín mùi đúng theo thời. Các hàng Long Vương giáng mua đúng thời tiết.
Lại nữa Đại Phạm! Nếu có người nhiều mong cầu, thì cần phải như Pháp viết chép Chú này, ắt mọi điều cầu nguyện đều được thành tựu. Cầu con trai được con trai, cầu con gái được con gái, khéo giữ gìn bào thai, đứa con trong thai được an ổn, đủ ngày đủ tháng sanh sản an vui. Đại Phạm nên biết, ở nườc Ma Già Đà có vị vua tên là Từ Mẫn Thủ. Lúc mới sanh ra, vị vua này duỗi bàn tay phải nắm lấy vú mẹ thì hai bầu vú của mẹ biến thành màu vàng ròng và tự tuôn chảy sữa. Ở trong bàn tay của vị vua đó lại tuôn ra vô lượng châu báu ban cho các chúng sanh. Do nhân duyên đó, mà vị vua ấy có tên là Từ Mẫn Thủ. Vị vua không có con, vì muốn cầu con nên vua thiết lập Hội Thí to lớn cúng dường chư Phật và các Tháp Miếu, nhưng chẳng được như nguyện. Sau đó, trong đêm vị vua nằm mộng thấy Thiên Chủ Tịnh Cư đến bảo rằng: "Đại Vương nên biết, có Đại Thần Chú tên là Tùy Cầu Tức Đắc. Đại Vương nên như Pháp viết chép rồi cho Đại Phu Nhân đeo dưới cổ, ắt sẽ có con". Lúc tỉnh giấc, vị vua chờ đến sáng sớm, liền như Pháp viết chép Đại Thần Chú này và cho Phu Nhân đeo vào cổ. Tức thời bà có thai, đủ ngày đủ tháng sanh ra một đồng tử có đầy đủ sắc tướng, uy nghiêm thù thắng, ai nhìn thấy cũng đều vui vẻ. Đại Phạm nên biết, Thần Chú này có sức mạnh khiến cho mọi sự nguyện cầu đều được vừa ý.
Lại nầy Đại Phạm! Lúc đánh nhau với A Tu La, Vị Thiên Vương Đế Thích đeo Thần Chú này, nên chúng Thiên Đế Thích chẳng bị thương hại, thường được thắng lợi, quay về cung an ổn.
Lại nữa Đại Phạm! Nếu có người đeo Thần Chú này trên thân, thì tất cả Chư Phật đều dùng Thần Lực gia trì và người ấy được các Bồ Tát khen ngợi. Ở tất cả nơi, tất cả chỗ tranh tụng, luận bàn tranh cãi đều được chiến thắng, thường không có bệnh tật, tất cả tai nạn thình lình chẳng thể hại được, tâm không có lo âu phiền muộn, luôn được chư Thiên ủng hộ.
Nếu ai viết chép 8 Đạo Chú này đeo giữ, tâm thường nhớ niệm thì tất cả mộng ác, tướng ác, việc chẳng kiết tường chẳng thể phạm vào thân. Thần Chú Tùy Cầu Tức Đắc Đà La Ni này được 99 ức trăm ngàn Na do tha Hằng hà sa Phật đẳng cùng tuyên nói, cùng nhau khen ngợi, cùng chung hoan hỷ. Chú này có thế lực lớn, có đại uy quang, có công dụng lớn, hàng phục tất cả chúng Ma, rất khó gặp được Đại Thần Chú này.
Lại nữa Đại Phạm! Thời quá khứ có Đức Phật tên là Như Lai Khai Nhan Hàm Tiếu Ma Ni Kim Bảo Hách Dịch Quang Minh Xuất Hiện Vương, ngồi trên Tòa Kim Cang tại Bồ Đề trường. Lúc mới thành Chánh Giác, thì có vô lượng vô số Ma với các quyến thuộc đến chỗ Phật ngự, hiện các Thần lực gây các chướng nạn, hiện các tướng ác, tạo hình sân nộ, tuôn mưa khí trượng (Vũ khí, đao, gậy….). Bấy giờ, Đức Thế Tôn điềm nhiên ngồi yên dùng Căn Lực Từ Thiện nhớ niệm Chú này. Vừa mới nhớ niệm xong, thì các Ma Chúng nhìn thấy ở trong từng lỗ chân lông của Đức Thế Tôn tuôn ra trăm ngàn vạn ức Binh Chúng, thân măïc áo giáp, phóng ánh sáng lớn, du hành tự tại trên hư không, tức thì các Ma Chúng bị mất thần thông, phải bỏ chạy tứ tán.
Lại nữa Đại Phạm! Ở Thành Ô Thiền Na có vị vua tên là Phạm Thí. Thuở ấy, có một người vì mạo phạm đến nhà vua nên bị xử tội chết. Vị vua ban lệnh đem tội nhân vào trong núi xử tử. Lúc Đao Phủ vung đao tính chém, nhưng vì trước kia tội nhân ấy có đeo Chú này ở cánh tay phải, do sức mạnh của Chú này mà cây đao bị bốc lửa, tự nhiên tan hoại như bụi nhỏ. Vị Pháp Quan nhìn thấy hiện tượng chưa từng có, nên lấy làm quái lạ liền đến tâu với vua, trình tấu mọi việc. Vị Vua bảo Pháp Quan rằng: "Ở trong núi ấy có hang Dạ Xoa, trong hang đó có vô lượng Dạ Xoa trú ngụ. Ngươi có thể đưa tội nhân vào trong hang ấy". Vị Pháp Quan vâng theo lời dạy, đem tội nhân đến hang. Khi các Dạ Xoa đi đến muốn ăn thịt. Do uy lực của Chú này, nên nhóm Dạ Xoa nhìn thấy thân thể của người đó tỏa ra ánh sáng rực rỡ, thời các Dạ Xoa liền đưa Tội nhân này ra bên ngoài hang động và cung kính lễ bái. Khi ấy, vị Pháp Quan lại đem việc này trình tấu đầy đủ với nhà vua. Đức vua lại bảo: "Hãy đem tội nhân này ném xuống sông lớn". Vị Pháp Quan vâng lệnh, ném người ấy xuống sông, nhưng tội nhân ấy chẳng bị nước nhận chìm, tựa như có mặt đất che phủ trên nước. Vị Pháp Quan lại đem việc ấy khải tấu với Đại Vương. Đức vua rất kinh ngạc, liền kêu tội nhân lên hỏi: "Ngươi dùng điều gì mà có thể thoát được nạn như vậy?". Tội nhân đáp : "Tâu Đại Vương ! Thần không có cách nào để thoát khỏi nạn, duy chỉ nhờ trên thân có đeo Thần Chú Tùy Cầu Tức Đắc Đại Tự Tại Đà La Ni thôi". Đức vua nghe xong lấy làm lạ lùng, khen ngợi vô cùng".
Đức Phật bảo: "Này Đại Phạm ! Như các việc đã nói như trên, ông có thể biết về uy lực của Thần Chú đó. Vì thế, Ông nên viết chép đeo giữ trên Thân. Này Đại Phạm! Lại nếu có người muốn đeo Chú này, thì nên y như Pháp mà viết chép".
Bấy giờ, Đại Phạm bạch với Đức Phật rằng: " Bạch Thế Tôn! Nếu muốn viết chép Chú này, thì phải làm theo phép tắc nào ? ".
Đức Phật bảo: " Này Đại Phạm! Trước tiên nên kết Đàn. Ở dưới đất, đặt một cái bình chứa đầy nước thơm. Bên trong Đàn vẽ làm hai hoa sen, hoặc 3 hoặc 4 hoặc 5 đóa sen. Bốn mặt chung quanh đều tạo râu nhụy hoa sen. Lại làm một đóa sen hé nở lớn, cuối thân hoa treo lụa đẹp. Lại làm một hoa sen 8 cánh, trên mỗi cánh hoa làm một cây kích Tam Xoa, trên thân hoa treo lụa đẹp.
Lại làm một hoa sen 8 cánh, ở giữa tâm hoa làm một cái chày Kim Cang, trên mỗi cánh hoa cũng làm một cái chày, cuối thân hoa treo lụa đẹp.
Lại làm một hoa sen 8 cánh, mỗi cánh hoa đều làm một cây búa. Lại làm một hoa sen, ở trong tâm hoa vẽ làm một cây đao, thân hoa cũng vẽ treo lụa đẹp. Lại vẽ làm một cây kiếm, ở trên vỏ kiếm vẽ hoa, trên cuối thân hoa cũng treo lụa đẹp.
Lại làm một hoa sen, ở trong tâm hoa vẽ làm một vỏ ốc (Loa). Lại làm một hoa sen, ở trong tâm hoa vẽ làm một sợi dây lớn (Quyến sách). Lại làm một hoa sen, ở trong tâm hoa vẽ làm một trái châu rực lửa (Hỏa Diễm Châu).
Sau dó đốt hương, rải hoa, dâng thức ăn uống quả trái, mọi loại cúng dường. Nếu có người muốn vẽ chép đeo Chú này, cần phải y theo Pháp vẽ kết Đàn như vậy; còn các phương pháp của Đàn khác chẳng được xen lẫn vào. Sai người viết Chú, trước tiên phải
tắm gội sạch sẽ, mặc áo mới sạch, ăn 3 loại Bạch thực là: Sữa, lạc (bơ), cơm trắng. Không cứ là giấy, lụa, trúc, vải, các vật… mỗi loại đều được phép dùng để viết chép Chú này.
Nếu có phụ nữ cầu sanh con trai, thì dùng Ngưu Hoàng vẽ chép trên lọng. Trước tiên, mặt 4 hướng vẽ Thần Chú này, bên trong vẽ một Đồng Tử có báu lưu ly trang nghiêm cổ, tay nâng một cái bát bằng vàng chứa đầy châu báu. Lại ở 4 góc đều vẽ một thân Đồng Tử mặc áo giáp.
Lại làm mọi loại Ấn cho người đeo Chú này: Nếu là Chuyển Luân Vương thì ở trung tâm của Chú, vẽ hình Bồ Tát Quán Thế Âm với hình Đế Thích. Lại ở bên trên, vẽ mọi loại Ấn của Phật, cùng các Ấn Thiện Thần thảy khiến cho đầy đủ. Lại ở 4 góc vẽ 4 Vị Thiên Vương với mọi báu trang nghiêm, đều y theo Bổn phương (Phương vị của mỗi Tôn).
Nếu vị Tăng đeo Chú này, thì ở trung tâm của Chú, vẽ một vị Thần Kim Cang với mọi báu trang nghiêm. Bên dưới, vẽ một vị Tăng chắp tay quỳ dài. Vị Thần Kim Cang duỗi tay án trên đỉnh đầu Vị Tăng này.
Nếu Bà La Môn đeo Chú này, thì ở trung tâm của Chú vẽ Đại Tự Tại Thiên. Nếu Sát Lợi đeo Chú này, thì ở trung tâm của Chú vẽ Ma Hê Thủ La Thiên. Nếu Tỳ Xá đeo Chú này, thì ở trung tâm của Chú vẽ Tỳ Sa Môn Thiên Vương. Nếu Thủ Đà đeo Chú này, thì ở trung tâm của Chú vẽ Chước Yết La Thiên. Nếu đồng nam đeo Chú này, thì ở trung tâm của Chú vẽ Câu Ma La Thiên. Nếu đồng nữ đeo Chú này, thì ở trung tâm của Chú vẽ Ba Xà Ba Đề Thiên.
Từ đây trở lên là nghi tắc của người đeo Chú. Ở trung tâm của Chú, vẽ các Thiên Thần đều có hình trạng thiếu niên có diện mạo vui tươi. Nếu có người muốn trì đeo Thần Chú này, đều tự mình phải mỗi mỗi y theo Bổn Pháp.
Nếu phụ nữ mang thai đeo Chú này thì ở trung tâm của Chú vẽ Ma Ha Ca La Thiên với khuôn mặt màu đen. Nếu có người treo Chú này trên cây phướng cao, thì nên dựng ở nơi núi cao, ở trên đầu cây phướng đặt một trái Hỏa Diễm Châu, lại đặt Thần Chú này ở bên trong trái châu ấy, thì hết thảy ác chướng ngại cùng các bệnh tật đều được tiêu diệt.
Nếu gặp lúc nắng hạn, thì ở trung tâm của Chú vẽ một con rồng 9 đầu. Nếu lúc mưa quá nhiều, cũng vẽ con Rồng 9 đầu này và nên đặt trong nước có Rồng, ắt nắng hạn sẽ tuôn mưa, còn lúc mưa quá nhiều sẽ được quang tạnh ngay.
Nếu Thương nhân đeo Thần Chú này, thì ở trung tâm của Chú vẽ hình Thương Chủ với các Thương chúng đi theo, ắt đều được an vui.
Người trì Chú này, tự mình muốn đeo thì ở trung tâm của Chú, vẽ một Nữ Thiên, lại ở bên trong vẽ các vì sao (Tinh Thần) mặt trời, mặt trăng. Nếu phàm nhân đeo Chú này, thì chỉ nên viết chép Thần Chú để đeo mà thôi".
Đức Phật lại bảo: "Này Đại Phạm! Nếu các ngươi hay như Pháp viết chép, trì đeo thì thường được an vui… Bao nhiêu việc đã làm, đều được thành tựu. Đời này an vui, đời sau sanh lên cõi Trời, bao nhiêu tội chướng đều được tiêu diệt. Người thường thọ trì luôn được Chư Phật, Bồ Tát hộ niệm. Ở trong giấc mộng thường được thấy Phật, cũng được mọi người tôn kính. Ông nên thọ trì, khiến cho lưu bố rộng rãi".
Đức Phật nói Kinh này xong, thì Thiên Vuong Đại Phạm nghe được những điều Phật dạy, tâm rất vui vẻ, tin nhận phụng hành.
NGHI QUỸ KIM CƯƠNG ĐẢNH DU GIÀ TỐI THẮNG BÍ MẬT THÀNH PHẬT TÙY CẦU TỨC ĐẮC THẦN BIẾN GIA
TRÌ THÀNH TỰU ĐÀ LA NI
Mật Tạng Bộ 3 No.1155 (Tr.644 - Tr. 649)
Chùa Đại Hưng Thiện, Tam Tạng Sa Môn Đại Quảng Trí Bất Không phụng chiếu dịch Phạn ra Hán văn.
Việt dịch : Huyền Thanh
Bấy giờ Bồ Tát Diệt Ác Thú ở trong Đại Tập Hội của Đức Phật Tỳ Lô Giá Na từ chỗ ngồi đứng dậy chắp tay bạch Phật rằng: "Bạch Thế Tôn ! Con vì chúng sanh trong nẻo ác của Thế giới tạp nhiễm thuộc thời Mạt Pháp ngày sau, mà nói Đà La Ni Diệt Tội Thành Phật, tu 3 Mật Môn, chứng Niệm Phật Tam Muội được sanh về Tịnh Thổ, và dùng phương tiện nào để cứu khổ ban vui cho chúng sanh bị tội nặng. Con muốn cứu tế khổ não cho tất cả chúng sanh".
Khi đó, Đức Phật bảo Bồ Tát Diệt Ác Thú rằng: "Đối với chúng sanh không biết sám hối, không biết xấu hổ, tà kiến, buông lung thì không có Pháp cứu tế. Lúc chết thì họ bị đọa vào Địa Ngục Vô Gián, chẳng được nghe tên của Tam Bảo. Huống nữa, chẳng được nhìn thấy Phật, thì làm sao mà có được thân người ? ".
Bồ Tát Diệt Ác Thú lại bạch rằng: "Phương tiện của Đức Như Lai chẳng thể tính được và Thần Lực của Đức Như Lai vô tận. Nguyện xin Đức Thế Tôn nói Pháp bí mật để
cứu khổ. Đức Phật là cha mẹ của tất cả chúng sanh. Xin hãy vì chúng sanh trong cõi Ngũ Trược mà nói Pháp Quyết định thành Phật ".
Đức Phật bảo Bồ Tát Diệt Ác Thú rằng: "Ta có Pháp bí mật, rất hiếm có trên đời, là Pháp tối thắng bậc nhất để diệt tội thành Phật : Pháp đó tên là Chân Ngôn Tùy Cầu Tức Đắc. Nếu có người mới nghe qua đề danh của Chân Ngôn này hoặc gần gũi người tụng Đề Danh, hoặc ở cùng một nơi với người tụng Đề Danh, thì người ấy đều được tất cả hàng Thiên Ma, Ác Quỷ, tất cả Thiện Thần Vương đi đến ủng hộ. Giả sử người đó ăn ngũ tân, giết hại cá, hoặc dâm dục với chị em hay tất cả súc sanh nữ thì các Tỳ Na Dạ Ca cũng chẳng thể gây chướng ngại, mà đều tùy thuận, ngày đêm thủ hộ, dứt trừ tai nạn, khiến được an ổn huống chi tự mình niệm tụng. Nếu tụng đầy đủ thì tất cả tội nặng đều được tiêu diệt, được vô lượng phước đức. Khi chết quyết sanh về Thế Giới Cực Lạc. Tuy đã gây ra tội cực nặng cũng chẳng bị đọa vào Địa Ngục. Nếu giết hại cha mẹ, giết bậc A La Hán, phá sự hòa hợp của chư Tăng, làm cho thân Phật chảy máu, thiêu đốt Kinh Tượng, làm ô uế chốn Già Lam, chê bai mọi người, khinh chê các lời dạy, khen mình chê người. Dù đã gây ra các tội như vậy, vẫn quyết định sanh về cõi Cực Lạc, tự được Thượng Phẩm, hóa sanh trong hoa sen, chẳng còn sanh trong bào thai. Có điều người mau thành Phật, vì trước kia đã từng nghe Chân Ngôn này, còn người chậm thành Phật, vì đời đời chẳng được nghe Chân Ngôn này.
Nếu người Nam, người Nữ, Đồng Nam, Đông Nữ trì Đề Danh của Chân Ngôn này sẽ được an vui, không có các bệnh tật, sắc tướng đầy đủ sự rực rỡ, được thành tựu tất cả Chân Ngôn Pháp. Nếu đem Đề Danh của Chân Ngôn này, hoặc 1 chữ, 2 chữ cho đến 10 chữ hoặc đem 1 câu, 2 câu cho đến 10 câu cùng một biến của Chân Ngôn, để vào trong ngọc, vàng, bạc, lưu ly rồi đeo nơi thân, thì người ấy tuy chưa vào Đàn liền thành người đã vào tất cả Đàn, thành kẻ đồng hạnh với người đã vào Đàn, ngang bằng với chư Phật không khác, chẳng có mộng ác, tội nặng được tiêu diệt. Nếu kẻ có tâm ác hướng tới người ấy, thì cũng chẳng làm hại được, tất cả việc làm đều thành tựu."
Đức Phật liền nói Phổ Biến Diễm Man Thanh Tịnh Xí Thạnh Tư Duy Bảo Ấn Tâm, Vô Năng Thắng Tổng Trì Đại Tùy Cầu Đà La Ni rằng:
- Nẵng mạc tát phộc đát tha nghiệt đá nam. (NAMAH SARVA TATHÀGATÀNÀM : Quy mạng Thân Khẩu Ý của Phật Tỳ Lô Giá Na tràn đầy khắp hư không, diễn nói Giáo pháp thâm sâu về ba Mật Môn, Kim Cang Nhất Thừa của Như Lai).
- Nẵng mô nẵng mạc tát phạ một đà mạo địa tát đát-phạ tỳ-dược. (NAMO NAMAH SARVA BUDDHA BODHISATVE BHYAH : Quy mạng Tâm Bổn Giác, Pháp Thân Thường Trụ, Pháp màu nhiệm của Đài Sen Tâm, Đức trang nghiêm bổn lai của Ba Thân, Trụ Tâm của 37 Tôn thành Pháp Nhiên của Phổ Môn trần số Chư Tam Muội xa lìa Nhân Quả, vốn đầy đủ vô biên biển Đức. Con xin quay về đảnh lễ Tâm chư Phật).
- Một đà đạt ma tăng chi tỳ-dược (BUDDHA DHARMA SAMGHE BHYAH : Nam mô Bồ Tát Diệt Ác Thú, Bậc cứu khổ ban vui cho hữu tình trong Tam Đồ và khiến cho chúng sanh trong Pháp Giới lìa khổ được vui).
- Đát nhĩ-dã tha (TADYATHA : Lời nói).
- Án, vĩ bổ lã nghiệt bệ (OM- VIPULA GARBHE : Bốn Ân trong quá khứ thành Phật Đạo).
- Vĩ bổ la vĩ ma leâ (VIPULA VIMALE : Tất cả chúng sanh diệt tội)
- Nhạ dã nghiệt bệ (JAYA GARBHE : Tất cả chúng sanh ban Báu Như Ý).
- Phạ nhật-la nhập-phạ la nghiệt bệ (VAJRA JVALA GARBHE: Tất cả chúng sanh đoạn trừ phiền não).
- Nga để nga ha ninh (GATI GAHANE : Tất cả chúng sanh thành tựu sự mong cầu).
- Nga nga nẵng vĩ thú đạt ninh (GAGANA VI’SODHANE : Tất cả chúng sanh từ bi che chở giúp đỡ).
- Án, tát phạ bá bả vĩ thú đạt ninh (OM- SARVA PÀPA VI’SODHANE : Tất cả chúng sanh trong Thế giới không có Phật từ bi che chở giúp đỡ).
- Án, ngu lỗ noa phạ để nga nga lị ni (OM- GUNA VATI GAGARINI : Tất cả chúng sanh cắt đứt sự khổ sanh trong thai bào)
- Nghĩ lị, nghĩ lị nghiêm ma lị nghiêm ma lị (GIRI GIRI GAMÀRI GAMÀRI : Tất cả chúng sanh được ban bố thức ăn uống).
- Ngược hạ ngược hạ (GAHA GAHA : Tất cả chúng sanh được ban bố quần áo).
- Nghiệt nga lị nghiệt nga lị (GARGÀRI GARGÀRI : Tất cả chúng sanh khiến cho mãn Chúng Sanh Ba La Mật).
- Nghiêm ba lị nghiêm ba lị (GAMBHARI GAMBHARI : Tất cả chúng sanh mãn Nhẫn Nhục Ba La Mật).
- Nga để nga để nga nga nãnh nga lệ (GATI GATI GAGANA GARE : Tất cả chúng sanh mãn Tinh Tấn Ba La Mật)
- Ngu lỗ ngu lỗ ni (GÙRU GÙRUNE : Tất cả chúng sanh mãn Thiền Ba La Mật).
- Tả lê, a tả lê (CALE ACALE : Tất cả chúng sanh mãn Tuệ Ba La Mật).
- Mẫu tả lê, nhạ duệ vĩ nhạ duệ (MUCALE JAYE VIJAYE : Tất cả chúng sanh mãn Phương Tiện Ba La Mật).
- Tát phạ bà dã vĩ nga đế nghiệt bà tam bà la ni (SARVA BHAYA VIGATE GARBHA SAMBHARANI : Tất cả chúng sanh mãn Nguyện Ba La Mật).
- Tất lị tất lị nhĩ lị kỳ lị kỳ lị tam mãn đá ca la-sái ni (SIRI SIRI MIRI GHIRI GHIRI SAMANTA AKARSANI : Tất cả chúng sanh mãn Lực Ba La Mật).
- Tát phạ thiết đốt-lỗ bát-la mạt tha nãnh (SARVA ‘SATRÙ PRAMATHANI : Tất cả chúng sanh mãn Trí Ba La Mật).
- La khất-sái, la khất-sái (RAKSA RAKSA : Thành tựu)
- Ma ma (MAMA : Cứu cánh)
- Tát phạ tát đát-phạ nan tả (SARVA SATVÀNÀMÏ CA : Tất cả chúng sanh hợp ly oán).
- Vĩ lị vĩ lị vĩ nga đá phạ la noa ba dã nẵng xả nãnh (VIRI VIRI VIGATA AVARANI BHAYA NÀ’SANI : Tất cả chúng sanh khéo xa lìa Tham, Si).
- Tô lị tô lị tức lị kiếm ma lê (SURI SURI CILI KAMALE : Tất cả chúng sanh khéo xa lìa Tâm ngu si).
- Vĩ ma lê (VIMALE : Tất cả chúng sanh khéo xa lìa nạn khổ về ăn uống)
- Nhạ duệ nhạ dã phộc hề nhạ dạ (JAYE JAYAVAHE JAYA Tất cả chúng sanh khéo xa lìa nạn khổ về nước).
- Phạ để bà nga phạ để (VATI BHAGAVATI : Tất cả chúng sanh khéo xa lìa nạn khổ về lửa)
- La đát-nẵng ma củ tra ma la đà lị ni, phạ hộ vĩ vĩ đà tức đát-la (RATNA MAKUTA MÀLÀ DHÀRANI BAHU VIVIDHA CITRA Tất cả chúng sanh khéo xa lìa sự sợ hãi về giặc cướp binh lính).
- Phệ sái lỗ bả đà lị bà nga phạ để ma hạ vĩ nhĩ-dã nễ vĩ (VESA RÙPA DHÀRI BHAGAVATI MAHÀ VIDYA DEVI : Tất cả chúng sanh an ổn thân tâm).
- La khất-sái, la khất-sái (RAKSA RAKSA : Thành tựu)
- Ma ma (MAMA : Cứu cánh)
- Tát phạ tát đát-phạ nan tả (SARVA SATVÀNÀM CA : Tất cả chúng sanh khiến cho cha mẹ đời qúa khứ thành Phật).
- Tam mãn đá tát phạ đát-la (SAMANTA SARVATRÀ : Tất cả chúng sanh khiến cho cha mẹ trong 7 đời thành tựu)
- Tát phạ bá bả vĩ thú đà nãnh (SARVA PÀPA VI’SODHANE : Tất cả chúng sanh khiến cho cha mẹ vĩnh viễn cắt đứt sự khổ về sinh tử).
- Hộ lỗ hộ lỗ (HURU HURU : Tất cả chúng sanh khiến cho cha mẹ trường thọ).
- Nhược khất-sái đát-la (NAKSATRA : Tất cả chúng sanh không có bệnh hoạn).
- Ma la đà lị ni (MÀLÀ DHÀRANI : Tất cả chúng sanh khiến cho phát Tâm Bồ Đề).
- La khất-sái, la khất-sái (RAKSA RAKSA : Thành tựu)
- Ma ma (MAMA : Cứu cánh)
- A nẵng tha tả đát-la noa bả la dã noa tả (ÀNATHA SYA ATRANA PARÀYANA SYA : Diệt tội sát sanh).
- Bả lị mô tả dã minh tát phạ nậu khế tỳ-dược tán ni (PARIMOCA YA ME SARVA DUHKHE BHYAH CANDI : Diệt tội trộm cắp)
- Tán ni tán ni nãnh phệ nga phạ để (CANDI CANDINI VEGA VATI : Diệt tội dâmdục)
- Tát phạ nột sắt-tra nãnh phạ la ni thiết đốt-lỗ bạc khất-sái bát-la mạt tha nãnh vĩ nhạ dã phạ tứ nãnh (SARVA DUSTA NIVARANI ‘SATRÙ PAKSA PRAMATHANI VIJAYA VÀHANI : Diệt tội nói dối)
- Hộ lỗ hộ lỗ (HURU HURU : Diệt tội buôn bán rượu)
- Tổ lỗ tổ lỗ (CURU CURU : Diệt tội khen mình chê người)
- A dục bá la nãnh tô la phạ la mạt tha nãnh (AYUH PÀLANI SURA VARA MATHANI : Diệt tội tham lam keo kiệt)
- Tát phạ nễ phạ đá bố tư đế (SARVA DEVATA PÙJITE : Diệt tội giận dữ)
- Địa lị địa lị (DHIRI DHIRI : Diệt tội phỉ báng)
- Tam mãn đá phạ lộ chỉ đế (SAMANTA AVALOKITE : Diệt tội uống rượu)
- Bát-la bệ bát-la bệ (PRABHE PRABHE : Diệt tội ăn Ngũ Tân)
- Tố bát-la bà vĩ thuấn đệ (SUPRABHA VI’SUDDHE : Diệt tội hại chim cá để ăn thịt)
- Tát phạ bá bả vĩ thú đà ninh (SARVA PÀPA VI’SODHANE : Diệt tội Phá Giới, làm cho đầy đủ Giới)
- Đạt la đạt la đạt la ni , đạt la đạt lệ (DHARA DHARA DHARANI DHARA DHARE : Diệt tội chẳng dậy dỗ)
- Tô mẫu tô mẫu (SUMU SUMU : Diệt tội 3 Độc).
- Lỗ lỗ tả lê (RURU CALE : Diệt tội 3 Lậu)
- Tả la dã nộ sắt-kham bố la dã (CALÀYA DUSTAM PÙRAYA : Diệt tội của 3 điều không thật)
- Minh a thiêm (ME À’SAM : Diệt tội của 3 cõi " Tam Hữu")
- Thất-lị phạ bổ đà nan nhạ dã kiếm ma lê (‘SRÌ VAPUDHANAMÏ JAYA KAMALE : Diệt tội 4 Thức Trụ)
- Khất-sử ni, khất-sử ni (KSINI KSINI : Diệt tội 4 Lưu)
- Phạ la nễ phạ la năng củ thế (VARADE VARADA ANÕKU’SE : Diệt tội 4 Thủ)
- Án bát nột-ma vĩ thuấn đệ (OM- PADMA VI’SUDDHE : Diệt tội 4 Báo)
- Thú đà dã thú đà dã vĩ thuấn đệ (‘SODHAYA ‘SODHAYA VI’SUDDHE : Diệt tội 4 Duyên)
- Bả la bả la (BHARA BHARA : Diệt tội 4 Đại)
- Tị lị tị lị (BHIRI BHIRI : Diệt tội về 4 sự cột trói)
- Bộ lỗ bộ lỗ (BHURU BHURU : Diệt tội về 4 cách ăn " Tứ Thực")
-Mộng nga la vĩ thuấn đệ (MAMGALA VI’SUDDHE : Diệt tội 4 Sanh)
- Bả vĩ đát-la mục khí (PAVITRA MUKHI : Diệt tội 5 Trụ Địa)
- Khát nghĩ ni, khát nghĩ ni (KHARGANI KHARGANI : Diệt tội 5 Thọ Căn)
- Khứ la khứ la (KHARA KHARA : Diệt tội 5 Uẩn)
- Nhập-phạ lị đa thủy lệ (JVALITA ‘SIRE : Diệt tội 5 Kiêu)
- Tam mãn đa bát-la sa lị đá (SAMANTA PRASARITA : Diệt tội 5 Kiến)
- Phạ bà tất đa thuấn đệ (VABHASITA ‘SUDDHE: Diệt tội 5 Tâm - Nhập-phạ la, nhập-phạ la (JVALA JVALA : Diệt tội 5 tình căn) - Tát phạ nễ phạ nga noa (SARVA DEVAGANA : Diệt tội 6 Thức)
- Tam ma ca la-sái ni (SAMA AKARSANI: Diệt tội 6 Tướng)
- Tát để-dã phạ đế (SATYA VATI : Diệt tội 6 Ái)
- Đa la (TARA : Diệt tội 6 Hành)
- Đá la dã hàm (TÀRÀYA MAM : Diệt tội 6 Ái)
- Nẵng nga vĩ lộ chỉ đế la hộ la hộ (NÀGAVILOKITE LAHU LAHU : Diệt tội 6 Nghi)
- Hộ nỗ hộ nỗ (HUNU HUNU : Diệt tội 7 Lậu)
- Khất-sử ni, khất-sử ni (KSINI KSINI : Diệt tội 7 Nghi)
- Tát phạ ngật-la hạ bạc khất-sái ni (SARVA GRAHA BHAKSANI Diệt tội 8 Đảo)
- Băng nghiệt lị, băng nghiệt lị (PIMGALI PIMGALI : Diệt tôïi 8 Khổ).
- Tổ mẫu tổ mẫu, tố mẫu tố mẫu (CUMU CUMU, SUMU SUMU Diệt tội 8 Cấu)
- Tố vĩ tả lệ (CUVI CARE : Diệt tội 9 Não)
- Đa la đa la, nẵng nga vĩ lộ chỉ nãnh (TARA TARA NÀGA VILOKINA : Diệt tội 9 Trị)
- Đá la dã dổ hàm (TÀRÀYA TUMAM : Diệt tội 9 Duyên)
- Bà nga phạ để (BHAGAVATI : Diệt tội 10 Phiền Não)
- A sắt-tra ma ha đát lỗ ná bà duệ tỳ-dược (ASTA MAHÀ DÀRUNE BHAYE BHYAH : Diệt tội 10 sự cột trói)
- Tam mẫu nại-la sa nga la (SAMUDRA SÀGARA : Diệt tội 11 Biến Sử)
- Bát lị-diễn đảm (PRATYANTÀM : Diệt tội 10 Tri Kiến)
- Bát đá la nga nga nẵng đát lam (PÀTÀLA GAGANA TALAM : Diệt tội 18 Giới)
- Tát phạ đát-la tam mãn đế nẵng (SARVATRÀ SAMANTENA : 25 Ngã)
- Trị xả mãn đệ nẵng phạ nhật-la bát-la ca la (DI’SA BANDHENA VAJRA PRÀKÀRA : 60 Cảnh)
- Phạ nhật-la bá xả, mãn diên ninh nẵng (VAJRA PÀ’SA BANDHANE : Kiến đế tư duy 98 Sử, 108 Phiền Não)
- Phạ nhật-la nhập-phạ la vĩ thuấn đệ (VAJRA JVALA VI’SUDDHE : 2 Tuệ Minh, 3 Tân Lãng)
- Bộ lị bộ li (BHURI BHURI : Quảng 4 Đẳng Tâm = Tâm của 4 nhóm rộng rãi)
- Nghiệt bệ phạ để (GARBHE VATI : 20 Trụ Khí)
- Tát bà vĩ thú đà nãnh (GARBHA VI’SODHANE : Diệt 4 nẻo Ác , được 4 Vô úy)
- Cộc khất-sử tam bố la ni (KUKSI SAMPÙRANI : Độ 5 Đạo)
- Nhập-phạ la. Nhập-phạ la (JVALA JVALA : Ủng hộ 5 Căn)
- Tả la tả la (CALA CALA : Tịnh 5 Căn)
- Nhập-phạ lị nãnh (JVALINI : Thành 5 Phần)
- Bát-la vạt sái đổ nễ phạ (PRAVASATU DEVA : Đầy đủ 6 Thần Thông)
- Tam mãn đế nẵng (SAMANTENA : Mãn túc Nghiệp của 6 Độ)
- Nễ nhĩ-dữu ná kế nẵng (DIDHYODAKENA : Chẳng trái ngược 6 Trần Hoặc)
- A mật-lật đa phạ la-sái ni (AMRTA VARSANI : Thường hành Diệu Hạnh)
- Nễ phạ đá phạ đá la ni (DEVA DEVA DHÀRANI : Đời đời kiếp kiếp trụ 7 Tịnh Hoa)
- A tị tru tả đổ minh tô nga đa phạ la phạ tả nẵng (ABHISIMCA TUME SUGATA VARA VACANA : 8 loại nước tẩy rửa bụi trần)
- A mật lật đa phạ la phạ bổ sái (AMRTA VARA VAPUSPE : Thấy 9 Đoạn Trí)
- La khất-sái, la khất-sái (RAKSA RAKSA : Thành tựu)
- Ma ma (MAMA : Cứu cánh)
- Tát phạ tát đát-phạ nan tả (SARVA SATVÀNÀM CA : Thành Hạnh Hạ Địa)
- Tát phạ đát-la tát phạ ná (SARVATRÀ SARVADÀ : 11 Không Giải, thường dùng để trụ Tâm Tự Tại)
- Tát phạ bà duệ tỳ-dược (SARVA BHAYE BHYAH : Hay chuyển Trung Nhị Hạnh Luân)
- Tát mạo bát nại-la phệ tỳ-dược (SARVOPRAVE BHYAH : Đầy đủ 18 Pháp Bất Cộng)
- Tát mạo bả dược nghe tỳ-dược (SARVOPASARGE BHYAH : Viên mãn vô lượng tất cả Công Đức)
- Tát phạ nộ sắt-tra bà dã tị đát tả (SARVA DUSTA BHAYA BHÌTA SYA : Đời đời kiếp kiếp cắt đứt Chướng của sự Kiêu Mạn - Tát phạ ca lị ca la ha (SARVA KÀLI KALAHA : Làm khô cạn dòng nước Aùi Dục )
- Vĩ tát-la hạ vĩ phạ ná (VIGRAHA VIVÀDA : Diệt ngọn lửa giận dữ)
- Nộ sa-phạ bả-nan nột la nãnh nhĩ đá mộng nghiệt-lý dã lô già dã bả vĩ nẵng xả nãnh (DUHSVAPNÀM DURNI MINTA AMAMGALLYA PÀPA VINA’SANI: Vĩnh viễn nhổ, cắt hết Si tưởng)
- Tát phạ dược khất-xoa, la khất-xoa sa (SARVA YAKSA RAKSASA : xé nát cái lưới của Kiến).
- Nẵng nga nãnh phạ la ni (NÀGA NIVARANI : Khéo tu Đạo bền chắc của con người)
- Tát la ni tát lệ ma la ma la ma la phạ để (SARANI SARE BALA BALA BALAVATI : Chính hướng Bồ Đề)
- Nhạ dã nhạ dã nhạ dã đổ hàm (JAYA JAYA JAYA TUMAM : Thành tựu Pháp 37 Phẩm Trợ Đạo) .
- Tát phạ đát-la tát phạ ca lam (SARVATRÀ SARVA KÀRAM : Đắc thân Kim Cang)
- Tất chiêu đổ minh ế hàm ma hạ vĩ niệm (SIDDHYAM TUME IMAM VIDYA : Được thọ mạng vô cùng).
- Sa đà dã sa đà dã (SÀDHAYA SÀDHAYA : Vĩnh viễn xa lià sự oán hận, không có tâm giết hại).
- Tát phạ mạn noa la sa đà nãnh (SARVA MANDALA SÀDHANI : Thường mong sự an vui)
- Già đa dã tát phạ vĩ-cận nẵng (GHÀTAYA SARVA VIGHNAM : Nghe tên nghe tiếng đều trừ khủng bố)
- Nhạ dã nhạ dã (JAYA JAYA : Mãn túc sự mong cầu)
- Tất đệ, tất đệ, tố tất đệ (SIDDHE SIDDHE SUSIDDHE : Aùi biệt ly khổ)
- Tất-địa dã, tất-địa dã (SIDDHYA SIDDHYA : Trừ tai an vui)
- Một-địa dã, một-địa dã (BUDDHYA BUDDHYA : Trừ bệnh sống lâu)
- Mạo đà dã, mạo đà dã, bố la dã (BODHAYA BODHAYA : Trừ nạn về quan quyền)
- Bố la ni, bố la ni (PÙRANI PÙRANI : Sanh sản an ổn)
- Bố la dã minh a khổ (PÙRAYA ME À’SAM : trừ phục oán tặc)
- Tát phạ vĩ nễ-dã vĩ nga đa một đế nhạ dụ đa lị (SARVA VIDYA VIGATA MÙRTTE JYOTTARI : Khiến cho vua chúa kính ái)
- Nhạ dạ phạ để (JAYA VATI : Chư Nhân kính ái)
- Để sắt-tra, để sắt-tra (TISTA TISTA : Thiên Nhân kính ái)
- Tam ma dã ma nộ bá la dã (SAMAYAM ANUPÀLAYA : Hậu Phi kính ái)
- Đát tha nghiệt đa (TATHÀGATA : Phụ Nhân kính ái)
- Hột-lị nãi dã (HRDAYA : Người nữ kính ái)
- Thuấn đệ (‘SUDDHE : Bà La Môn kính ái)
- Nhĩ-dã phạ lộ ca dã đổ hàm (VYAVALOKAYA TUMAM : Tể Quan kính ái)
- A sắt-tra tỵ ma hạ ná lỗ noa bà duệ tỳ-dược (ASTA BHÌ MAHÀ DÀRUNA BHAYE BHYAH : Đại Thần kính ái)
- Tát la tát la (SARA SARA : Cư Sĩ kính ái)
- Bát-la tát la, bát-la tát la (PRASARA PRASARA : Trưởng giả, trưởng giả)
- Tát phạ phạ la noa vĩ thú đà nãnh tam mãn đá ca la mãn noa la vĩ thuấn đeä (SARVA AVARANA VI’SODHANE SAMANTA KÀRA MANDALA VI’SUDDHE : Đế Thích, Đế Thích)
- Vĩ nghiệt đế, vĩ nghiệt đeá (VIGATE VIGATE : Phạm Vương, Phạm Vương)
- Vĩ nga đa ma la (VIGATA MALA : Đại Tự Tại Thiên, Đại Tự Tại Thiên)
- Vĩ thú đà nãnh (VI’SODHANE : Thiên Đế Tướng Quân, Thiên Đế Tướng Quân)
- Khất-sử ni, khất-sử ni (KSINI KSINI : Đồng Nam đồng nữ, đồng nam đồng nữ)
- Tát phạ bá bả (SARVA PÀPA : Thiên Long, Thiên Long)
- Vĩ thuấn đệ (VI’SUDDHE : Dạ xoa, Dạ Xoa)
- Ma la vĩ nghiệt đế (MARA VIGATE : Càn Đạt Bà kính ái)
- Đế nhạ phạ để (TEJA VATI : A Tu La, A Tu La)
- Phạ nhật-la phạ để (VAJRA VATI : Ca Lâu La, Ca Lâu La)
- Đát-lạt lộ chỉ-dã (TRAILOKYA : Tỳ Lô Giá Na hộ niệm)
- Địa sắt-xỉ đế (ADHISTITE : Tăng Ích thành tựu)
- Sa-phạ hạ (SVÀHÀ : Tức Tai thành tựu)
- Tát phạ đát tha nghiệt đa một đà (SAVA TATHÀGATA BUDDHA : A Súc Phật Kim Cương Ba La Mật hộ niệm)
- Tỳ sắc khất đế (ABHISIKTE : Tăng Ích thành tựu)
- Sa-bà hạ (SVÀHÀ : Tức Tai thành tựu)
(Từ đây trở xuống đều giống nhau, cho nên không ghi chú. Bên trong mỗi câu có 3 đoạn: Đoạn đầu là Phật Danh hộ niệm, giữa là Tăng Ích thành tựu, cuối là Tức Tai thành tựu. Ví dụ như : Tát phạ đát tha nghiệt đa một đà là A Súc Phật Kim Cang Ba La Mật hộ niệm. Tỳ sắc khất đế là Tăng Ích thành tựu. Sa-bà ha là Tức Tai thành tựu . Sau này, dựa theo đấy đều có thể thấy).
Tát phạ mạo địa tát đát-phạ tỳ sắc khất-đế, sa-bà ha (SARVA BODHISATVA ABHISIKTE SVÀHÀ) Tát phạ nễ phạ đa, tỳ sắc khất-đế, sa-bà ha (SARVA DEVATÀ ABHISIKTE SVÀHÀ) Tát phạ đát tha nghiệt đa hột-lị nãi dã, địa sắt xỉ đa hột-lị nãi duệ, sa-bà ha (SARVA TATHÀGATA HRDAYA ADHISTITA HRDAYE SVÀHÀ) Tát phạ đát tha nghiệt đa tam ma dã, tất đệ, sa-bà ha (SARVA TATHÀGATA SAMAYA SIDDHE SVÀHÀ) Ấn nại-lệ, ấn nại-la phạ để, ấn nại-la nhĩ-dã phạ lộ chỉ đế, sa-bà ha (INDRE INDRAVATI INDRA VYAVALOKITE SVÀHÀ) Một-la hám-minh, sa-bà ha (BRAHME SVÀHÀ) Một-la hám-ma nễ-dữu sử đế, sa-bà ha (BRAHMA ADHYUSTE SVÀHÀ) Vĩ sắt-noa nẵng mạc tắc khất-lị đế, sa-bà ha (VISNU NAMASKRTE SVÀHÀ) Ma hê thấp-phạ la mãn nễ đa đa bộ nhĩ đá duệ, sa-bà ha (MAHE’SVARA VANDITA PÙJITAYE SVÀHÀ) Phạ nhật-la bá ni, ma la vĩ lị-duệ địa sắt-xỉ đế, sa-bà hạ (VAJRAPÀNI BALA VÌRYE ADHISTITE SVÀHÀ) Địa-lị đa-la sắt tra-la sắt tra-la dã, sa-bà hạ (DHRRÀSTRÀYA SVÀHÀ) Vĩ lỗ trà ca dã, sa-bà hạ (VIRÙDHÀKÀYA SVÀHÀ) Vĩ lỗ bá khất-sái dã, sa-bà hạ (VIRÙPÀKSAYA SVÀHÀ) Vĩ thất-la ma noa dã, sa-bà hạ (VAI’SRAVANÀYA SVÀHÀ) Tạt đốt la ma hạ la nhạ ná mạc tắc khất-lị đá dã, sa-bà hạ (CATUR MAHÀ RÀJA NAMASKRTÀYA SVÀHÀ) Diễm ma dã, sa-bà hạ (YAMMÀYA SVÀHÀ) Diễm ma bố nhĩ đa ná mạc tắc khất-lị đá dã, sa-bà hạ (YAMMA PÙJITA NAMASKRTÀYA SVÀHÀ) Phạ lỗ noa (Thủy Thiên hộ niệm) daõ (Tăng Ích thành tựu) sa-bà hạ (Tức Tai thành tựu) (VARUNÀYA SVÀHÀ).
(Từ đây trở xuống dựa theo đó, mà thấy biết vậy)
Ma lỗ đá dã, sa-bà hạ (MARÙTÀYA SVÀHÀ) Ma hạ ma lỗ đá dã, sa-bà haï (MAHÀ MARÙTÀYA SVÀHÀ) A ngân-nẵng duệ, sa-bà haï (AGNAYE SVÀHÀ) Nẵng nga vĩ lộ chỉ đá dã, sa-bà ha (NÀGAVILOKITÀYE SVÀHA)Ø Nễ phạ nga nãi tỳ-dược, sa-bà hạ (DEVAGANE BHYAH SVÀHÀ) Nẵng nga nga nãi tỳ-dược, sa-bà ha (NÀGAGANE BHYAH SVÀHA) Dược khất-sái nga nãi tỳ-dược, sa-bà ha (YAKSAGANE BHYAH SVÀHÀ) La khất-sái sa nga nãi tỳ-dược, sa-bà ha (RAKSASAGANE BHYAH SVÀHÀ) Ngạn đạt phạ nga nãi tỳ-dược, sa-bà ha (GANDHARVAGANE BHYAH SVÀHÀ) A tô la nga nãi tỳ-dược, sa-bà ha (ASURAGANE BHYAH SVÀHÀ) Nga lỗ noa nga nãi tỳ-dược, sa-bà ha (GARUDAGANE BHYAH SVÀHÀ) Khẩn na la nga nãi tỳ-dược, sa-bà ha (KINNARAGANE BHYAH SVÀHÀ) Ma hộ la nga nga nãi tỳ-dược, sa-bà ha
(MAHORAGAGANE BHYAH SVÀHÀ) Ma nộ sái tỳ-dược, sa-bà ha (MANU SYE BHYAH SVÀHÀ) A ma nộ sái tỳ-dược, sa-bà ha (AMANU SYE BHYAH SVÀHÀ) Tát phạ nghiệt-la hề tỳ-dược, sa-bà ha (SARVA GRAHE BHYAH SVÀHÀ) Tát phạ ná khất-sái đát-lễ tỳ-dược, sa-bà ha (SARVA NAKSATRE BHYAH SVÀHÀ) Tát phạ bộ đế tỳ-dược, sa-bà ha (SARVA BHÙTE BHYAH SVÀHÀ) Tất-lị đế tỳ-dược, sa-bà ha (PRETE BHYAH SVÀHÀ) Tỷ xá tế tỳ-dược, sa-bà ha (PI’SACE BHYAH SVÀHÀ) A bả sa-ma lệ tỳ-dược, sa-bà ha (APASMARE BHYAH SVÀHÀ). Án, độ lỗ độ lỗ, sa-bà haï (OM- DHURU DHURU SVÀHÀ). Án, đổ lỗ đổ lỗ, sa-bà haï (OM- TURU TURU SVÀHÀ). Án, mẫu lỗ mẫu lỗ, sa-bà hạ (OM- MURU MURU SVÀHÀ) Hạ nẵng hạ nẵng tát phạ thiết đốt-lỗ nẫm, sa-bà hạ (HANA HANA SARVA ‘SATRÙNÀM SVÀHÀ). Ná hạ ná hạ tát phạ nột sắt-tra bát-la nột sắt-tra nẫm, sa-bà haï (DAHA DAHA SARVA DUSTA PRADUSTA SVÀHÀ). Bả tả bả tả tát phạ bát-la thất dịch ca ba-la để-dã nhĩ đát-la nẫm duệ ma. A tứ đế sử noa đế sam tát phệ sam thiết lị lam nhập-phạ la dã nột sắt-tra tức đá nẫm, sa-bà hạ (PACA PACA SARVA PRATYARTHIKA PRATYÀMITRANÀM YE MAMA. AHITESINATE SAM SARVESÀM ‘SARIRAM JVALÀYA ADUSTA CITTÀNÀM SVÀHÀ). Nhập-phạ lị đá tỳ dã,sa-bà hạ (JVALITÀYA SVÀHÀ). Bát-la nhập-phạ lị đá dã, sa-bà haï (PRAJVALITÀYA SVÀHÀ). Nhĩ bả-đá nhập-phạ la dã, sa-bà haï (DÌPTA JVALÀYA SVÀHÀ). Tam mãn đa nhập-phạ la dã, sa-bà haï (SAMANTA JVALÀYA SVÀHÀ). Ma ni bạt nại-la dã, sa-bà haï (MANI BHADRÀYA SVÀHÀ). Bố la-noa bạt nại-la dã, sa-bà haï (PÙRNA BHADRÀYA SVÀHÀ). Ma hạ ca la dã, sa-bà haï (MAHÀ KÀLÀYA SVÀHÀ). Ma để-lị nga noa dã, sa-bà haï (MATRGANÀYA SVÀHÀ Dược khất-sử ni nẫm, sa-bà hạ (YAKSANÌNÀM SVÀHÀ). La khất-sái tỷ nãnh nẫm, sa-bà hạ (RAKSASÌNÀM SVÀHÀ). La để-lị tả la nẫm, sa-bà haï (RATR CARÀNÀM SVÀHÀ). Nhĩ phạ sa tả la nẫm, sa-bà hạ (DIVASA CARÀNÀM SVÀHÀ). Để-lị tán địa-dã tả la nẫm, sa-bà haï (TRISANTYA CARÀNÀM SVÀHÀ). Phệ la tả la nẫm, sa-bà haï (VELA CARÀNÀM SVÀHÀ). A phệ la tả la nẫm, sa-bà hạ (AVELA CARÀNÀM SVÀHÀ). Nghiệt bà hạ lệ tỳ-dược , sa-bà haï (GARBHA HÀRE BHYAH SVÀHÀ). Nghiệt bà tán đá la ni, sa-bà haï (GARBHA SANDHÀRANÌ SVÀHA). Hộ lỗ hộ lỗ, sa-bà hạ (HURU HURU SVÀHÀ). Án, sa-bà hạ (OM- SVÀHÀ). Sa-phạ, sa-bà hạ (SVÀH SVÀHÀ). Bộc, sa-bà hạ (BHÙH SVÀHÀ). Bộ phạ, sa-bà hạ (BHÙVÀH SVÀHÀ). Án, bộ la-bộ phạ sa-phạ, sa-bà haï (OM- BHÙRBHÙVÀH SVÀH SVÀHÀ). Tức trí tức trí, sa-bà hạ (CITI CITI SVÀHÀ). Vĩ trí vĩ trí, sa-bà hạ (VITI VITI SVÀHÀ Đà la ni, sa-bà hạ (DHÀRÀNÌ SVÀHÀ). Đà la ni, sa-bà haï (DHARANI SVÀHÀ). A cật nãnh, sa-bà hạ (AGNI SVÀHÀ). Đế đổ phạ bổ, sa-bà hạ (TEJO VAPU SVÀHÀ). Tức lị tức lị, sa-bà haï (CILI CILI SVÀHÀ). Tất lị tất lị, sa-bà hạ (SILI SILI SVÀHÀ).
Một địa-dã một địa-dã, sa-bà hạ (BUDDHYA BUDDHYA SVÀHÀ).
Tất địa dã tất địa dã, sa-bà hạ (SIDDHYA SIDDHYA SVÀHÀ). Mạn noa la tất đệ, sa-bà hạ (MANDALA SIDDHE SVÀHÀ). Mạn noa la mãn đệ, sa-bà hạ (MANDALA BANDHE SVÀHÀ). Tỷ ma mãn đà nãnh, sa-bà hạ (‘SÌMA BANDHANI SVÀHÀ). Tát phạ thiết đốt-lỗ nẫm tiệm ba tiệm ba, sa-bà hạ (SARVA ‘SATRÙNÀM JAMBHA JAMBHA SVÀHÀ). Sa-đảm bà dã sa-đảm bà dã, sa-bà haï (STAMBHÀYA STAMBHÀYA SVÀHÀ). Thân na thân na, sa-bà haï (CCHINDHA CCHINDHA SVÀHÀ). Tẫn na tẫn na, sa-bà haï (BHINDHA BHINDHA SVÀHÀ). Bạn nhạ bạn nhạ, sa-bà hạ (BHANÕJA BHANÕJA SVÀHÀ). Mãn đà mãn đà, sa-bà haï (BANDHA BANDHA SVÀHÀ). Mãng hạ dã mãng hạ dã, sa-bà haï (MOHAYA MOHAYA SVÀHÀ). Ma ni vĩ truật đệ, sa-bà haï (MANI VI’SUDDHE SVÀHÀ). Tố lị-duệ tố lị-dã vĩ truật đệ vĩ thú đà nãnh, sa-bà hạ (SÙRYE SÙRYA
VI’SODHANE SVÀHÀ). Tán nại-lệ tô tán nại-lệ bố la-noa tán nại-lệ, sa-bà hạ (CANDRE SUCANDRE PÙRNACANDRE SVÀHÀ). Khư la hề tỳ-dược, sa-bà hạ (GRAHE BHYAH SVÀHÀ). Nhược khất-sát đát-lệ tỳ-dược, sa-bà hạ (NAKSTRE BHYAH SVÀHÀ). Thủy phệ, sa-bà hạ (‘SIVE SVÀHÀ). Phiến để, sa-bà hạ (‘SÀNTI SVÀHÀ). Sa-phạ sa để-dã dã minh, sa-bà hạ (SVASTYA YANE SVÀHÀ). Thủy noan yết lị phiến để yết lị bổ sắt trí yết lị ma la mạt đạt nãnh, sa-bà haï (‘SIVAM KARI ‘SÀNTI KARI PUSTI KARI BALA VARDHANI SVÀHÀ).
Thất-lị yết lị, sa-bà hạ (‘SRÌ KARI SVÀHÀ). Thất-lị dã mạt đạt nãnh, sa-bà haï (‘SRÌYA VARDHANI SVÀHÀ). Thất-lị dã nhập-phạ la nãnh, sa-bà hạ (‘SRÌYA JVALANI SVÀHÀ). Nẵng mẫu tư, sa-bà haï (NAMUCI SVÀHÀ). Ma lỗ tư, sa-bà hạ (MURUCI SVÀHÀ). Phệ nga phạ để, sa-bà hạ (VEGA VATI SVÀHÀ).
Chân Ngôn này là Trí Căn Bản của vô số ức hằng hà sa chư Phật, là Chân Ngôn lưu xuất từ vô lượng chư Phật. Do trí Chân Ngôn này, mà Đức Phật thành Đạo cho nên chư Phật 3 đời trải qua vô số vạn ức kiếp, Như Lai Tỳ Lô Giá Na tự ở trong Pháp Giới Trí chấm dứt vô số kiếp, để cầu được. Do đó, có tên là Chân Ngôn Tùy Cầu Tức Đắc. Tất cả chư Phật chẳng được Chân Ngôn này, thì chẳng thành Phật. Ngoại Đạo, Bà La Môn được Chân Ngôn này, sẽ mau chóng thành Phật. Tại sao thế ? Xưa kia tại nước Ma Kiệt Đà, có một vị Bà La Môn tên là Câu Bát. Vị này chẳng thấy Phật, chẳng nghe Pháp, chẳng có 6 Ba La Mật, chẳng có 4 Vô Lượng Trụ. Ngày ngày giết heo, dê, gấu, nai, ngỗng, gà, rùa… để ăn. Như vậy, đều đều mỗi ngày từ 50 cho đến 100 sanh mạng. Trải qua 250 năm, thì vị Bà La Môn này qua đời, liền từ bỏ nhân gian đi đến cung của vua Diêm La. Khi ấy, vua Diêm La bạch với Đế Thích rằng : "Tội nhân này được đem vào Địa ngục nào ? Tội nặng nhẹ như thế nào?". Đế Thích bảo : "Tội của người này chẳng thể đo lường được, chẳng tính đếm số lượng được. Thiện Kim Trát (Cái trát bằng vàng dùng để ghi điều lành) không có ghi một điều lành nào, Ác Thiết Trát (Cái trát bằng sắt chuyên ghi điều ác) thì nhiều không thể tính. Hãy mau tống giam hắn vào Địa Ngục A Tỳ".
Khi Ngục Tốt vâng lệnh, liền ném tội nhân vào Địa ngục, tức thời Địa ngục tự nhiên biến thành ao sen, chứa đầy nước 8 Công Đức. Trong ao ấy có mọi thứ hoa sen: xanh, trắng, hồng tím với màu sắc vượt hẳn các thứ sen khác. Trên mỗi tòa ngồi của từng đóa sen, đều có một tội nhân ngồi và tôïi nhân này không hề có sự khổ đau. Ngay lúc ấy Ngục Tốt Đầu Trâu, Đầu Ngựa của vua Diêm La cùng nhau nói rằng : "Ngục này lạ thay! Tội nhân này bị bắt lầm rồi ! Địa Ngục biến thành Tịnh Thổ, tội nhân chẳng khác với Phật, chúng ta đã thấy nghe sự việc như vậy".
Bấy giờ, vua Diêm La đi đến cung Đế Thích bạch rằng: "Câu Bát này chẳng phải là người có tội, nên mới có Thần thông như vậy".
Đế Thích đáp rằng : "Lúc sống, hắn chưa từng làm một việc thiện nào cho dù nhỏ như hạt bụi. Quả thật, Ta chẳng biết nổi điều này".
Đế Thích liền đi đến cõi Phật, bạch cùng Đức Phật Thích Ca rằng : "Câu Bát đã làm việc thiện như thế nào, mà lại có thần biến như thế ?".
Khi ấy, Đức Phật bảo Đế Thích rằng : "Ngay thuở sinh tiền Câu Bát chẳng hề làm một việc thiện nào. Hãy nhìn xem hài cốt của hắn ở nhân gian ra sao?".
Đế Thích liền đến nơi chôn cất hài cốt của Câu Bát thì thấy cách nơi này một dặm về phía Tây, có một cái tháp nhiều tầng (Suất Đỗ Ba: stupa). Trong cái tháp đó, có để Chân Ngôn Căn Bản này. Do cái Tháp bị mục nát, nên Chân Ngôn rơi rớt xuống mặt đất. Một Chữ của bài Kinh ấy, nương theo gió thổi dính trên hài cốt của Câu Bát. Bấy giờ Đế Thích lại đến xem điều kỳ dị ở 8 Địa ngục, thì thấy mỗi khi dời Câu Bát đến Địa ngục nào, tức thời nơi ấy liền biến thành nơi không có sự đau khổ. Lúc đó, Câu Bát và các tôi nhân đều có đầy đủ 32 tướng tốt, 80 vẻ đẹp. Đồng một thời, ở Thế Giới Liên Hoa Tạng thành chư Phật, Bồ Tát. Đức Phật Vô Cấu ở Thượng Phương Thế Giới là Câu Bát vậy.
Chân Ngôn có công năng diệt tội như vậy, huống chi tự mình trì tụng. Nếu có người chí tâm trì niệm, thì còn có chút tội nào sao ? Cho nên, Chân Ngôn này có tên là Tùy Cầu Tức Đắc Thành Phật . Do vậy, Chân Ngôn này có 7 tên là :
1- Chân Ngôn Tâm Phật Tâm: Trí Tâm trong Tâm Trí của Như Lai Tỳ Lô Giá Na.
2- Chân Ngôn Nhất Thiết Phật Tâm Ấn : Ấn Trí Tâm thâm sâu của chư Phật.
3- Chân Ngôn Quán Đảnh : Quán đảnh người trì niệm
4- Chân Ngôn Quán Đảnh Ấn : Ấn Bồ Đề tẩy rửa phiền não
5- Chân Ngôn Kết Giới : Trừ tội chướng, tịch trừ chư Ma.
6- Chân Ngôn Phật Tâm : Tâm Trí chân thật của Phật
7- Chân Ngôn Tâm Trung : Không có gì vượt hơn được Pháp này.
Người Trì Niệm cũng như vậy, giống như Đức Phật là Đấng thù thắng bậc nhất trong các Đấng Pháp Vương.
Này Bồ Tát Diệt Ác Thú! Chân Ngôn này hay cứu tất cả chúng sanh. Chân Ngôn này hay khiến cho tất cả chúng sanh xa lìa các khổ não, hay tạo sự lợi ích lớn cho tất cả chúng sanh, làm mãn sự ước nguyện. Như Đức Phật hay cứu tất cả chúng sanh bị khổ não, như kẻ bị lạnh gặp được lửa sưởi ấm, hoặc như kẻ trần truồng được quần áo mặc. Như con côi được gặp mẹ, như kẻ vượt sông được thuyền bè, như người bệnh tật được thuốc chữa. Như nơi tăm tối được đèn chiếu sáng. Như kẻ nghéo túng được của báu. Như ngọn đuốc diệt trừ ám tối, Chân Ngôn này cũng lại như vậy, hay khiến cho chúng sanh xa lìa tất cả khổ, với tất cả bệnh não, hay giải mở tất cả sự cột trói của sanh tử. Đây là thuốc hay cho người bệnh ở cõi Diêm Phù Đề. Nếu người có bệnh được nghe Chân Ngôn này, thì bệnh liền tiêu diệt.
Nếu có kẻ trai lành, người nữ thiện tạm nghe qua Chân Ngôn này, thì tất cả tội chướng đã có đều được tiêu diệt. Hoặc tuy đã phạm dâm với tất cả người nữ thì vẫn
chẳng chịu khổ đau nơi thai sanh. Tại sao vậy ? Người trì Chân Ngôn gần gũi cúng dường, hoặc nam hoặc nữ, đều đã có được sẵn Thân Phật
Nếu có người hay trì tụng, thì nên biết người đó tức là Thân Kim Cang, lửa chẳng thể đốt. Nên biết Như Lai dùng lực thần thông ủng hộ người đó. Nên biết người đó là Thân Như Lai, người đó là Thân của Như Lai Tỳ Lô Giá Na. Nên biết người đó là Kho Tàng của Như Lai, là con mắt của Như Lai. Nên biết người đó mặc giáp trụ Kim Cang. Nên biết người đó là Thân Quang Minh. Nên biết người đó là Thân bất hoại. Nên biết người đó hay tồi phục tất cả oán địch. Nên biết bao nhiêu tội chướng của người đó thảy đều tiêu diệt. Nên biết Chân Ngôn này hay trừ nỗi khổ của Địa Ngục. Ta vì Phật Đạo, ở vô lượng cõi, từ xưa đến nay diễn nói các Pháp chẳng thể đo lường được. Ở trong các Pháp đó thì Chân Ngôn này là tối thắng bậc nhất, chẳng có gì có thể so sánh được. Ở trong ba ngàn Đại Thiên Thế Giới, tuy giết hại tất cả chúng sanh vẫn chẳng bị đọa vào nẻo ác. Tất cả đều do uy lực của Chân Ngôn này, huống là còn phải chịu nạn khổ ở nhân gian ư ? Thường khiến tuôn mưa 7 Báu, không có bệnh hoạn tai nạn, tất cả sự mong cầu đều được mãn túc, thân tâm an ổn, phước thọ vô lượng.
Này Diệt Ác Thú! Dưới đây có 7 Chân Ngôn nhỏ dành riêng cho người nào chẳng thể tụng Chân Ngôn Căn Bản. Nếu có người nam, kẻ nữ chẳng thể trì nổi Đại Chân Ngôn thì tùy theo sức mà thọ trì các Chân Ngôn này vậy. Lại nói mỗi một Chân Ngôn là :
1- Chân Ngôn Tâm Phật Tâm :
- Án , tát phạ đát tha nghiệt đa một đệ (9 Thế Giới Hội của Như Lai Tỳ Lô Giá Na). Bát-la phạ la vĩ nga đa bà duệ (4 Trí Như Lai). Xả ma dã bà-phạ minh (Tất cả Trí của Như Lai)
Bà nga phạ để tát phạ bá bế tỳ-dược (Tất cả Trí của 4 Trí). Sa-phạ sa để bà phạ đổ mẫu nễ mẫu nễ (37 Tôn). Vĩ mẫu nãnh tả lệ (Tất cả Trí của 37 Tôn). Tả la nãnh bà dã vĩ nga đế (16 Tôn Đời Hiền Kiếp). Bà dã hạ la ni (Tất cả Trí). Mạo địa mạo địa (Độ chúng sanh) Mạo đà dã mạo đà dã (Ban Trí Tuệ cho chúng sanh) Một địa lị một địa lị (Ban thuốc tốt lành cho chúng sanh) Tát phạ đát tha nghiệt đa (Ban trân bảo ẩm thực cho chúng sanh) Hột-lị nãi gia túc sắt-tai, sa-phạ hạ (Ban an vui cho chúng sanh)
(OM- SARVA TATHÀGATA MÙRTTE - PRAVARA VIGATA BHAYE - ‘SAMAYA SVAME - BHAGAVATI SARVA PÀPE BHYAH -VÀSTIRBHAVATU MUNI MUNI - VIMUNI CALE - CALANA BHAYA VIGATE - BHAYA HÀRANI - BODHI BODHI - BODHIYA BODHIYA - BUDHILI BUDHILI - SARVA TATHÀGATA - HRDAYA JUSTAI SVÀHÀ
2- Chân Ngôn Nhất Thiết Phật Tâm Ấn :
- Án, phạ nhật-la phạ để (Chư Phật 3 Đời) Phạ nhật-la bát-la để sắt-xỉ đế, truật đệ. Tát phạ đát tha nga đa mẫu nại-la (Tất cả Trí Ấn thành tựu 6 Ba La Mật) Địa sắt-xá nẵng địa sắt-xỉ đế ma hạ mẫu đát lệ, sa-phạ hạ (Thành tựu sự linh nghiệm của tất cả các Pháp ngay trong đời này).
(OM- VAJRA VATI - VAJRA PRATISTITE ‘SUDDHE. SARVA TATHÀGATA MUDRA - ADHISTANA ADHISTITE MAHÀ MUDRE SVÀHÀ).
3- Chân Ngôn Quán Đảnh :
- Án, mẫu nãnh mẫu nãnh (Tất cả Như Lai đều tập hội) Mẫu nãnh phạ lệ (Tuôn ra nước Trí) A tỵ tru tả đổ hàm (Tất cả Như Lai duỗi cánh tay màu vàng) Tát phạ đát tha nghiệt tha (Dùng nước Trí rưới lên đảnh đầu) Tát phạ vĩ nễ-dã tỵ sái tứ diệm (Tẩy rửa 160 sở tri chướng phiền não trong thân) Ma hạ phạ nhật-la hạ phạ tả (Vĩnh viễn cắt đứt tất cả khổ của sanh tử) Mẫu nại-la mẫu nại-lị đới (Nhập vào Ta) Tát phạ đa tha nga đa hột-lị nãi dạ địa sắt-xỉ đa, phạ nhật-lệ, sa-bà hạ (Ngang bằng với Thân tràn khắp Pháp Giới của Như Lai).
(OM- MUNI MUNI - MUNI VARE - ABHISIMCA TUMAM - SARVA TATHÀGATA - SARVA VIDYA ABHISEKAI - MAHÀ VAJRA KAVACA - MUDRA MUDRITEH - SARVA TATHÀGATA HRDAYA ADHISTITA VAJRE SVÀHÀ).
4- Chân Ngôn Quán Đảnh Ấn :
- Án, a mật-lật đa phạ lệ (Chư Phật tập hội tuôn ra nước Trí xoa đỉnh đầu hộ niệm thành tựu) Phạ la phạ la (Thành tựu Bồ Đề) Bát-la phạ la vĩ truật đệ (Thành tựu Đẳng Chánh Giác) Hồng (Cắt đứt phiền não của chúng sanh) Hồng (Cắt đứt sở tri chướng của chúng sanh) Phát tra, phát tra, sa-bà hạ (Ta, Người thành tựu Niết Bàn).
(OM- AMRTA VARE - VARA VARA - PRAVARA VI’SUDDHE - HÙM - HÙM - PHAT PHAT SVÀHÀ).
5- Chân Ngôn Kết Giới :
- Án, a mật-lật đa vĩ lộ chỉ nãnh (Thành ngọn lửa nóng) Nghiệt bà tăng la khất-sái ni a yết sái ni (Thành lưới sắt vây quanh bức tường thành bằng sắt) Hồng (Tịch trừ quỷ Thần) Hồng (Sát hại hết thảy Quỷ Thần) Phát tra phát tra (Tất cả Quỷ Thần đều thành tựu, hạt bụi nhỏ cũng chẳng thể sanh) Sa-bà ha (Thành tựu).
(OM- AMRTA VILOKINI - GARBHA SAMRAKSANI HÙM - HÙM - PHAT PHAT - SVÀHÀ).
6- Chân Ngôn Phật Tâm :
- Án, vĩ ma lê (Trí Chân Ngôn tràn khắp Pháp Giới) Nhạ dã phạ lệ a mật-lật đế hồng hồng hồng hồng phát tra phát tra (Tất cả chúng sinh trong 3 cõi đều có Phật tánh, thành tựu)
(OM- VIMALE - JAYA VARE AMRTE HÙM HÙM HÙM HÙM PHAT PHAT PHAT PHAT - SVÀHA)
7- Chân Ngôn Tâm Trung Tâm :
- Án, bả la bả la tam bạt la tam bạt la (Trí Tâm của Như Lai lợi ích cho chúng sinh) Ấn nại-lị dã vĩ thú đà nãnh hồng hồng lỗ lỗ tả sơ (Tâm, Phật, Chúng sinh cả 3 diều này không có khác nhau) Sa-bà ha.
(OM- BHARA BARA SAMBHARA SAMBHARA - INDRIYA VI’SODHANE HÙM HÙM RURU CALE - SVÀHÀ).
Đức Phật bảo Bồ Tát Diệt Ác Thú rằng : "Chân Ngôn này có tên là Tùy Cầu Tức Đắc Chân Ngôn, hay trừ tất cả tội nghiệp đẳng chướng, hay phá tất cả khổ của con đường uế ác và diệt nẻo ác. Chân Ngôn này được vô số ức căng già sa câu đê trăm ngàn chư Phật cùng nhau diễn nói. Người tùy vui thọ trì sẽ được Trí Ấn của Như Lai ấn lên, hay phá con đường uế ác cho tất cả chúng sanh, hay nhanh chóng đến cứu nạn khổ khiến cho chúng sanh đang bị đọa trong biển sinh tử được giải thoát. Vì chúng sinh đoản mạng, kém phước không có người cứu hộ cùng với các chúng sanh ưa tạo mọi nghiệp ác, mà diễn nói.
Lại nữa Chân Ngôn này khiến cho các loại chúng sanh ở mọi nơi khổ đau như : Địa Ngục, nẻo ác hoặc đang lưu chuyển trong biển sanh tử, chúng sanh kém phước, kẻ bất tín đánh mất Chánh Đạo… đều được giải thoát".
Bấy giờ Đức Phật bảo: "Này Diệt Ác Thú ! Nay, Ta đem Chân Ngôn này phó chúc cho ông, dùng uy lực của Chân Ngôn này để cứu độ tất cả chúng sanh trong biển khổ .
Này Diệt Ác Thú ! Ông nên trì niệm, quán hạnh thủ hộ đừng để cho quên mất. Này Diệt Ác Thú ! Nếu có người trong phút chốc được nghe Chân Ngôn này, thì 1000 kiếp trở lại, bao nhiêu nghiệp ác chướng nặng đã tạo tác gom chứa, đáng chịu mọi thứ sanh tử lưu chuyển nơi Địa Ngục, Ngạ Quỷ, Súc Sanh, Diêm La Vương quốc, thân A Tu La, Dạ Xoa, La Sát, Quỷ Thần, Bố Đan Na, A Ba Sa Ma La, muỗi mòng, rồng, rùa, chó, trăn, rắn, tất cả loài chim, các loài thú mạnh, tất cả loài hàm linh cựa quậy cử động cho đến thân của loài trùng, kiến ... thì chẳng còn thọ nhận trở lại nữa, luôn được chuyển sanh ở cùng chỗ với vị Bồ Tát Nhất Bổ Xứ của chư Phật Như Lai. Hoặc được sanh vào nhà Bà La Môn, hoặc được sanh vào nhà giàu có thù thắng.
Này Diệt Ác Thú ! Người này được sanh vào những nơi cao quý như trên đều do nghe được Chân Ngôn này, cho nên nơi chuyển sanh đều được thanh tịnh, không bị thoái chuyển.
Này Diệt Ác Thú ! Cho đến được đến nơi tối thắng của Bồ Đề Đạo Trường, đều do khen ngợi công đức của Chân Ngôn này. Vì nhân duyên ấy nên có tên là Chân Ngôn Tùy Cầu Tức Đắc.
Tiếp nói các Mật Ấn Mật tưởng năm Như Lai
Trước, dùng Ấn ấn tim Rồi, liền đặt trên đảnh
Tiếp Tam Tinh trên trán Tiếp ấn hai lông mày
Bên phải rồi bên trái Đây tức đã kết xong
Thân Ta thành Biến Chiếu Ở lưỡi quán Kim Cang
Trước, chắp tay Kim Cang Liền thành Kim Cang Phược
Nhẫn Nguyện (2 ngón giữa) như tháp nhọn
Tấn Lực (2 ngón trỏ) phụ ở lưng
Nhẫn Nguyện đứng như bát Co ngược như hình Báu
Dời co như hoa sen Hợp mặt trong lòng tay
Hợp Đàn Tuệ (2 ngón út) Thiền Trí (2 ngón cái)
Liền thành Ấn bí mật Ngữ Bí Mật Ấn này
Là Mật ở trong Mật Là Bí (Sâu Kín) ở trong Bí
Chẳng truyền kẻ không A (Phải là bậc A Xà Lê mới truyền)
A xà Lê nếu biết Pháp, Đệ Tử, tùy Nghi
Mới làm Pháp Đàn ấy Như Nghi quỹ Pháp Hoa.
Bấy giờ, Đức Phật bảo Bồ Tát Diệt Ác Thú: "Ông hãy lắng nghe ! Ta sẽ vì ông mà diễn nói. Thọ trì Chân Ngôn này cũng vì các chúng sanh đoản mạng mà nói. Nên tắm gội, mặc áo mới sạch, ngày ngày trì niệm 9 biến thì chúng sanh đoản mạng kia lại được tăng tuổi tho, vĩnh viễn xa lìa bệnh khổ. Tất cả nghiệp chướng thảy đều tiêu trừ, giải thoát khỏi sự khổ đau của tất cả Địa Ngục. Các loài chim bay, súc sanh, hàm linh một lần được nghe Chân Ngôn này qua lỗ tai, thì khi mãn thân này, chẳng thọ nhận lại thân đó nữa.
Nếu gặp bệnh ác, nghe Chân Ngôn này liền được vĩnh viễn xa lìa. Tất cả các bệnh cũng được tiêu diệt. Nghiệp đáng bị đọa vào nẻo ác cũng được trừ diệt, liền được vãng sanh về Thế Giới tịch tĩnh, chẳng còn thọ thân trong bào thai mà được hóa sanh trong hoa sen, tất cả nơi sanh đều là hoa sen hóa sanh. Dù sanh ra ở nơi nào, đều ghi nhớ chẳng quên, thường biết Túc Mạng.
Nếu có người trước kia đã gây tạo ra tất cả tội nghiệp cực nặng. Mạng nương theo nghiệp ác ấy đáng bị đọa vào Địa Ngục, hoặc đọa vào cõi súc sanh, cõi Diêm La Vương, cõi Ngạ Quỷ cho đến đọa vào Địa Ngục Đại A Tỳ, hoặc sanh vào loài thủy tộc, hoặc mang thân cầm thú hay thân của loài khác… mà nghe được Tên của Chân Ngôn này, cho đến một chữ qua tai một lần thì chẳng bị thọ nhận sự khổ não của các cõi đã nói như vậy. Nghiệp chướng thảy đều tiệu diệt, mau chóng sanh về cõi Phật.
Nếu có người gần gũi người trì một chữ, thì kẻ ấy được Đại Niết Bàn, lại tăng thọ mạng, được sự khoái lạc thù thắng. Khi bỏ thân này, liền được vãng sanh về các cõi có mọi thứ vi diệu, thường cùng chư Phật tụ họp tại một nơi. Tất cả Như Lai luôn vì kẻ ấy diễn nói nghĩa vi diệu. Tất cả Thế Tôn liền thọ ký cho kẻ ấy. Thân thể của kẻ ấy, tỏa ánh sáng chiếu soi tất cả cõi Phật.
Nay Ta chỉ lược nói công lực của Chân Ngôn này như vậy. Nếu có kẻ trai lành, người nữ thiện đối với Chân Ngôn niệm niệm chẳng sanh nghi. Hoặc có kẻ trai lành, người nữ thiện sinh Tâm nghi hoặc, thì đời đời chẳng được sự linh nghiệm của Chân Ngôn. Đời này bị bệnh Bạch Lại (lác, cùi hủi).
Ta vì lợi ích cho chúng sanh mới nói Chân Ngôn này. Vì chúng sanh bần cùng hạ tiện, để lại Báu Ma Ni Như Ý này. Đây là Pháp Tạng thâm sâu, tất cả Trí Ấn của Như Lai Tỳ Lô Giá Na Người trì niệm cần phải cung kính như cung kính Đức Phật.
NGHI QUỶ CHÂN NGÔN TÙY CẦU TỨC ĐẮC
Nước Đại Đường, chùa Thanh Long, Nội Cúng Dường Sa Môn Đàm Trinh tu sửa, tạo dựng bản Chân Ngôn ghi trên bia.
Chân Ngôn Thất Thập Thiên :
- Nẵng mạc tam mạn đa mạo đa nam. Án, tát nhật phạ đệ bà đa nan duệ kế cơ.
Nguyên Vĩnh, năm thứ hai, tháng 11, ngày mồng chín , giờ Ngọ viết xong.
Mặt Tây của viện Liên Hoa duyệt xong. Cực Nguyệt (?) ngày 28. Đại Sư Trừng Giác
30/09/1997
PHÁP MINH VƯƠNG SÁM HỐI
ĐẠI ĐÀ LA NI ĐẠI TÙY CẦU TỨC ĐẮC
Mật Tạng Bộ 3 No.1156A (Tr.649 - Tr.650)
Việt dịch : Huyền Thanh
r Tám Ấn Tùy Cầu :
1- Ấn Sám Hối hoặc Ấn Bồ Đề Tâm :
Ngửa 2 bàn tay. Tay phải: Đem ngón vô danh quấn phía sau lưng ngón giữa, lấy ngón trỏ móc đầu ngón vô danh. Tay trái cũng như thế. Đem 2 ngón cái đều vịn trên móng ngón út, 2 ngón giữa cùng trụ dính nhau. Ngửa lòng bàn tay hướnuug lên trên đặt ngay trái tim, tụng Chú .
2- Khế Bồ Đeà Căn Bản, cũng có tên là Ấn Thọ Ký Đảnh :
Dựa theo Ấn trước. Sửa 2 ngón út giao nhau trong lòng bàn tay. Hai ngón cái, bên trái đè bên phải, đều vịn gốc ngón và đè trên móng ngón út. Hai ngón trỏ vịn lằn lóng trên của lưng ngón giữa.
3- Khế Như Lai Bình Đẳng, còn có tên là Ấn Khế Thí Thanh Lương : Tay Phải : Duỗi thẳng 3 ngón trỏ, giữa, vô danh. Đem ngón cái vịn lằn thứ nhất trên lưng ngón út. Không dùng tay trái.
- Khế Như Lai Thanh Tịnh : Trước tiên chắp 2 tay lại. Hai ngón út cài chéo nhau trong lòng bàn tay, bên phải đè bên trái. Cả 3 ngón trỏ, giữa, vô danh đều hợp dính đầu ngón. Hai ngón cái cũng hợp đầu ngón, dấu trong lòng bàn tay.
4- Khế Như Lai Tiêu Nhất Thiết Ác Độc cũng có tên là Khế Nhất Thiết Hoan Hỷ :
Y theo Ấn Bình Đẳng. Giao 2 cổ tay, phải đè bên trái. Ngửa lòng bàn tay hướng lên trên. Nếu bên ngoài có việc thì hồi hướng ra ngoài từ chối. Đây là Khế Diệt Độc.
5- Khế Nhất Thiết Trùng (Loài trùng) Đắc Phật Ký Ù (Thọ ký)
Trước tiên chắp 2 tay lại. Dựng đứng 2 ngón út, co 2 ngón vô danh vào trong lòng bàn tay, 2 ngón giữa cài ngược nhau, bên phải đè bên trái trong lòng bàn tay. Hai ngón trỏ đều móc 2 ngón giữa. Hai ngón cái đều vịn bên cạnh lằn giữa của ngón trỏ. Hai ngón út đều cong lại sao cho đừng dính vào ngón vô danh.
6- Khế Bí Mật cũng có tên là Ấn Tâm Trung :
Trước tiên chắp 2 tay lại. Các ngón trỏ, vô danh, út cùng cài ngược nhau trong lòng bàn tay. Đem dấu đầu ngón cái bên trong lòng bàn tay và vịn trên móng cả 3 ngón: trỏ, vô danh, út).
7- Khế Giải Thoát cũng có tên là Khế Hộ Niệm Thập Lực:
Trước tiên chắp 2 tay lại, để ngay trái tim. Hơi co 3 ngón trỏ, vô danh, út vào trong lòng bàn tay sao cho các móng tay chung lưng nhau. Đem dấu đầu ngón cái vào trong lòng bàn tay và vịn bên cạnh lằn giữa của ngón vô danh.
8- Khế Như Lai Tâm :
Trước tiên ngửa lòng bàn tay phải. Tĩnh Tâm quán. Đem ngón cái vịn bên cạnh lằn giữa của ngón vô danh. Bốn ngón còn lại nắm thành quyền.
Đức Phật bảo các Đại Chúng rằng: "Sám Hối như vậy là y theo Bồ Đề sanh tất cả chư Phật. Lúc phát Tâm Bồ Đề, tự mình chẳng khởi ý thấp kém, chẳng che dấu các tội, tức là Tâm Bồ Đề. Cho nên Thiện Nam Tử, phải biết Khế Bồ Đề Tâm này chẳng thể luận bàn. Tại sao vậy ? Ta nhớ về thời quá khứ , Ta tu Hạnh Bồ Tát trải qua vô lượng kiếp, gom các công đức, vượt qua vô lượng kiếp. Tu học khổ hạnh như vậy trải qua hằng hà sa kiếp nhưng rốt ráo vẫn không ghi được một điều nào. Tại sao thế ? Vì Ta có tâm nguyện thấp kém và còn tội dư thừa (Hữu dư tội) nên kiếp kiếp sám tạ (Sám hối cầu xin tha tội) vẫn chẳng hết được.Vì Sám không hết, nên dẫn đến tai họa. Vì tội lỗi của quá khứ nên dẫn đến việc gây ra chướng nạn, khiến cho chẳng được thành Phật. Do tự tâm của Ta chân thật cầu chư Phật, phát ra hàng ngàn lời nguyện. Nhờ phát nguyện để cầu xin, nên trong khoảng khắc Tĩnh Trú liền được Khế này, tên là Nhất Thiết Chư Phật Đại Bồ Đề Tâm. Ta kết Khế này, lập Sám Hối ngay thì trong một thời, đều dẹp tan được hết thảy chướng nạn. Mười phương chư Phật thọ ký, ban hiệu cho Ta trong tương lai là THÍCH CA MÂU NI, có đầy đủ mười Lực và bốn Vô Sở Úy.
Này Thiện Nam Tử ! Giả sử có chúng sanh làm cho thân của 10 vị Phật đổ máu, thân của 100 vị Phật đổ máu, thân của 1000 vị Phật đổ máu, thân của một vạn vị Phật đổ máu, thân của trăm ngàn ức vị Phật đổ máu, cho đến thân của hằng hà sa số vị Phật đổ máu, thân của bất khả số bất khả số vị Phật đổ máu, nhưng khi kết Ấn này của Ta, tụng Đà La Ni Tùy Cầu Tức Đắc ba biến, cứ một câu một biến một lần xưng danh tự. Nếu kẻ đó còn có tội dư thừa lộ ra với chúng sanh, thì không thể có chuyện này. Tại sao vậy ? Nếu có tội còn dư thừa lộ ra với chúng sanh thì tất cả chư Phật liền mất Bồ Đề.
Này Thiện Nam Tử! Nếu có một người khởi tâm Từ Bi kết Khế này của Ta, rộng vì Đại Thiên xưng nói. Vì chúng sanh nâng Ấn, chỉ khắp 10 phương Giới thì tất cả tội chướng, bệnh, khổ não của hết thảy chúng sanh đều tiêu diệt, trong một thời không còn dư sót, liền chứng Sơ Địa mà tất cả chúng sanh cũng chẳng hay biết.
Nếu vào Ma cung, kết trì Khế này thì Ma Vương thuận phục, nhớ lại việc xưa mà buông bỏ nghiệp Ma.
Nếu vào cung vua, kết trì Ấn này thì nhà vua liền khởi Từ Bi nhẫn, dùng Chánh pháp trị người
Nếu gặp nạn về vua chúa, vào châu huyện bị gông cùm xiềng xích. Kết trì Ấn này thì được giải thoát khỏi nạn gông cùm xiềng xích, vua quan tự khai ân, cả hai bên được hòa vui.
Nếu có người ngày ngày tác việc này, thì tất cả thế gian không có việc gì không điều thuận được, Long Vương vui vẻ hay tuôn mưa xuống. Hết thảy kẻ có tâm tàn độc trong tất cả Ttế gian đều hòa vui.
Nếu vào nơi chiến đấu, đùng Ấn này chỉ vào, thì quân của hai bên liền hòa giải, không một bên nào bị tổn hại.
Này Thiện Nam Tử ! Chư Thiên ở 10 phương thế giới, cộng lại cả vạn vị cũng chẳng bằng sức lực của một vị Na La Diên. Các Na La Diên ở 10 phương thế giới, cộng lại cả vạn vị cũng chẳng bằng sức lực của một vị Bồ Tát. Tất cả Bồ Tát ở 10 phương thế giới, cộng lại cả vạn vị cũng chẳng bằng sức lực của một sợi lông của một Đức Như Lai. Này Thiện Nam Tử ! Giả sử một vị Phật hay tác mọi thứ sức lực chẳng thể luận bàn cũng chẳng giống như sức lực của vô lượng chư Phật. Tại sao thế ? Vì tất cả Như Lai cùng trụ trì, cùng tùy hỷ, cùng ấn khả cho nên tất cả Như Lai đều từ đây sinh ra. Bồ Tát, Kim Cang cùng hỗ trợ cho đến Bồ Đề không có Nhị Kiến. Này Thiện Nam Tử ! Nếu nói về công dụng của Khế này thì trọn cả kiếp cũng chẳng thể nói hết được, cũng chẳng thể luận bàn được. Nếu có chúng sanh muốn đến Phật Vị, khởi đầu được chút ít về Khế này thì vẫn hơn Bậc Sơ Địa, vì Bậc này cũng chưa nghe biết, cũng chẳng thể nói đủ được.
Căn Bản của Bồ Đề sanh từ một Tâm, sanh từ một Pháp, sanh từ Dị Kiến, sanh từ Đoạn Ái Tăng, sanh từ sự xa lìa nghiệp giết chóc, sanh từ Tĩnh Thổ vô thủy, sanh từ Pháp quyết định, sanh từ Chất trực vô vi, sanh từ sự nhu hòa thuận nhẫn, sanh từ sự dũng mãnh tinh cần, sinh từ lòng thương xót tất cả chúng sinh, sinh từ Đại Từ Bi, sanh từ sự không sợ hãi (vô úy), sanh từ sự xa lìa khổ đau, sanh từ sự chẳng buông bỏ chúng sanh, sanh từ sự kính dưỡng cha mẹ, sanh từ sự hiếu thuận với sư trưởng, sanh từ tâm chẳng nóng nảy, sanh từ tâm chẳng hèn kém, sanh từ sự tĩnh ba nghiệp. Này Thiện Nam Tử ! Đây là Bồ Đề Căn Bản Khế.
Thiện Nam Tử ! Tất cả Thiên Tiên, Long Thần, bốn vị Thiên Vương, Kim Cang, Thanh Văn, Bích Chi Phật, Thánh Chúng của bốn Quả với Bồ Tát Ma Ha Tát hành việc của Bồ Tát mà đạt được Tiệm Đáo Giả (tiến dần dần đến quả vị Phật) thì không bao giờ có việc đó . Tại sao thế ? Như việc này là hạnh của chư Phật, trừ khi Đức Phật dùng năng lực bên ngoài (ngoại năng) hành việc này, tức là thân Phật chẳng thể luận bàn, cho nên đây chẳng phải là việc của Bồ Tát. Này Thiện Nam Tử! Cho đến Bồ Tát, Kim Cang chẳng trì Khế này, giả sử đạt đến Pháp Vân Địa cũng chẳng được thọ ký. Tại sao thế ? Vì không có Bồ Đề vậy.
Thiện Nam Tử! Nếu có người hoặc tu một Pháp, trăm Pháp, ngàn vạn Pháp, bất khả số Pháp mà chẳng trì Ấn này thì không có phần của Pháp, chúng Thánh chẳng vui, Thiên
Thần chẳng giúp. Sở tu linh nghiệp, chỉ được thông chút ít, cùng làm chung với Ma Vương, cũng chẳng phải Chánh Sĩ (Bậc tu hành chân chính) . Nếu trì Khế này không gián đoạn thì tịnh và bất tịnh, trì và chẳng trì, cúng dường và chẳng cúng dường, cho đến gây tạo đủ các nghiệp bất thiện, mà có thể ở trong một niệm tạm nhớ Khế này, giữ gìn chẳng quên, ắt sau khi chết sẽ sanh về cõi Trời Thiện Trụ, chứng Bồ Đề Vương, cũng được làm Quán Đảnh Kim Luân Vương của Đại Thiên Giới. Nếu hay tĩnh thân tâm, một ngày 12 thời, mà 10 thời tạo ác, chỉ có hai thời ghi nhớ suy tư về Niết Bàn chẳng sai lầm, chẳng thoái lui thì nhục thân (thân máu thịt) liền chứng Bồ Đề, bay bổng dạo chơi (du đằng) khắp 10 phương, giống như Phật, không sai khác.
Thiện Nam Tử ! Như Khế này là nguồn gốc của hết thảy Ấn Khế trong 10 phương thế giới. Thời Đại Thần, Đại Dược Xoa Vương, Bồ Tát, Kim Cang, tám Bộ Trời Rồng thường đến vệ hộ như Phật không khác, chỉ trừ Đức Như Lai ra, không ai có được lực này. Chư Hữu sở tu, liền tự trì, lại cũng không có thiếu sót chút nào, thảy đều giải rõ hết cả Trí Tuệ Môn văn Phật Trí Giả (Bậc theo môn Trí Tuệ nghe về Trí Tuệ của Phật) . Trí của Bồ Tát cũng chẳng thể nói đủ được.
Khế này không có bản lưu hành, bí mật chẳng được nói ra. Như thần thông này gia hộ thì đã bảo cho mọi người, tuy thấy chúng mà chẳng thấy người xưa. Tại sao thế ? Vì mạng căn mỏi mệt vậy. Thần thông đắc được, chỉ tự mình biết thôi.
* Bát Gia Bí Lục Ghi rằng: Đại Tùy Cầu Bát Ấn Pháp. Một quyển (Duy Cẩn- Nhân Vận).
Bởi vì đảm nhận Pháp này. Diên Bảo năm thứ ba, năm Ất Mão, tháng Giêng ghi chép xong. Kim Cang Thừa, Phật Tử Tỉnh Nghiêm (37 tuổi).
Thiên Minh cải nguyên, năm Tân Sửu, tháng năm nhuận. Dùng Tạng bản của Vũ Trị Tuệ Tâm viện, viết chép xong. Viện Trí Tích Đông Võ Từ Nhẫn.
Hưởng Hòa cải nguyên, mùa Thu năm Dậu, tháng bảy. Dùng Bản này chép xong, liền đối chiếu với Quốc Tự (chữ Hán) sửa chữa và khắc lên bản gỗ để in. Phong Sơn Sa Môn Khoái Đạo ghi.
Hưởng Hòa năm thứ ba, tháng tư, ngày mồng năm. Lúc trời rạng sáng, cất bút ghi: Từ Thuận.
10 /07/ 1998
TÔNG QUYẾN TĂNG CHÁNH
ở nơi truyền khẩu của Đường Quốc Sư
Mật tạng Bộ 3 No 1156 B (Tr. 650 - 651)
Việt dịch : Huyền Thanh
1- Ấn Căn Bản Đại Tùy Cầu :
Hai tay cài chéo các ngón bên trong lòng bàn tay, rồi nắm lại thành quyền (Nội tương xoa). Hợp dựng 2 ngón giữa, đặt 2 ngón trỏ phía sau lưng 2 ngón giữa, rồi hơi co lại như móc câu. Hợp dựng 2 ngón út, 2 ngón cái rồi hơi co lại, liền thành.
Tiếng Phạn là : Phạ nhật la (Vajra). Đường dịch là : Ngũ Cổ Kim Cang Xử (Chày Kim Cang có 5 chỉa móc).
2- Chân Ngôn Nhất Thiết Như Lai Tâm :
Úp tay trái, ngửa tay phải sao cho dính lưng nhau. Ngón giữa trợ lưng, móc cứng nhau như hình cây búa, liền thành.
Tiếng Phạn là : Bạt La Thú (Para'sù). Đường dịch là : Việt Phủ (Cây búa). An ghi là : Dựng lưng 2 bàn tay, ngón giữa cùng móc nhau.
3- Chân Ngôn Ấn Nhất Thiết Như Lai Tâm :
Hai tay cài chéo các ngón bên trong lòng bàn tay, rồi nắm lại thành quyền. Dựng 2 ngón giữa dính đầu nhau, rồi co lại khiến cho tròn trịa, liền thành.
Tiếng Phạn là : Bả La Bá Xả (Parapà'sa). Đường dịch là: Sách (Sợi dây).
4- Chân Ngôn Ấn Nhất Thiết Như Lai Kim Cang Bị Giáp :
Chắp hai tay lại. Co lóng giữa của 2 ngón trỏ khiến bằng phẳng, đồng thời 2 đầu ngón dính nhau , liền thành.
Tiếng Phạn là : Kiệt Nga (Khãnga). Đường dịch là : Kiếm (cây kiếm).
5- Chân Ngôn Ấn Nhất Thiết Như Lai Quán Đảnh :
Hai tay cài chéo các ngón bên ngoài, rồi nắm lại thành quyền (Ngoại tương xoa). Hợp dựng 2 ngón vô danh, đem 2 ngón út giao nhau, liền thành.
Tiếng Phạn là : Chước Yết La (Cakra). Đường dịch là : Luân (bánh xe).
6- Chân Ngôn Ấn Nhất Thiết Như Lai Kết :
Hai ngón cái vịn trên móng 2 ngón út. Dựng hợp các ngón còn lại như hình Tam Kích Xoa (cây giáo có 3 chỉa) liền thành.
Tiếng Phạn là : Để lị Thú La (Tri'sùla). Đường dịch là : Tam Cổ Xoa.
7- Chân Ngôn Ấn Nhất Thiết Như Lai Tâm Trung Tâm :
Hai tay cài chéo các ngón bên ngoài, rồi nắm lại thành quyền. Dựng 2 ngón trỏ trụ đầu ngón dính nhau như hình báu. Kèm cứng 2 ngón cái, liền thành.
Tiếng Phạn là : Tiến Đá Ma Ni (Cinta Mani). Đường dịch là : Bảo (viên ngọc báu Như Ý).
8- Chân Ngôn Ấn Nhất Thiết Như Lai Tùy Tâm :
Ngửa tay phải, đặt ngay trái tim, dương 5 ngón tay. Đem tay phải úp trên tay trái cùng hợp nhau bằng phẳng, liền thành.
Tiếng Phạn là : Ma Ha Vĩ Nễ-Dã Đà La Ni (Maha Vidya Dhàrani). Đường dịch là : Đại Minh Tổng Trì .
Đại Sư Từ Giác nói Ấn Đại Tùy Cầu chính là
Ấn Nội Phược Ngũ Cổ.
* Ấn Tôn Thắng Phật Đảnh :
Chắp tay giữa rỗng, co 2 Phong (2 ngón trỏ) sao cho móng ngón tay cùng đối nhau. Đem 2 Không (2 ngón cái) vịn bên cạnh 2 Phong (2 ngón trỏ) như thế búng tay.
* Ấn Văn Thù Căn Bản :
Chắp tay giữa rỗng, úp 2 Hỏa (2 ngón giữa) vịn 2 Thủy (2 ngón vô danh) sao cho đầu ngón trụ dính nhau. Co 2 Phong (2 ngón trỏ) vịn ngay trên 2 Không (2 ngón cái) .
Lại nói Nội Phược: Hợp dựng 2 Địa (2 ngón út). Co 2 Phong (2 ngón trỏ) đặt nằm ngang trên 2 Không (2 ngón cái) .
* Ấn Mãn Túc Cú :
Hợp 2 Địa (2 ngón út) như cây kim. Hai Thủy (2 ngón vô danh) móc nhau bên trong lòng bàn tay. Hai Hỏa (2 ngón giữa) như hình báu. Co 2 Phong (2 ngón trỏ) vịn trên 2 Không (2 ngón cái).
Chân Ngôn là : A Vĩ la hồng khiếm
(AVIRA HÙM KHAM)
Trinh Quán năm thứ 19, tháng ba, ngày 12 .
Truyền Chân Ngôn Đại Bi Tam Muội Gia là :
" Quán Âm bát nột mang, sâm mãn đá cốt đà nẫm- Át duệ thiền tá gia- Tát la-bả tát đát-bả, xả dã- Tát đá, Tát-bả ha".
12/ 07/ 1997
MẬT TẠNG PHẬT GIÁO VIỆT NAM
TẬP II
Ban phiên dịch:Thích Viên Đức, Thích Thiền Tâm
Thích Quảng Trí, Thích Thông ĐứcCư sĩ Huỳnh Thanh, Như Pháp Quân
---o0o---
MẬT TẠNG VIỆT NAM SỐ 27
NGHI QUỸ NIỆM TỤNG
KINH DƯỢC SƯ LƯU LY QUANG THẤT PHẬT
BỔN NGUYỆN CÔNG ĐỨC
Mật Tạng Bộ 2 No 925a ( Tr.33 - Tr.37 )
Quyển Thượng
Tam Tạng Sa Môn Sa La Ba phụng chiếu dịch Phạn ra Hán. Tôn giả Thiện Hộ soạn
Sa Môn Thích Quảng Trí dịch Hán ra Việt văn.
Nam mô Như Lai Dược Sư Lưu Ly Quang.
Người tu nghi thức này, tắm rửa sạch sẽ, mặc áo quần mới sạch, ăn các món thanh tịnh, xa lìa các phiền não, tâm phải thanh tịnh suy nghĩ nhớ niệm công đức của Tam Bảo và công đức của Kinh, phát lòng tin trong sạch tu bốn món vô lượng, nếu tại gia thì phải thọ trì giữ gìn Tám giới; sáng ngày mùng tám mỗi tháng y Pháp tạo lập Đàn tràng sái tịnh, trưng bày các thứ trang nghiêm, tràng phan bảo cái, dùng các bột màu hoặc các loại hoa rải khắp ở nơi trong Đàn, an trí Xá Lợi Phật tượng cùng các vị Hiền Thánh, tùy sức bày biện các món cúng dường. Trước mỗi tượng để 7 ngọn đèn, treo 7 phướng đủ màu cùng đốt các danh hương, hoa, đồ hương, thức ăn thơm ngon tốt đẹp, dùng các món kỹ nhạc, bình báu trong sạch, mọi thức đều tùy sức bày biện, thỉnh Tăng tụng các kinh Bát Nhã, Đại Phương Quảng, hoặc 1 thất, 2 thất cho đến 7 thất, nghi thức tạo lập Đạo tràng. Dâng cúng tu trì như vậy xong. Nhóm đại chúng y trước sau mà tu, trước quán tánh Không, vì hữu tình tu Tứ Vô lượng quán, phát tâm Bồ đề quán trong 10 phương tất cả Chư Phật, Bồ Tát cũng đều như vậy, gia trì nhiếp thọ như thế này: “Lực chân thật của Tam Bảo, lực gia trì nhiếp thọ của Chư Phật, chư Đại Bồ Tát, hai loại tư lương đầy đủ của lực quả báo, lực thanh tịnh không thể nghĩ bàn của Pháp giới. Chư Phật, Bồ Tát có thệ nguyện rộng lớn tạo thành quốc độ thanh tịnh y như Thất Phật Bổn Nguyện Công Đức Kinh nói, tập hội 10 phương tất cả Chư Phật, chư Đại Bồ Tát, Hộ Pháp Thánh chúng, cung diện Đạo tràng cùng tất cả các thứ cúng dường quốc độ trang nghiêm, xin nguyện chuyển thành giống như sự trang nghiêm nơi quốc độ của Phật Vô Lượng Thọ, tất cả công đức cũng không khác. Cõi Phật bằng phẳng đều do 7 báu tạo thành, đầy đủ sự
vui sướng, sạch sẽ không dơ, ánh sáng chiếu khắp, có mùi hương thơm của Chiên Đàn đốt, tán rải các hoa Trời, có ao báu dùng các thứ báu bao quanh, lại dùng các loại vàng, bạc, trân châu rải nơi đáy, có các hoa Ưu Bát La, Câu Vật Đầu, Ba Đầu Ma … lại có các loại chim thú đủ màu hót ca các tiếng vi diệu làm vui lòng đại chúng, lại có các thứ ao đầy đủ nước tắm công đức sạch sẽ rất đáng ưa muốn, lại có các loại cây báu cõi Trời mỗi cây có đủ các thứ hoa trái, ở nơi mỗi cành treo các loại báu Lưu ly, Ma ni, chuông, mõ không đánh tự kêu, phát ra các âm thanh nói các diệu Pháp. Như vậy, đầy đủ các thứ nghiêm sức. Nơi điện thắng diệu cũng dùng 7 báu nghiêm sức, ánh sáng chiếu khắp 10 phương thế giới, 10 phương thế giới đều hiện ở trong. Tất cả các quốc độ đều thanh tịnh, siêu vượt thế gian. Đây đều do oai lực thanh tịnh căn lành của Như Lai mà có. Như Lai dùng độ các Bồ Tát vô lượng chúng và các Thiên, Long, Dạ Xoa, Càn Thát Bà, A Tu La, Yết Nại Trà, Khẩn Na La, Ma Hô Lạc Già, nhân và phi nhân thường hưởng thọ các Pháp vị vui sướng khoái lạc lợi ích hữu tình, xa lìa các tạp nhiễm ưu, bi, khổ não không có việc ma. Như Lai trang nghiêm thành quách cung điện, dùng niệm Đại Bi thắng giải sanh ra. Do Xa Ma Tha Tỳ Bà Xá na nhập vào cửa giải thoát Không, Vô tướng, Vô nguyện, có vô lượng vô biên công đức, hoa vương trong cung điện báu, các toà Như Lai Liên Hoa Sư tử Thiệân Danh Xưng Cát Tường Vương, Như Lai Bảo Nguyệt Trí Nghiêm Quang Âm Tự Tại Vương, Như Lai Kim Sắc Bảo Quang Diệu Hạnh Thành Tựu, Như Lai Vô Ưu Tối Thắng Cát Tường, Như Lai Pháp Hải Lôi Âm, Như Lai Pháp Hải Thắng Sắt Du Hý Thần Thông, Như Lai Dược Sư Lưu Ly Quang Vương, Như Lai Bổn Sư Thích Ca và 10 phương thế giới tất cả Như Lai, chư Đại Bồ Tát chúng, Hộ Pháp Thánh chúng, mong các Thánh chúng nguyện lực thù thắng, tùy theo quả báo nguyện được như pháp thành tựu tối thù thắng. Lại ở trong, ngoài tùy các loại xuất ra các thứ thượng diệu tư cụ, đồ ăn uống, y phục, vòng xuyến, kỹ nhạc, các thứ tối diệu cúng dường như mây biển, như vậy tùy theo nguyện mà chuyển thành tất cả các thứ nghiêm sức, phổ biến đầy đủ các món cúng dường mây biển, cúi xin tùy ý được đầy đủ, nguyện cho các Thánh chúng cũng được như vậy, gia trì nhiếp thọ vui vẻ thọ dụng". Nói như vậy 3 lần. Lại nói: “ Sức chân thật của Tam Bảo, sức gia trì nhiếp thọ của Chư Phật, chư Đại Bồ Tát, sức quả báo viên mãn của hai món tư lương, đức thanh tịnh không tư nghì của Pháp giới, cúi mong tất cả đều tùy ý thành tựu ”. Nói 3 lần, tức nhiếp thọ gia trì cúng dường xong.
Lại thỉnh Thánh chúng, 2 gối sát đất, chắp tay cầm hoa triệu thỉnh rằng: “Một lòng phụng thỉnh: Như Lai Thiện Danh Xưng Cát Tường Vương, Như Lai Bảo Nguyệt Trí Nghiêm Quang Âm Tự Tại Vương, Như Lai Kim Sắc Bảo Quang Diệu Hạnh Thành Tựu, Như Lai Vô Ưu Tối Thắng Cát Tường Vương, Như Lai Pháp Hải Lôi Âm, Như Lai Pháp Hải Thắng Sắt Du Hý Thần Thông, Như Lai Dược Sư Lưu Ly Quang Vương, Như Lai Bổn Sư Thích Ca, 10 phương ba đời tất cả Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác, các Đại Bồ Tát, cúi xin thương xót . Chư Thế Tôn đại từ đại bi vì lợi ích đời sau 500 năm khi Tượng Pháp chuyển, tất cả hữu tình bị nghiệp chướng ngăn che, các bệnh tật bức bách thường bị u sầu, khổ não làm hại, các hữu tình tham đắm các khổ mà làm các việc ích lợi, vì muốn an lạc Trời người, y theo oai thần thù thắng vi diệu phương tiện rộng lớn của Chư Như Lai. Nay chúng con vì muốn nương dựa, muốn hộ pháp, muốn thế lực kiềân thành triệu thỉnh, duy nguyện Thánh chúng giáng lâm Đạo tràng này, cúi xin nạp thọ. Một lòng phụng thỉnh Đạo sư của chúng con là Phật Thích Ca Mâu Ni vì lợi ích hữu tình, tại Diêm Phù Đề thị hiện Niết Bàn. Xin nguyện Như Lai thần thông du hý tự tại lợi ích hữu tình, nguyện Thế Tôn đại từ đại bi nhớ nghĩ không bỏ lời nguyện, nay con muốn báo ân đức
của chúng sanh, vì tất cả hữu tình làm chỗ nương dựa, làm pháp cứu hộ, làm thế lực kiềân thành triệu thỉnh, cúi xin giáng lâm nơi Đàn xót thương nạp thọ. Một lòng triệu thỉnh Bồ Tát Ma Ha Tát Văn Thù Sư Lợi, tất cả các Bồ Tát Thánh chúng đại từ đại bi nhớ lại khi trước đã nói công đức của 7 vị Phật bổn nguyện Kinh ở trước đại chúng, nói ra lời thệ vâng theo lời Phật giữ gìn kinh điển. Chư vị Bồ Tát, nay con vì tất cả hữu tình làm nơi nương tựa, làm pháp cứu hộ, muốn thế lực kiền thành triệu thỉnh, duy nguyện giáng lâm đạo tràng thọ lãnh sự cúng dường. Một lòng phụng thỉnh xưa nay các vị gần gũi Như Lai, các vị dùng lời chân thật của Chư Thiên thừa giáo sắc của Phật thệ nguyện hộ Chánh Pháp và nguyện hộ trì bốn chúng cùng Kinh Bảy Phật Như Lai Bổn Nguyện, Thiên Vương Đại Phạm, Thiên Chủ Đế Thích, Thiên Vương Trì Quốc, Thiên Vương Tăng Trưởng, Thiên Vương Quảng Mục, Thiên Vương Đa Văn … và các Hộ pháp Thánh chúng, nay con vì các hữu tình làm nơi nương tựa, làm pháp cứu hộ, muốn thế lực kiền thành triệu thỉnh, xin nguyện giáng lâm đạo tràng thọ nạp sự cúng dường. Một lòng triệu thỉnh xưa nay ở nơi đại hội của Chư Phật, nơi trước đại chúng phát đại thệ nguyện: " Nếu có ai thọ trì, đọc tụng, cúng dường Kinh Thất Phật Như Lai Bổn Nguyện Công Đức, chúng con sẽ ủng hộ người đó khiến cho tất cả mọi điều cầu nguyện đều được đầy đủ ".
Các vị thệ nguyện hộ trì là: Đại Tướng Cung Tỳ La, Đại Tướng Phát Chiết La, Đại Tướng Mê Xí La, Đại Tướng An Để La, Đại Tướng Át Nễ la, Đại Tướng San Để La, Đại Tướng Nhơn Đà La, Đại Tướng Ba Di La, Đại Tướng Ma Hổ La, Đại Tướng Chân Đạt La, Đại Tướng Chiêu Đổ La, Đại Tướng Tỳ Yết La. Các vị Đại Tướng nhớ lại lời thệ nguyện, nay con vì các hữu tình làm chỗ nương dựa, làm chỗ cứu hộ, làm thế lực kiền thành triệu thỉnh, duy nguyện giáng lâm Đạo tràng thọ nạp các món cúng dường.”
Như vậy triệu thỉnh xong. Quán tưởng Thánh chúng từ bổn quốc dùng sức thần thông nương hư không mà lại, nơi tòa Liên Hoa Sư tử trong cung điện thắng diệu, an 8 vị Như Lai và Pháp Bảo, ở 2 bên an các Tòa của các vị Bồ Tát hoặc các vị tùy tùng của các Ngài. Phía trước, an Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi, Bồ Tát Cứu Thoát, Bồ Tát Kim Cang Thủ, thỉnh giáo các vị nhớ bổn nguyện làm các việc lợi ích, bên tả an 12 vị Đại Tướng, bên hữu để Đại Phạm Thiên Vương, Thiên Chủ Đế Thích, 4 cửa để 4 Đại Thiên Vương, quán tưởng mọi thứ cúng dường đầy đủ suy nghĩ như phần trước.
Lại dùng nước công đức… lễ bái bạch rằng: “Nam mô quy y cúng dường thập phương hết thảy Thiện Thệ các đại Bồ Tát. Nam mô quy y cúng dường Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác Thiện Danh Xưng Cát Tường Vương Phật vàvô lượng bách thiên vạn ức Bồ Tát chúng. Nam mô quy y cúng dường Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác Bảo Nguyệt Trí Nghiêm Quang Âm Tự Tại Vương Phật và vô lượng Bồ tát chúng. Nam mô quy y cúng dường Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác Kim Sắc Bảo Quang Diệu Hạnh Thành Tựu Phật và vô lượng vạn ức bá thiên Bồ Tát chúng. Nam mô quy y cúng dường Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác Vô Ưu Tối Thắng Cát Tường Vương Phật cùng vô lượng Bồ Tát Chúng. Nam mô quy y cúng dường Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác Pháp Hải Lôi Âm Phật và vô lượng Bồ tát chúng. Nam mô quy y cúng dường Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác Pháp Hải Thắng Huệ Du Hý Thần Thông Phật và vô lượng Bồ tát chúng. Nam mô quy y cúng dường Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật, Nhật Quang Biến Chiếu, Nguyệt Quang Biến Chiếu cùng vô lượng Bồ tát chúng. Nam mô quy y cúng dường Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni
Phật cùng ba vạn sáu ngàn Bồ tát chúng. Nam mô quy y cúng dường Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi, Bồ Tát Cứu Thoát, Bồ Tát Kim Cang Thủ, cùng các chúng Đại Bồ Tát. Nam mô quy y cúng dường Đại Phạm Thiên Vương, Đế Thích Thiên Chủ, Tứ Đại Thiên Vương, Hộ Pháp Thánh Hiền chúng. Nam mô quy y cúng dường Cung Tỳ La Đại Tướng thập nhị Dạ Xoa chúng.
Lại phụng cúng rằng: “ Trước các Đại Thánh, nay con dùng diệu công đức thủy, hương xoa, hương đốt, đèn sáng, đồ ăn uống, các món kỹ nhạc, tràng phan, bảo cái các món đầy đủ, cùng 10 phương cõi trời người ham thích các món tư cụ tốt nhất. Lại dùng thần lực của thần chú, lực của tín nguyện gia trì khiến đồ cúng dường biến nhiều như mây biển, cũng như hạnh nguyện của Phổ Hiền, hiện ra đầy đủ hư không các món cúng dường tối thắng. Con nay xin cúng dường Đại Thánh chúng. Con từ vô thủy sanh ra từ trước đến nay tạo ra các tội nghiệp ác, cùng làm tất cả các việc không nên làm, các việc không lành. Như vậy tất cả các tội nghiệp, nay con đều xin sám hối. Ba đời Chư Phật và các hữu tình có các căn lành, con đều xin tùy hỷ. Mười phương tất cả các Như Lai, con xin ân cần thỉnh chuyển Đại Pháp Luân. Tất cả Thế Đăng muốn vào cõi Niết Bàn, con xin ân cần thỉnh Ngài khoan nhập, ở đời dài lâu lợi lạc hữu tình. Như vậy các Thế Tôn, các Thánh chúng tại đại hội xin thương xót con. Các Đức Thế Tôn đại từ đại bi vì lợi ích cho đời sau khi Tượng Pháp chuyển 500 năm, tất cả các hữu tình nghiệp chướng sâu dày, bị các bệnh tật áp bức, thường bị buồn khổ ưu sầu làm hại, vì các hữu tình chìm đắm nơi khổ hải mà làm các việc nghĩa lợi, vì muốn trời người được lợi ích an lạc, nên Thế Tôn Ứng Chánh Đẳng Giác Thất Phật Như Lai xưa nay đã từng dùng phương tiện thiện xảo phát đại tối thắng vi diệu Thượng nguyện gia trì nhiếp thọ. Đức Phật Đạo Sư Thích Ca Mâu Ni của chúng con cũng như vậy, nói các Kinh điển gia trì nhiếp thọ Bồ Tát Mạn Thù, Bồ Tát Cứu Thoát, Bồ Tát Kim Cang Thủ, tất cả các chúng Bồ Tát thành tựu chân thật. Đức Thế Tôn đã phát đầy đủ thệ nguyện rộng lớn cũng vì muốn đầy đủ các việc nghĩa lợi của Kinh này, thành tựu các Thánh, phụ thuộc lời Phật, gia trì nhiếp thọ. Đại Phạm Thiên Vương, Đế Thích Thiên Chủ, Tứ Đại Thiên Vương, Thập nhị Dạ Xoa, các Thánh chúng, các Ưu Bà Tắc đã từng ở nơi đại hội ngày trước phát nguyện rộng lớn ủng hộâ Kinh này và người thọ trì. Do đó hôm nay con cũng muốn được như các Ngài nói ra Nghi quỹ Bổn nguyện công đức này, tạo lập Đạo tràng, tập hội tất cả Chư Phật Bồ Tát Thánh chúng, trưng bày các món cúng dường đầy đủ, xưng dương Thánh hiệu và dâng các phẩm vật cúng dường trong Đạo tràng đến tất cả Thánh chúng. Cầu xin Thánh chúng gia bị thọ hưởng, nhớ lời thệ nguyện cho chúng con được đầy đủ, cho con và các hữu tình hiện tiền tìm được tất cả các việc công đức lợi ích như Kinh đã nói (đọc ba lần)."
Sau lại nơi Thánh chúng cúng dường, phát nguyện, cầu xin. Đầu tiên. xưng niệm danh hiệu của Như Lai Thiện Danh Xưng Cát Tường Vương, thân thọ cúng dường. Cầu nguyện rằng:
- Nam mô quy y cúng dường Bạc Già Phạm Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác Thiện Danh Xưng Cát Tường Vương Phật ( 7 lần).
Sau lại thân cúng dường. Đối nơi trước Chư Phật, chư Đại Bồ tát Thánh chúng, bạch rằng : " Nếu người nghe được danh hiệu của Như Lai Thiện Danh Xưng Cát Tường Vương, chánh niệm tư duy, xưng tụng Thánh hiệu cung kính cúng dường lễ bái 7 lần,
được sức oai thần cũng như Như Lai Thiện Danh Xưng Cát Tường Vương phát thắng nguyện. Xin cho chúng con và các hữu tình bị các bịnh khổ nơi thân, bị nóng, rét, trùng đạo, yểm mị, khởi thi quỷ … tất cả các sự sợ hãi làm não hại. Xin cho chúng con từ nay cho đến chứng được Chánh Đẳng Bồ Đề, tất cả tai nạn bịnh khổ thảy đều tiêu trừ. Lại xin cho chúng con và các hữu tình bị các bệnh đui, ngọng, câm, điếc, bạch lại, điên cuồng, các thứ bệnh khổ, từ nay cho đến Chánh Đẳng Bồ Đề, các căn đầy đủ, tất cả tật bệnh, nhân khổ, xin tiêu trừ sạch. Lại cho chúng con cùng các hữu tình vì bị ràng buộc bởi tham, sân, si tạo tội Vô gián và làm các việc ác, phỉ báng Chánh Pháp, không tu việc lành nên bị đọa vào các Địa ngục Ác thú, bị nhiều bệnh khổ, xin cho chúng con có tất cả các tội Vô gián và các nghiệp chướng thảy đều trừ sạch, cho đến chứng được Vô Thượng Bồ Đề không còn bị đọa lạc vào ba ác thú, thường hưởng các sự sung sướng thù thắng ở cõi trời người. Lại xin cho chúng con và tất cả hữu tình tham đắm các khổ, vì thiếu thốn các đồ ăn mặc, trang sức, giường nằm, tiền bạc, châu báu, hương hoa, kỹ nhạc, từ nay cho đến chứng được Chánh Đẳng Bồ Đề, tất cả các đồ ăn mặc, trang sức, giường nằm, tiền bạc, châu báu, hương hoa, kỹ nhạc, các món tư sanh đầy đủ giàu có. Lại nguyện con và tất cả hữu tình, hoặc bị gông cùm xiềng xích cột trói, roi vọt đánh đập, bị các khổ não, từ nay cho đến chứng được Chánh Đẳng Bồ Đề, tất cả các khổ não trên đều được giải thoát, đều được tiêu trừ. Lại nguyện con và các hữu tình tất cả mọi việc, không cứu, không nương, không bị các khổ bức bách, nơi các chỗ hiểm nạn, các thú ác, cọp, beo, sư tử, hổ lang, rắn rít, bọ cạp làm khổ nạn muốn ăn thịt, từ nay trở đi cho đến chứng được Chánh Đẳng Bồ Đề, tất cả mọi sự khủng bố đều được giải thoát, các loại ác trên đều sanh lòng Từ, thường được an lạc. Lại nguyện con và các hữu tình, nơi chỗ biện luận tranh cãi, đấu tranh lẫn nhau sanh các loại buồn rầu, từ nay trở đi cho đến chứng được Chánh Đẳng Bồ Đề, nguyện đều giải thoát mọi khủng bố phiền não ở trên, nguyện đều tiêu trừ tất cả, đều khởi lòng Từ đối đãi với nhau. Lại nguyện con và tất cả hữu tình vì cuộc sống mà vào nơi sông biển, bị các ác phong thổi thuyền bè trôi giạt không biết nơi về, sanh lòng sợ hãi vô cùng, từ nay trở đi cho đến chứng được Chánh Đẳng Bồ Đề, không có các sự sợ hãi, mọi việc tùy tâm, đến nơi sung sướng, thọ các điều vui sướng. Lại nguyện cho con đến khi lâm chung được sanh về quốc độ của Đức Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác Thiện Danh Xưng Cát Tường Vương, liên hoa hóa sanh, ngồi nơi tòa báu Liên Hoa Sư tử, chứng được các môn Đà La Ni, Tam Ma Địa, các thứ công đức. Lại ở nơi Như Lai Thiện Danh Xưng Cát Tường Vương và 10 phương Chư Phật được nghe Diệu Pháp, thừa sự cúng dường, mong Phật hoan hỷ, trong khoảng chốc lát được đến các cõi Phật không bị ngăn ngại.
- Nam mô quy y cúng dường Bạc Già Phạm Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác Bảo Nguyệt Trí Nghiêm Quang Âm Tự Tại Vương Phật ( 7 lần).
Thứ đến thân cúng dường. Đối trước Chư Phật, chư Đại Bồ Tát và Thánh chúng. Nếu nghe được danh hiệu của Đức Phật Bảo Nguyệt Trí Nghiêm Quang Âm Tự Tại Vương, chánh niệm suy nghĩ xưng dan hiệu Ngài, cung kính cúng dường lễ lạy 7 lần, do sức oai thần như Phật Bảo Nguyệt Trí Nghiêm Quang Âm Tự Tại Vương, đã phát tối thắng vi diệu thượng nguyện. Nguyện cho chúng con và tất cả hữu tình vì các nghề làm lụng, buôn bán, cày cấy tham đắm các dục lạc khiến tâm bận rộn ưu phiền, không tu các Pháp lành giải thoát, đọa lạc trong sanh tử không ra khỏi được, bị vô lượng vô biên các thứ Suy, Lão, Bệnh, Tử, Ưu, Bi, Khổ, Não. Xin nguyện chúng con từ nay cho đến chứng
được Chánh Đẳng Bồ Đề, quần áo, đồ ăn uống, các thứ tư sanh đều đầy đủ, vàng bạc các báu dư dật, các căn lành ngày càng thêm lớn, không xa lìa Tâm Bồ đề, các khổ trong đường ác đều được giải thoát. Lại nguyện con và các hữu tình, nếu vì nóng lạnh đói khát làm cho thân bị khổ não, từ nay cho đến chứng được Vô Thượng Bồ Đề, các tội nghiệp của các đời trước đều được tiêu trừ, xa lìa các khổ, thọ hưởng các điều vui sướng ở cõi trời người. Lại nguyện con và tất cả hữu tình, nếu có thân nữ bị các thứ khổ bức bách, muốn được xa lìa sanh lòng nhàm chán, hoặc khi sanh đẻ bị các đau đớn, như vậy các loại khổ kia thảy đều tiêu trừ. Lại nguyện đời sau cho đến khi chứng được Vô Thượng Bồ Đề thường làm thân nam. Lại nguyện con và tất cả hữu tình, hoặc cha mẹ, anh em, chị em, vợ con quyến thuộc cùng bạn bè thân thiết đi vào các nơi nguy hiểm bị giặc cướp làm cho khổ sở. từ nay cho đến chứng được Vô Thượng Bồ Đề, tất cả nơi hiểm nạn, giặc cướp làm khổ bức đều được giải thoát, đều được tiêu trừ. Lại nguyện con và tất cả hữu tình nơi chỗ tăm tối làm các sự nghiệp bị các quỷ thần làm phiền nhiễu sanh ra sợ hãi, xin nguyện cho chúng con từ nay cho đến chứng được Vô Thượng Bồ Đề, tất cả các ác Khổ nạn từ chỗ tối đến chỗ sáng các ác quỷ thần khởi tâm ý từ bi, phát đại tinh tấn thừa sự cúng dường. Lại nguyện con và tất cả hữu tình làm các việc ác không tin Tam Bảo, trí huệ yếu kém không tu các Pháp lành, căn, lực, giáo đạo, niệm định, tổng trì đều không tu tập, nguyện cho chúng con từ nay cho đến chứng được Vô Thượng Bồ Đề trí huệ đầy đủ, tin sâu Tam Bảo, thảy đều tu học ba bảy phẩm Bồ đề phần. Lại nguyện con cùng tất cả hữu tình, ham thích Tiểu Thừa, không ham ưa Vô Thượng Bồ Đề, chúng con xả bỏ Nhị Thừa, phát tâm Bồ đề nơi Vô Thượng giác không có thối chuyển. Lại nguyện con và tất cả hữu tình, khi kiếp này diệt, Nam Thiên Bộ Châu lửa dục lẫy lừng nổi lên sanh đại lo rầu sợ sệt, do vì ác nghiệp thân trước mà thọ khổ não không chỗ nương dựa, xin nguyện chúng con từ nay cho đến chứng được Vô Thượng Bồ Đề, tất cả các nỗi buồn khổ đều bị tiêu trừ hưởng sự mát mẻ. Lại nguyện chúng con khi mạng chung sanh về cõi Phật Bảo Nguyệt Trí Nghiêm Quang Âm Tự Tại Vương, sanh nơi hoa sen, ở nơi các Tòa báu Liên Hoa Sư tử chứng được các môn Đà La Ni, các Tam Ma Địa, các thứ công đức, sau lại được nơi đạo sư Như Lai Bảo Nguyệt Trí Nghiêm Quang Âm Tự Tại Vương và 10 phương Như Lai, được nghe Diệu Pháp thừa sự cúng dường, được Phật hoan hỷ, trong khoảng chốc lát được đến các quốc độ của Chư Phật không có ngăn ngại.
- Nam mô quy y cúng dường Bạc Già Phạm Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác Kim Sắc Bảo Quang Diệu Hạnh Thành Tựu Phật ( 7 lần ).
Lại thân cúng dường. Nay đối trước Chư Phật, chư Đại Bồ Tát và chư Thánh chúng, nếu nghe được danh hiệu của Như Lai Kim Sắc Bảo Quang Diệu Hạnh Thành Tựu, suy nghĩ chân chánh xưng niệm danh hiệu, cung kính cúng dường lễ bái 7 lần, sức đại oai thần lực cũng như của Như Lai Đức Kim Sắc Bảo Quang Diệu Hạnh Thành Tựu, đã phát tối thắng vi diệu thượng nguyện. Nguyện cho con và tất cả hữu tình tạo các nghiệp giết hại, do ác nghiệp này phải chịu khổ nơi Địa ngục, nếu được làm người lại bị nhiều bệnh chết yểu, hoặc bị nước, lửa, đao, độc thương hại phải chịu khổ về sự chết, nguyện cho chúng con từ nay cho đến khi được Vô Thượng Bồ Đề, tất cả ác nghiệp đều được tiêu trừ, không bị bệnh tật, không bị hoạch tử, được sống lâu. Lại nguyện cho con và các hữu tình từng làm các ác nghiệp, dùng sức cướp đoạt, hoặc trộm tiền của nên đọa vào ác thú, dầu được làm người sanh vào nhà nghèo khổ, ăn mặc thiếu thốn, thọ các điều khổ, nguyện cho chúng con từ nay cho đến chứng được Vô Thượng Bồ Đề, tất cả ác nghiệp đều được
tiêu trừ, áo quần, đồ ăn uống không có thiếu thốn, đều được no đủ. Lại nguyện cho con và các hữu tình lăng bức lẫn nhau, sát hại lẫn nhau, từ nay trở đi cho đến chứng được Vô Thượng Bồ Đề, tất cả khổ não đều được tiêu trừ, ai nấy đều khởi lòng từ xem nhau như cha mẹ. Lại nguyện cho con và các hữu tình đối với các chúng sanh do Tham, Sân, Si, Mạn, Nghi, tại gia hay xuất gia, nam nữ, 7 chúng hủy phạm các học xứ của Như Lai, tạo các nghiệp ác, phí uổng của tín thí, đọa vào Địa ngục thọ các báo khổ, xin cho chúng con từ nay trở đi cho đến chứng được Vô Thượng Bồ Đề, tất cả nghiệp ác đều được tiêu trừ, đoạn các phiền não, giữ đúng giới luật, giữ gìn thân, khẩu, yÙ không có thoái chuyển.
Đà La Ni rằng:
- Đát điệt tha: Tất đế Tất đế Tô Tất đế, mục tạt ni mục khất xoa ni, mục đế tì mục đế a ma lệ tì ma lệ mang ca lệ lan nhạ yết rị tì ra na yết rị tì tát rị, phạ a lị tha tát đà ni, bàn ra ma rị a nhạ đế a thất nhạ đế tì đa bà di tô phạ rị ni, bát ra ha ma cù sắc bát ra a ma đổ sắc đệ đế, tát rị phạ a rị đề thuật tát rị phạ đà a bát ra đế ha đế, tạt đổ rô, sa sắc đế phổ đà cụ đê bà sắc đệ đế na ma tát lị phạ đát tha nga đa nẫm sa phạ ha.
Đức Thế Tôn Ứng Chánh Đẳng Giác Kim Sắc Bảo Quang Diệu Hạnh Thành Tựu xưa ngồi nơi cội Bồ đề xem khắp chúng sanh vì Tham, Sân, Si bị các phiền não, bệnh tật bức bách, oan gia sai sử hoặc bị chết oan, lại vì nghiệp ác đọa vào Địa ngục bị các khổ não, vì muốn cứu các chúng sanh đó, vì trừ nghiệp chướng rốt ráo an trụ Vô Thượng Bồ Đề nói Thần chú này. Con nay thành tâm tụng trì, dùng sức nhiếp thọ của Thần chú, nguyện cho con và tất cả hữu tình chỗ có các tội lớn, năm tội Vô Gián và các nghiệp chướng đều được tiêu trừ, các chỗ cầu nguyện đều được đầy đủ, lúc lâm chung được thấy Thế Tôn, được Ngài từ bi hộ niệm, được vãng sanh về quốc độ của Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác Kim Sắc Bảo Quang Diệu Hạnh Thành Tựu nơi tòa báu Liên Hoa Sư tử , liên hoa hóa sanh, chứng được các môn Đà La Ni, Tam Ma Địa, các thứ công đức; lại ở nơi Đạo sư Như Lai Kim Sắc Bảo Quang Diệu Hạnh Thành Tựu và 10 phương Như Lai được nghe Diệu pháp, thừa sự cúng dường, mong Phật hoan hỷ trong khoảng chốc lát được đến các cõi Phật không ngăn ngại.
- Nam mô quy y cúng dường Bạc Già Phạm Ứng Chánh Đẳng Giác Vô Ưu Tối Thắng Cát Tường Vương Phật (7 lần)
Lại thân cúng dường. Nay đối trước Chư Phật, chư Đại Bồ Tát và chư Thánh chúng. Nếu được nghe danh hiệu của Phật Vô Ưu Tối Thắng Cát Tường Vương, suy nghĩ chân chánh, cung kính cúng dường lễ bái xưng niệm danh hiệu 7 lần, được oai thần lực như Như Lai Vô Ưu Tối Thắng Cát Tường Vương đã phát đại thệ nguyện tối thắng vi diệu. Xin nguyện con và tất cả hữu tình thường bị các nỗi buồn khổ cột trói, từ nay trở đi cho đến chứng Vô Thượng Bồ Đề, tất cả mọi buồn rầu khổ não thảy đều tiêu trừ, lại nguyện không bị ái biệt ly khổ, sống lâu an ổn vui sướng. Nguyện cho con và tất cả hữu tình tạo các nghiệp ác phải vào xứ Vô Gián hắc ám, ở trong Địa ngục lớn chịu các khổ não, xin cho chúng con được hào quang của Phật Vô Ưu Tối Thắng Cát Tường Vương chiếu đến, tất cả nghiệp chướng đều được tiêu trừ, cho đến chứng được Vô Thượng Bồ Đề, giải thoát các Khổ, được sanh cõi trời người thọ các điều vui sướng. Lại nguyện con
và các hữu tình tạo các nghiệp ác sát, đạo, tà dâm trong đời này bị khổ vì đao gậy, đời sau đọa vào ác thú, dầu được thân người sanh vào nhà bần tiện, nhiều tật bệnh lại bị chết yểu, đồ ăn mặc thường bị thiếu thốn, thường bị các khổ nóng lạnh đói khát, thần sắc tối tăm, quyến thuộc bà con không hiền lương, nguyện cho chúng con từ nay cho đến chứng được Vô Thượng Bồ Đề tùy theo lời cầu, đồ ăn thức uống thảy đều đầy đủ, thân có ánh sáng như chư Thiên, quyến thuộc hiền lành. Lại nguyện chúng con và các hữu tình bị loài Dạ Xoa, các ác quỷ thần đoạt lấy tinh khí bị các bệnh và các khổ não, xin nguyện từ nay cho đến khi chứng được Vô Thượng Bồ Đề, các loại Dạ Xoa, các quỷ thần ác thảy đều bỏ chạy, đều khởi lòng từ, tinh khí đoạt mất lại được như cũ, giải thoát tất cả bệnh khổ. Lại nguyện chúng con đến lúc mạng chung được vãng sanh nơi quốc độ của Đức Phật Vô Ưu Tối Thắng Cát Tường Vương, nơi tòa báu Liên Hoa Sư tử, liên hoa hóa sanh, chứng được các môn Đà La Ni, Tam Ma Địa, các thứ công đức; lại nơi Đạo sư Như Lai Vô Ưu Tối Thắng Cát Tường Vương và 10 phương Như Lai được nghe các Diệu pháp thừa sự cúng dường mong Phật hoan hỷ, ở trong chốc lát được đến các cõi Phật không có ngăn ngại.
- Nam mô quy y cúng dường Bạc Già Phạm Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác Pháp Hải Lôi Âm Phật (7 lần).
Lại thân cúng dường. Nay đối trước Chư Phật, chư Đại Bồ Tát và chư Thánh chúng, được nghe danh hiệu của Phật Pháp Hải Lôi Âm, suy nghĩ chân chánh, xưng tụng danh hiệu 7 lần cung kính cúng dường lễ bái, được oai thần lực, như Phật Pháp Hải Lôi Âm đã phát các lời nguyện vi diệu. Nguyện con và tất cả hữu tình, nếu sanh vào các nhà tà kiến nơi Phật, Pháp, Tăng không sanh lòng tin trong sạch, xa lìa tâm Vô Thượng Bồ Đề, chúng con xin nguyện từ nay cho đến chứng được Vô Thượng Bồ Đề, tất cả tà kiến vô minh ngày đêm đều được tiêu trừ, nơi Tam Bảo sanh lòng tin sâu chắc, không lui sụt tâm Vô Thượng Bồ đề. Lại nguyện con và tất cả hữu tình sanh trong Địa ngục do gần bạn ác tạo các nghiệp ác, không tu các việc lành, chưa từng nghe qua tên Tam Bảo, sau khi chết đọa vào 3 đường ác, các chúng sanh đó nếu được nghe danh hiệu của Như Lai Pháp Hải Lôi Âm, lại nghe được Pháp văn Pháp Hải âm thanh, nguyện cho chúng con và tất cả chúng sanh từ nay cho đến chứng Vô Thượng Bồ Đề, tất cả nghiệp chướng đều tiêu trừ, gặp Thiện tri thức, không đọa ác, không lìa bỏ tâm Bồ đề, nguyện cho con và tất cả hữu tình, y phục, ẩm thực, ngọa cụ, y dược, các món tư sanh đều bị thiếu thốn, do vì như vậy sanh lòng buồn khổ, vì cầu cho được mà tạo các nghiệp ác. Xin nguyện chúng con từ nay trở đi cho đến chứng được Vô Thượng Bồ Đề, áo quần, đồ ăn uống, dồ nằm, thuốc thang, chỗ cần các đồ tư sanh tùy ý đều được không có thiếu thốn. Lại nguyện cho con và các hữu tình do các ác nghiệp đời trước kéo lại đòi hỏi không được lợi ích, cung, tên, đao, gậy muốn làm hại nhau, nguyện cho con và tất cả chúng sanh cho đến chứng được Vô Thượng Bồ Đề khiến các kẻ dùng đao, gậy mưu hại lẫn nhau đều khởi lòng từ không còn ganh ghét, xả bỏ ác niệm không còn nổi lên huống là giết hại, thường làm việc hỷ xả, các thứ thọ dụng đều biết đủ không còn tham lam. Lại nguyện cho con đến khi mạng chung được sanh về quốc độ của Phật Pháp Hải Lôi Âm, nơi tòa Liên Hoa Sư tử liên hoa hóa sanh, chứng được các môn Đà La Ni, Tam Ma Địa và các công đức; lại ở nơi Đạo sư Như Lai Pháp Hải Lôi Âm cùng 10 phương Như Lai được nghe Diệu Pháp, thừa sự cúng dường, mong Phật hoan hỷ, trong khoảng chốc lát được đến các cõi Phật không có ngăn ngại.
Dược Sư Lưu Ly Quang Thất Phật Bổn Nguyện Công Đức Kinh Niệm Tụng Nghi Quỹ
Quyển Thượng
NGHI QUỸ NIỆM TỤNG
KINH DƯỢC SƯ LƯU LY QUANG THẤT PHẬT
BỔN NGUYỆN CÔNG ĐỨC
Mật Tạng Bộ 2 No- 925b ( Tr.37 - Tr.41 )
Quyển Hạ
Tam Tạng Sa Môn Sa La Ba phụng Chiếu dịch Phạn ra Hán văn. Thiện Hộ Tôn Giả soạn
Việt Dịch : Sa Môn Thích Quảng Trí
- Nam mô Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Như Lai.
- Nam mô quy y cúng dường Bạc Già Phạm Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác Pháp Hải Thắng Huệ Du Hý Thần Thông Như Lai ( 7 lần )
Lại thân cúng dường. Nay đối trước Chư Phật, chư Đại Bồ tát, và chư Thánh
chúng. Nếu nghe danh hiệu của Phật Pháp Hải Thắng Huệ Du Hý Thần Thông, chân
chánh suy nghĩ xưng niệm danh hiệu cung kính cúng dường lễ bái 7 lần thì được sức
oai thần như Phật Pháp Hải Thắng Huệ Du Hý Thần Thông đã phát các thệ nguyện tối
thắng vi diệu rộng lớn. Nguyện cho con cùng tất cả hữu tình tạo các nghiệp ác, cày cấy
trồng tỉa làm chết các sanh mạng, sau lại buôn bán dối gạt lừa đảo, can qua chiến trận
thường hay giết hại lẫn nhau, nguyện cho chúng con từ nay cho đến chứng được Vô
Thượng Bồ Đề, tất cả mọi thứ cần dùng cho cuộc sống không cần lao cầu, tùy tâm đầy
đủ. Lại nguyện cho con và tất cả hữu tình, tạo ra các tội về 10 nghiệp ác, giết hại … do
vì thế mà đọa vào Điạ ngục, nguyện cho chúng con từ nay cho đến chứng được Vô
Thượng Bồ Đề, nơi 10 nẻo lành đều được thành tựu, chẳng đọa vào nẻo ác. Lại
nguyện cho con và tất cả hữu tình lệ thuộc nơi người không được tự tại, hoặc cùm trói,
giam giữ, đánh đập các thứ cực hình, nguyện cho chúng con từ nay cho đến chứng
được Vô Thượng Bồ Đề, tất cả các ách nạn cùm trói roi vọt đều được giải thoát, được
oai đức tự tại đầy đủ. Lại nguyện cho con và các hữu tình làm các nghiệp ác, thọ mạng
ngắn ngủi, không bị các thứ hoạch tử, khi lâm mạng được nghe danh hiệu của Như Lai
Pháp Hải Thắng Huệ Du Hý Thần Thông, chánh niệm hiện tiền, giải thoát tất cả ách
nạn, thường sanh trung quốc, hưởng mọi sự vui sướng, nguyện cho chúng con từ nay
cho đến chứng được Vô Thượng Bồ Đề, vĩnh viễn xa lìa các nạn, thường sanh nơi cõi
trời người, hưởng mọi điều vui sướng. Lại nguyện cho đến lúc lâm chung được sanh
về cõi Phật Pháp Hải Thắng Huệ Du Hý Thần Thông, nơi tòa Liên Hoa Sư tử liên hoa
hóa sanh, chứng được các môn Đà La Ni, Tam Ma Địa và các thứ công đức. Lại ở nơi
Đạo sư Như Lai Pháp Hải Thắng Huệ Du Hý Thần Thông và 10 phương Như Lai
được nghe Diệu pháp, thừa sự cúng dường, mong Phật hoan hỷ, chỉ trong phút chốc
được đến các cõi Phật không sự ngăn ngại.
- Nam mô quy y cúng dường Bạc Già Phạm Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật ( 7 lần )
Lại thân cúng dường. Nay đối trước Chư Phật, chư Đại Bồ Tát, và chư Thánh chúng. Nếu được nghe danh hiệu của Phật Dược Sư Lưu Ly Quang, chân chánh suy nghĩ xưng niệm danh hiệu cung kính cúng dường lễ bái 7 lần thì được sức oai thần, như Đức Như Lai Dược Sư Lưu Ly Quang đã phát các nguyện rộng lớn vi diệu. Nguyện cho chúng con và tất cả hữu tình có đầy đủ 32 tướng Trượng phu, 10 vẻ đẹp dùng trang nghiêm thân, ánh sáng chiếu khắp vô lượng vô biên thế giới như Phật không khác. Lại nguyện cho con và tất cả hữu tình thân như Lưu ly trong ngoài sáng suốt, không có dơ bẩn, hào quang rộng lớn, công đức cao sâu, thân thường an ở trong lưới rực rỡ sáng hơn mặt trời mặt trăng. Lại nguyện con và tất cả hữu từ nay cho đến chứng được Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ Đề được như Phật Lưu Ly Quang Như Lai không khác, tất cả chúng sinh nơi tăm tối đều được khai hiểu thấy lẫn nhau, tùy ý muốn mà làm các việc. Lại nguyện con và tất cả hữu tình được Đức Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai dùng vô lượng trí huệ phương tiện khiến cho con và tất cả chúng sanh từ nay cho đến khi chứng được Vô Thượng Bồ Đề đều được vô tận các thứ cần dùng, không có ai phải chịu thiếu thốn. Lại nguyện cho con và tất cả hữu tình làm các việc tà ác, xin cho chúng con từ nay cho đến chứng được Vô Thượng Bồ Đề khiến được an trụ trong Đạo Bồ đề, nếu tu theo Thanh Văn Độc Giác Tiểu Thừa đều dùng Đại Thừa mà độ cho. Lại nguyện cho con và các hữu tình ở trong Phật pháp tu hành phạm hạnh được đầy đủ không khuyết phạm, gìn giữ ba nghiệp không có sai phạm. Lại cho chúng con từ nay cho đến chứng được Vô Thượng Bồ Đề nếu có bị hủy phạm được lại thanh tịnh, không đọa ác thú. Lại nguyện con và tất cả hữu tình các căn không đủ, xú, lậu, ngoan, ngu, câm điếc, khờ khạo … lác hủi điên cuồng, các thứ bệnh khổ bức não, nguyện cho chúng con và tất cả chúng sanh từ nay cho đến chứng được Vô Thượng Bồ Đề tất cả bệnh khổ đều được tiêu trừ, các căn đầy đủ, trí huệ trang nghiêm. Lại nguyện cho con và tất cả hữu tình bị nghèo cùng khốn khổ không có chỗ dựa, không có chỗ nương nhờ, không thuốc thang, không thân thích, không nhà cửa, nguyện cho con và tất cả hữu tình từ nay cho đến chứng được Vô Thượng Bồ Đề, tật bệnh tiêu trừ, quyến thuộc đông đủ, các món cần dùng không có thiếu thốn, thân tâm an lạc. Lại nguyện con và tất cả hữu tình vì làm thân nữ có trăm điều xấu ác bức não rất
muốn xả bỏ, nguyện cho chúng con và tất cả hữu tình từ nay cho đến chứng được Vô Thượng Bồ Đề tất cả đều được chuyển nữ thành nam, có đầy đủ tướng Trượng phu. Lại nguyện cho con và tất cả hữu tình vì bị lưới ma và các ngoại đạo cột trói, hoặc lạc vào rừng rậm ác kiến, xin nguyện cho con và tất cả hữu tình từ nay cho đến chứng được Vô Thượng Bồ Đề đều được nhiếp thọ, xa lìa tà kiến, sanh được chánh kiến, từ từ tu được các hạnh Bồ Tát, mau chứng Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ Đề. Lại nguyện cho con và tất cả hữu tình bị pháp vua, luật nước giam giữ tù đày, cột trói đánh đập, mọi thức hình phạt, bị các thứ khổ như vậy bức bách lo buồn không được an ổn vui vẻ, nguyện cho con và tất cả hữu tình từ nay cho đến chứng được Vô Thượng Bồ Đề, nhờ oai lực của Phật tất cả mọi sự buồn khổ đều được giải thoát. Lại nguyện cho con và tất cả hữu tình đói khát khổ não vì cầu miếng ăn tạo các nghiệp ác, nguyện con và tất cả hữu tình từ nay cho đến chứng được Vô Thượng Bồ Đề, nương nhờ oai lực của Phật được đầy đủ các món ăn uống ngon lạ tùy ý đầy đủ, sau đó lại dùng Pháp vị khiến được an lạc. Lại nguyện cho con và các hữu tình thân không y phục, bị các muỗi mòng nóng lạnh cắn đốt bức não, nguyện cho con và tất cả hữu tình từ nay cho đến chứng được Vô Thượng Bồ Đề, mong nhờ oai lực của Phật tùy ý mong muốn tức được đầy đủ các thứ y phục tốt đẹp, các thứ báu trang nghiêm, hoa hương kỹ nhạc, giàu có không thiếu, không còn bị khổ não bức bách, lại được đầy đủ các giới của bậc Thánh, mau xa lìa phiền não, mau được an trụ nơi các giải thoát, vui sướng, cho đến khi mạng chung tức được vãng sanh nơi quốc độ của Đức Phật Dược Sư Lưu Ly Quang Vương, nơi tòa báu Liên Hoa Sư tử liên hoa hóa sanh, chứng được các môn Đà La Ni, Tam Ma Địa và các thứ giải thoát. Sau đó nơi Đạo sư Như Lai Dược Sư Lưu Ly Quang vương và 10 phương Như Lai được nghe Diệu Pháp, thừa sự cung kính cúng dường mong Phật hoan hỷ, trong khoảng chốc lát được dạo đi khắp 10 phương cõi Phật không ngăn ngại.
- Nam mô quy y cúng dường Bạc Già Phạm Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác Thích Ca Mâu Ni Phật ( 7 lần ).
Lại thân cúng dường. Nay đối trước Chư Phật, chư Đại Bồ Tát, và chư Thánh chúng. Nếu được nghe danh hiệu của Phật Thích Ca Mâu Ni, chân chánh suy nghĩ xưng niệm danh hiệu cung kính cúng dường lễ bái 7 lần thì được sức oai thần Đức Bổn Sư của chúng ta. Phật Thích Ca Mâu Ni vì các hữu tình đời sau bị các nghiệp chướng ràng buộc, các thứ bệnh khổ bức bách, bị các lo âu buồn rầu quấy nhiễu, nghèo cùng đói khổ xâm hại, vì muốn trời người được lợi ích an lạc, nhiếp thọ đầy đủ các việc nghĩa lợi. Bảy Phật Như Lai dùng phương tiện thiện xảo rộng lớn hoan hỷ bảo Ngài Mạn Thù Thất Lợi: “Nếu có người muốn xa lìa các phiền não, muốn cúng dường kinh Như Lai Bổn Nguyện Công Đức, ngày đêm sáu thời suy nghĩ nghĩa lý. Trước tiên nên tạo 7 hình tượng Phật ở nơi sạch sẽ thanh tịnh, dùng các món hương hoa, treo các phướng lọng cùng các món ăn uống ngon ngọt tốt đẹp mà cúng dường. Trong 7 ngày thanh tịnh trì 8 phần trai giới, ở nơi tịnh thất phát đại thệ rằng: "Xin nguyện được sanh nơi quốc độ của Đức Phật kia, ở nơi các hữu tình phải khởi tâm từ bi làm các việc lợi ích an lạc, tức nói chú rằng:
- Đát điệt tha: cử nhi cử nhi duệ miệt ni nhi hô ma đế ma đế tát phạ đà đát tha nga đa tam ma điệt đế sắc trí đế, a đế ma đế bà lệ bát bà thuật đà ni tát lị phạ bát na na thiết da, ma ma nhạ đế nhạ đa đế miệt minh miệt củ miệt bồ đà khư xá bà rị thuật đà ni đà miệt ni dà nhi, mật rô mật rô thất khư rị tát rị phạ a dà ra nhi rị đổ ni bà ra ni bồ đế tô bồ đế bồ đà a để sắc đề đế nõa ra càn đổ nhi tát lị phạ đế phạ, tam miệu a tam miệu tát ma na a lan đổ tát lị phạ bồ đà, bồ đề tát đỏa, thuyết nhi thuyết nhi bát ra thiết mạn đô nhi, tát lị phạ duệ để bát xá bà biệt đà da, bộ ô rị ni, bộ ra da nhi, tát lị phạ a thiết da tì lưu ly da bát ra đế bà tích tát rị phạ bát bà khất xoa dương già rị xoa ha.
Nếu có kẻ trai lành, người gái tín dùng Lưu ly Bảo Quang Đà La Ni chí tâm tụng trì mãn một ngàn tám biến, Đức Như Lai kia cùng các Bồ Tát đều lại hộ niệm, Bồ Tát Chấp Kim Cang, Phạm Thiên, Đế Thích, Tứ Thiên Vương … cũng lại ủng hộ, người này dầu có phạm 5 tội Vô Gián, tất cả các nghiệp chướng đều tiêu trừ, không bệnh tật, được sống lâu không bị hoạch tử, bệnh tật, trộm cướp, giặc giã lại làm hại, chiến đấu, kiện cáo, hiềm khích, đói khát mau tiêu trừ, tất cả các thứ khủng bố đều khởi lòng từ, chỗ có các điều cầu nguyện đều được xứng ý. Lại nguyện cho con và tất cả hữu tình vì làm các việc lợi ích, y theo nghi quỹ tạo lập Đàn tràng tập hội Bảy Đức Như Lai và chư Thánh chúng cúng dường phát nguyện tụng Đà La Ni, làm sao nhiếp thọ được như Kinh đã nói, nhiếp thọ tất cả công đức thiện lợi, nguyện con và tất cả hữu tình ở trong đời này được đầy đủ như ý, xin nguyện từ bi thương xót nạp thọ, lời chân thật của Như Lai là không có sai khác. Nguyện tất cả lời nguyện của con đều được thành tựu. Nguyện hộ nhiếp thọ! Nguyện hộ nhiếp thọ!
Chiếu trừ vô minh đèn tối thắng
Diệt tam bệnh khổ thuốc thang hay
Pháp màu vi diệu là hơn cả
Con xin đảnh lễ và cúng dường
Lực chân thật nhiếp thọ của Pháp bảo tối thượng, con nguyện đời đời kiếp kiếp
luôn luôn được thọ trì, nguyện xin nạp thọ, nguyện xin nạp thọ. Đại Thánh Bồ Tát Ma
Ha Tát Mạn Thù Sư Lợi tâm lìa các cấu không một tỳ vết, đầy đủ vô lượng các thứ
công đức, thân đầy đủ các thứ trang nghiêm sáng sủa thanh tịnh, hay tịnh trừ các nẻo
ác thú, tất cả trời, người, A Tu La, các chúng Tiên thảy đều đảnh lễ nơi tòa sen của
Ngài, con cũng như vậy, xin được cung kính đảnh lễ quy y
- Nam mô quy y cúng dường Đại Thánh Mạn Thù Thất Lợi Bồ Tát Ma Ha Tát ( 7 lần ).
Lại thân cúng dường. Bạc Già Phạm, Mạn Thù Thất Lợi vì thế giới các loại hữu
tình bị nghiệp chướng ngăn che, các loại bệnh tật bức não, bị các thứ buồn lo nhiễu
hại, các thứ tà kiến ràng buộc khiến cho lui sụt các địa vị, vì thương xót tất cả các
chúng sanh đó, khiến người được nghe danh hiệu của Đức Phật kia, nơi đạo Bồ đề
quyết định không thoái chuyển, tất cả tội nghiệp, tất cả chướng nạn đều tiêu trừ, khiến
các loài ma không còn quấy phá, các ác khổ não thảy đều không còn, các điều cầu
nguyện đều được đầu đủ tùy tâm xứng ý. Do đó, Đạo sư Phật Thích Ca Mâu Ni nói
danh hiệu của Bảy Phật Như Lai cùng các đại nguyện thù thắng vi diệu, nay nên ở nơi
trước chúng hội mà thưa thỉnh rằng: “ Bạch Thế Tôn! Con ở nơi đời Mạt Pháp sau
này, nếu có người thọ trì đọc tụng kinh điển này, hoặc vì người khác mà giải nói, hoặc
tự chép hoặc bảo người chép cung kính tôn trọng, lại dùng các thứ hương hoa, hương
xoa, hương bột, hương đốt, tràng hoa, vòng xuyến, phướng lọng cùng các thứ kỹ nhạc
mà cúng dường, khiến các thiện nam tín nữ được nghe danh hiệu của Bảy Vị Phật cho
đến trong khi ngủ cũng dùng danh hiệu của Phật nói cho họ biết, lại dùng các lụa ngũ
sắc, chỉ ngũ sắc treo và làm đãy đựng Kinh này an để nơi tòa cao, bấy giờ có bốn Đại
Thiên Vương và các quyến thuộc và trăm ngàn chư Thiên đều lại chỗ đó để cúng
dường ủng hộ người đọc tụng Kinh này, nên biết nơi này không bị các nạn hoạch tử,
cũng không bị các ác quỷ thần đoạt lấy tinh khí, dầu có bị đoạt cũng được hoàn lại
thân tâm an lạc như trong Kinh nói. Lời của Đại Thánh là chân thật không thay đổi,
không quên lời thệ nguyện, xin nguyện thọ lãnh sự cúng dường nơi đây. Lại nguyện ở
trước Như Lai trong chúng hội, cần thỉnh cảnh giác các vị từ xưa đã phát nguyện lớn
khiến cho con đây đủ các cách thức nghi quỹ đạo tràng. Lại nguyện con và tất cả hữu
tình, hiện tiền được đầy đủ các công đức nghĩa lợi như trong Kinh đã nói. Nguyện xin
nạp thọ ! Nguyện xin nạp thọ !
- Nam mô cúng dường Cứu Thoát Bồ Tát Ma Ha Tát (7 lần)
Lại thân cúng dường. Đại Thánh Bồ Tát Cứu Thoát vì đời ác thế, các hữu tình bị
các nhân khổ phiền não, muốn lợi ích các chúng sinh đó, ở trước Thế Tôn nơi trong
đại chúng mà bạch Phật rằng: “Bạch Thế Tôn! Đời sau này lúc Tượng Pháp chuyển,
nếu chúng sanh bị các bệnh tật làm khổ não, thân hình gầy ốm ăn uống không được,
miệng đắng cổ khô, mắt thấy đen tối, tướng chết thiện ra, cha mẹ, anh em, vợ con
quyến thuộc bè bạn vây quanh than khóc, thân nằm tại chỗ đã thấy Sứ giả của vua
Diêm Ma đem thần thức đến trước mặt Vua. Khi đó các vị thần Câu Sanh tùy theo các
việc ác thiện mà người đó làm thảy đều ghi rõ đem dâng lên vua. Vua Diêm Ma tức y
theo đó mà xử tội hành phạt. Bấy giờ nếu các quyến thuộc … vì người bệnh kia quy y
Đức Như Lai Dược Sư Lưu Ly Quang và các Như Lai, dùng các món trang nghiêm
như Pháp Cúng dường, thì thần thức kẻ kia hoặc trải qua 7 ngày, 14 ngày, 21 ngày, 49
ngày như vừa trải qua mộât giấc chiêm bao, hiểu biết các việc thiện báo và các quả
báo, do tự chứng biết nghiệp ác là không sai, nên cho đến lúc chết cũng không dám
làm ác nữa. Đại Đức A Nan, người làm cúng dường nếu vì bệnh nhân bị các tai ách
muốn được giải thoát nên vì kẻ kia 7 ngày 7 đêm thọ 8 trai giới, dùng các món ăn
uống và các vật cần dùng cúng dường Phật, Pháp, Tăng, ngày đêm sáu thời cung kính
lễ bái hành đạo. Lễ bái bảy Đức Phật Như Lai, tụng kinh này 49 biến, đốt 49 ngọn
đèn, tạo 7 tượng Như Lai, trước mỗi tượng để 7 ngọn đèn lớn bằng như bánh xe, đốt
luôn trong 49 ngày đêm đừng để tắt, làm phướng đủ màu 49 cái, mỗi cái dài 49 tấc,
phóng sanh 49 loại. Đại Đức A Nan! Đây là nghi thức cúng dường 7 Đức Như Lai.
Nếu Sát Đế Lợi Quán Đảnh Vương tử có các tai nạn khởi lên như là: nạn tật dịch,
nước khác xâm lăng, trong nước có phản nghịch, tinh tú biến quái, mặt trời mặt trăng
mưa gió trái mùa, các vị Sát Đế Lợi Quán Đảnh Vương kia bấy giờ đối với tất cả hữu
tình khởi lòng đại bi mở thả tù ngục, phóng các sanh mạng rồi y theo Pháp Cúng
dường Đức Phật Dược Sư Lưu Ly Quang và các Phật Như Lai, do căn lành này và nhờ
oai thần của Như Lai gia hộ khiến trong nước tức được an ổn, mưa hòa gió thuận, lúa
thóc được mùa, chúng sanh trong nước không bệnh, an lạc, không có các bạo ác Dạ
Xoa Quỷ Thần làm náo loạn, tất cả ác tướng đều ẩn mất, các Sát Đế Lợi và Quán
Đảnh Vương kia được sống lâu không bệnh tật, được tự tại, cũng như trong kinh đã
nói, các ý chỉ của Đại Thánh là chân thật không có sai khác, không bỏ lời thệ, cúi xin
nạp thọ tất cả món cúng dường ở trong Đàn này. Lại nguyện ở trong hội của Như Lai,
ân cần cầu thỉnh các Ngài không bỏ lời thệ làm cho con được đầy đủ nghi quỹ đạo
tràng. Lại nguyện con và các hữu tình được tất cả công đức thiện lợi y như trong kinh
đã nói. Xin nguyện nạp thọ ! Xin nguyện nạp thọ !
- Nam mô quy y cúng dường Bồ Tát Ma Ha Tát Kim Cang Thủ
- Nam mô quy y cúng dường Đại Phạm Thiên Vương, Thiên Chủ Đế Thích, Thiên Vương Trì Quốc, Thiên Vương Tăng Trưởng, Thiên Vương Quảng Mục, Thiên Vương Đa Văn, Ưu Bà tắc cùng chư Hộ Pháp nhất thiết Thánh chúng ( 7 lần )
Lại thân cúng dường. Bồ Tát Ma Ha Tát Kim Cang Thủ, Thiên Vương Đại Phạm, Thiên Chủ Đế Thích, Thiên Vương Trì Quốc, Thiên Vương Tăng Trưởng, Thiên Vương Quảng Mục, Thiên Vương Đa Văn, chư Ưu Bà Tắc cùng nhất thiết Hộ Pháp Thánh chúng. Xưa đã từng ở trong hội dùng Thiên Thật Ngữ mà bạch Phật rằng: “ Chúng con đã được nghe công đức thù thắng của 7 vị Phật, lại thấy chư Phật được thân cận cúng dường Thế Tôn. Nếu ở nơi nào có kinh điển này cùng danh hiệu của 7 Đức Phật và Pháp Đà La Ni lưu thông, cúng dường cho đến biên chép, chúng con nương nhờ oai lực của Phật tức đến nơi kia ủng hộ, Quốc vương, Đại thần, thành, ấp, tụ lạc, thiện nam tín nữ … không có các khổ và các bệnh tật làm não hại. Chúng con muốn báo ân đức của Phật, muốn cho tất cả không bị hoạch tử, nơi đấu tranh kiện tụng đều bị tiêu diệt. Tất cả nguyện cầu đều được đầy đủ, thường được an vui, tiền tài đồ ăn uống giàu có đầy đủ, tất cả mọi thời đều
được ủng hộ. Bạch Thế Tôn ! Nay chúng con ở nơi trước Phật lập thề nguyện: "Nếu có Thiện nam Tín nữ nhớ nghĩ đến con và đọc chú này. Tức nói chú là:
- Đát diệt tha: A cử ma cử đà ra cử ma ma cử cử lệ ha hô hê ma la ma la ma la ma la thô thô lệ thô lệ sa ha.
( TADYATHÀ : AKU MAKU TRAKU MAMAKU KURE HA HO HE MARA MARA MARA MARA PUCURE PURE SVÀHÀ )
Nếu Thiện nam Tín nữ tụng danh hiệu của 7 Đức Phật và đọc chú này, chép viết cúng dường, hiện đời tức được sống lâu không bệnh tật, xa lìa các khổ não không đọa tam đồ, được bất thoái chuyển cho đến Bồ đề, tùy ý vãng sanh về các cõi Phật, được thấy Chư Phật, đắc Túc Mạng Trí, đủ Niệm, Định, Huệ ".
Bấy giờ, Bồ Tát Ma Ha Tát Chấp Kim Cang đi đến nơi Bồ Tát mà bạch rằng: “Con cũng xin ủng hộ người thọ trì kinh trong đời vị lai, khiến không có các khổ não, mọi việc cầu xin đều được đầy đủ. Nay con xin nói Đà La Ni rằng:
- Nam mô tát đa nẫm, tam miệu tam bồ đà. Nam mô tát lị phạ, phạ nhựt ra đà ra nẩm, đát điệt tha: Úm phạ nhựt lị, phạ nhựt lị, ma ha phạ nhựt lị, phạ nhựt ra bà thiết đà rị ni, tam ma tam ma tam mạn đa, a bát ra đế ha đà phạ nhựt lị thiết ma thiết ma bát ra thiết mạn đô tát lị phạ tì da đà dà cử rô cử rô, tát lị phạ dà la ma ni tát ma da, ma nổ sắc ma ra bà dà phạn phạ nhựt ra bà ni, tát lị phạ a thương di bát lị bô ra di sa phạ ha.
( NAMO SAPTÀNÀM SAMYKSAMBUDDHA. NAMO SARVA VAJRADHÀRANÀM TADYATHÀ : OM- VAJRI VAJRI MAHÀ VAJRI VAJRA PA’SE DHÀRANI SAMA ASAMA SAMANTA APRATIHATA VAJRI ‘SÌMA ‘SÌMA PRA’SÌMANTU SARVA VYADHÀYA KURU KURU SARVA GRA MANI MANUSMARA BHAGAVAM VAJRAPÀNI SARVA A’SAM ME PARIPÙRNI SVÀHÀ ).
Bạch Thế Tôn ! Nếu có người trì danh hiệu của 7 Đức Phật, nhớ niệm công đức bổn nguyện của Ngài. Tụng trì Thần chú lưu bố cho người, con sẽ khiến cho kẻ kia tất cả sở nguyện đều được đầy đủ không có thiếu thốn. Nếu muốn thấy con để hỏi việc thiện ác, cần nên chép kinh này tạo tượng của 7 Đức Phật và tụng Bồ tát Chấp Kim Cang, ở trong tượng để Xá Lợi Phật, trước tượng như trong kinh đã nói, dùng các hương hoa, tràng phan, bảo cái, các món ăn uống ngon ngọt, các món kỹ nhạc cúng dường lễ bái đi nhiễu quanh tượng, đối với chúng sanh khởi tâm từ bi, thọ 8 trai giới, ngày 3 thời tắm rửa, 3 thời thay y phục. Từ ngày mùng Tám cho đến ngày Rằm mỗi tháng mỗi ngày chí tâm tụng 108 biến, con ở trong mộng tức hiện thân chỉ bảo rõ ràng, tất cả nguyện cầu đều được thành tựu đầy đủ như trong kinh đã nói. Diệu chỉ của Đại Thánh là chân thật không hư dối. Xin nhận nơi đầy sự cúng dường này, lại xin Từ bi ban cho con đầy đủ nghi quỹ đạo tràng. Lại nguyện con và tất cả hữu tình, hiện tiền đều được đầy đủ công đức nghĩa thiện lợi. Nguyện xin nạp thọ ! Nguyện xin nạp thọ! Lại nguyện Thất Phật Công Đức Bổn Nguyện Kinh cùng tất cả các kinh điển Pháp bảo trụ lâu ở đời rộng khắp 10 phương, được xương long hưng thịnh lợi lạc. Lại nguyện chúng con thọ trì Pháp môn và trong nước tất cả nhân dân, muôn sanh vật, tất cả các tật bệnh, ách nạn, sấm sét, mưa đá làm
hại mùa màng, yêu tinh biến quái, các thứ ác tướng, các điềm không lành làm hại chúng sanh, các loài quỷ thần hung ác thường qua lại làm ra các nạn … đều do chúng con bị chiêu các nghiệp đời trước hoặc do nghiệp trong đời này hoặc do ông bà cha mẹ gây nên, nay xin cho chúng con ở trong đất nước được oai đức tự tại, quyến thuộc tư cụ sum vầy, tất cả các chướng ngại ở nơi quỷ thần đều dùng phương tiện điều phục, xả bỏ tâm oán ghét, khởi lòng thương xót lẫn nhau, tất cảcác việc xấu ác đều ẩn mất. Từ nay trở đi, tất cả các ác quỷ thần không được khởi ác tâm, không gây chướng ngại. Tùy theo các loại ở nơi trước Phật đều phát đại nguyện, an trú nơi lời thệ, an ở trong Tam Muội, thường làm việc lành như vậy trước mặt. Cúi xin nạp thọ ! Cúi xin nạp thọ !
Cát Tường Oai Đức Ưu Bà Tắc 12 Đại tướng Dược Xoa:
- Nam mô quy y cúng dường Đại Tướng Cung Tỳ La Dạ Xoa.
- Nam mô quy y cúng dường Đại Tướng Phạt Chiết La Dạ Xoa.
- Nam mô quy y cúng dường Đại Tướng Mê Xí La Dạ Xoa.
- Nam mô quy y cúng dường Đại Tướng An Để La Dạ Xoa.
- Nam mô quy y cúng dường Đại Tướng Át Nễ La Dạ Xoa.
- Nam mô quy y cúng dường Đại Tướng San Để La Dạ Xoa.
- Nam mô quy y cúng dường Đại Tướng Nhân Đà La Dạ Xoa.
- Nam mô quy y cúng dường Đại Tướng Ba Di La Dạ Xoa.
- Nam mô quy y cúng dường Đại Tướng Ma Hổ La Dạ Xoa.
- Nam mô quy y cúng dường Đại Tướng Chân Đà La Dạ Xoa.
- Nam mô quy y cúng dường Chiêu Đổ La Dạ Xoa.
- Nam mô quy y cúng dường Đại Tướng Tỳ Yết La Dạ Xoa.
Lại thân cúng dường. Cát Tường Oai Đức Ưu Bà Tắc 12 Dạ Xoa chúng. Mỗi vị Đại Tướng đều có 7 ức Dạ Xoa làm quyến thuộc. Xin thương xót con ở nơi đại hội nói lời chân thật và phát nguyện trước Phật : “Bạch Thế Tôn ! Chúng con nương vào oai lực của Phật, được nghe danh hiệu của Phật Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai, không còn sợ sệt nơi các đường ác, chúng con cùng nhau đều đồng một lòng cho đến suốt đời xin quy y Phật, Pháp, Tăng, thề không bỏ một hữu tình nào, thường làm việc lợi ích an lạc, bất cứ chỗ nào hoặc thành ấp tụ lạc nơi rừng cây vắng vẻ, nếu có ai đọc tụng lưu bố kinh này, hoặc thọ trì danh hiệu của 7 vị Phật cung kính cúng dường, chúng con và quyến thuộc ủng hộ người đó thoát khỏi các nạn, mọi việc mong cầu đều như ý muốn ".
Lúc bấy giờ, Thế Tôn bảo các vị Đại Tướng Dạ Xoa rằng: "Lành thay! Lành thay! Các Đại Tướng Dạ Xoa của các ông muốn đáp đền ân đức của 7 Phật Như Lai mà làm lợi ích an lạc tất cả hữu tình ".
" Bạch Thế Tôn ! Chúng con bây giờ xin dẫn các thiện chúng lại thọ cúng dường, rủ lòng từ bi thọ lãnh cúng dường đầy đủ tất cả nghi quỹ đạo tràng của con. Lại nguyện cho con và tất cả hữu tình hiện tiền được đầy đủ công đức thiện lợi như kinh đã nói. Xin nguyện nạp thọ ! Xin nguyện nạp thọ ! Lại nguyện Thất Phật bổn Nguyện Công Đức Kinh và các kinh điển Pháp bảo trụ lâu nơi đời, lưu bố 10 phương, làm đại lợi ích cho tất cả nhân dân, tất cả hữu tình. Lại nguyện chúng con và tất cả hữu tình tất cả bệnh khổ tai ách hiểm, nạn sấm sét, mưa đá làm hại mùa màng, yêu tinh quỷ quái, tất cả điều xấu ác làm não loạn chúng sanh như vậy. Chúng con do nghiệp đời trước tạo ra hay do đời này thành kết quả hoặc ông bà tổ tiên cha mẹ gây ra, xin cho chúng con ở trong đất nước có oai đức tự tại, quyến thuộc tư cụ đầy đủ. Tất cả quỷ thần làm chướng ngại đều theo các loại làm các phương tiện tự điều phục, xả bỏ tâm ganh ghét giận dữ, khởi lòng từ thương xót lẫn nhau, tất cả mọi sự xấu ác đều ẩn mất, khiến cho các quỷ thần không có sanh lòng ác làm chướng ngại, các loài đều ở nơi trước Phật thọ nguyện an trụ trong lời thề và trong Tam Ma Địa, thường làm các vệc lành, như vậy Cúi xin nạp thọ ! Cúi xin nạp thọ ! Như vậy mỗi mỗi cúng dường phát nguyện xong. Lại khi tụng Đà La Ni, trước tắm rửa sạch sẽ, trước Chư Phật Thánh cúng dường cầu đảo rằng: “ Y theo Thất Phật Bổn Nguyện Công Đức Kinh Nghi Quỹ, tạo lập đạo tràng cúng dường hương hoa, phụng thỉnh BaÏc Già Phạm Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác, 7 vị Phật, Như Lai Thích Ca Mâu Ni Phật, tất cả chúng Thánh xưng niệm danh hiệu cúng dường lễ bái cũng như bổn nguyện, phát đại thệ nguyện, đối trước chư Thánh sám hối tội chướng, tùy hỷ các Thiện căn, thỉnh Chuyển Pháp Luân, thỉnh tại thế gian, các thiện căn lực lại nhờ công đức nhiếp thọ vi diệu thượng nguyện lực. Lại nguyện Đại Thánh Hoàng đế từ vô thủy trở lại, tất cả tội nghiệp đều được tiêu trừ, không có tật bệnh, sống lâu. Thế xuất thế gian tất cả mọi việc đều được sung túc đầy đủ, tất cả phước trí hiện tiền, mau chứng Pháp Vương, làm chủ Tam giới, Ứng chánh Đẳng Giác, Kim Cang Bảo vị, trăm quan thứ dân không có trong ngoài các nạn, an vui giàu có, cuối cùng nguyện chứng Vô Thượng Bồ Đề. Lại nguyện trong nước tất cả nhân dân và tất cả chúng sanh, tất cả tật bệnh tai nạn, lúa thóc được mùa, trộm cướp vắng bóng, tất cả việc không lành đều bị tiêu diệt, mưa gió thuận thời, dân cư giàu có, tất cả nhân dân và các chúng sanh thọ hưởng vui sướng khoái lạc. Đời sau nguyện sanh Cực Lạc thế giới, được thấy Thế Tôn, được nghe Diệu Pháp, mau được đầy đủ hai món Phước Trí, chứng được Vô Thượng Bồ Đề Phật quả. Lại nguyện Pháp bảo lưu truyền lâu dài ở đời, rộng làm lợi ích hữu tình.
Thứ lại làm Pháp phụng tống: Bạc Già Phạm Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác, 7 Phật, Như Lai Đạo sư Thích Ca Mâu Ni Phật, Bồ Tát Thánh chúng, chúng con vì các hữu tình làm việc lợi ích nhưng vì chúng con ở trong đời ác thế trong tâm tạp nhiễm không được thanh tịnh, không biết xả bỏ Thân, Ngữ, Ý nghiệp khởi các phiền não, các món cúng dường không được đầy đủ, có sự xúc phạm khiếm khuyết không như nghi quỹ, có nhiều sai lầm. Xin nguyện Thánh chúng không bỏ, Từ bi thương xót mẫn nạp cho chúng con. Lại cho chúng con làm các việc lành không bị chướng ngại. Cúi xin nạp thọ ! Cúi xin nạp thọ !
Nay làm lợi ích hữu tình xong
Các việc cầu mong đều thành tựu
Đưa tiễn Thế Tôn về Bổn vị
Xin nguyện từ bi giáng Đạo tràng
Xin nguyện Thế Tôn đầy đủ Từ bi thương xót chúng con làm tất cả các việc lợi ích xong. Thỉnh chư Thánh chúng dùng Đại Thần thông trở về Bổn độ.
KINH DƯỢC SƯ LƯU LY QUANG THẤT PHẬT
BỔN NGUYỆN CÔNG ĐỨC
PHÁP NGHI QUỸ NIỆM TỤNG CÚNG DƯỜNG
Mật Tạng Bộ 2 No 926 ( Tr.41 - Tr.48 )
Tam Tạng Sa Môn Sa La Ba phụng chiếu dịch Phạn ra Hán
Việt Dịch: Sa Môn Thích Quảng Trí
Nay con làm sạch chỗ đất này
Không có gạch ngói, các uế tạp
Bằng phẳng thù thắng không gì hơn
Nguyện được thành tựu cõi Lưu ly
Đầy đủ trang nghiêm như Cực Lạc
Các báu xen lẫn nhau tốt đẹp
Cây báu, ao báu đều đầy đủ
Phát ra Pháp âm thật vi diệu
Khiến người nghe được phát căn lành
Đầy đủ các báu thành tựu tốt
Có đủ vô lượng đại quang minh
Cầu Phật, Bồ Tát đều an trụ
Không qua, không lại thần thường trụ
Đầy đủ vô lượng các đại nguyện
Như hào quang sáng phát sanh ra
Vì cứu thế gian giáng đạo tràng
Rộng rãi trong sạch tòa báu đẹp
Xa lìa tất cả chướng ngại thân
Tánh thường an trú nơi bình đẳng
Xin thỉnh nạp thọ tòa an ổn
Thanh tịnh pháp giới thánh bất động
Từ bi thương xót các hữu tình
Đầy đủ diệu giác các hạnh lành
Ba đời Chư Phật xin giáng lâm
Vì lợi hữu tình bị các Khổ
Cúi xin đi đến cõi Ta Bà
Không bị Tam hữu làm nhơ uế
Xin nguyện an trụ tòa Liên hoa
Đạo sư đã thọ tòa sen báu
Lại xin cầu thỉnh chư Bồ Tát
Ba nghiệp thanh tịnh xin nạp thọ
Cầu xin gia bị cho chúng con
Ở trong ánh sáng đại an lạc
Thương xót chúng con hạng phàm phu
Xin rải mây từ khắp mười phương
Mưa lớn xối tuôn các loại báu
Phương Đông thế giới tên Vô Thắng
Thiện Danh Xưng Phật vô lượng chúng
Xa lìa phiền não, đủ các nguyện
Vì cứu thí chủ … giáng đạo tràng
Phương Đông thế giới cõi Trang nghiêm
Bảo Nguyệt Trí Nghiêm vô lượng chúng
Diệt trừ tán loạn được an tịnh
Vì lợi thí chủ … giáng đạo tràng
Phương Đông thế giới cõi Bảo Tích
Kim Sắc Bảo Quang vô lượng chúng
Sống lâu, khi chết được thọ ký
Vì lợi thí chủ … giáng đạo tràng
Phương Đông thế giới cõi Vô Ưu
Vô Ưu Tối Thắng vô lượng chúng
Không có khổ não trừ nghiệp chướng
Vì lợi thí chủ … giáng đạo tràng
Phương Đông thế giới cõi Pháp Tràng
Pháp Hải Lôi Âm vô lượng chúng
Tiêu trừ Tà kiến các chướng nạn
Vì lợi thí chủ … giáng đạo tràng
Phương Đông Thiện Trụ Bảo Hải cõi
Pháp Hải Thắng Huệ vô lượng chúng
Đầy đủ tịnh độ tam ma địa
Vì lợi thí chủ … giáng đạo tràng
Phương Đông thế giới Tịnh Lưu Ly
Dược Sư Nhật Nguyệt biến chiếu chúng
Đầy đủ các tướng vì hàng Ma
Vì lợi thí chủ … giáng đạo tràng
Vô thượng Mâu Ni Phật Thích Ca
Đầy đủ công đức các oai lực
Không bỏ các nguyện thương chúng sanh
Vì lợi thí chủ … giáng đạo tràng
Đoạn trừ tất cả các Hoặc nghiệp
Ngữ nghiệp tự tại, đốt đuốc Pháp
Đầy đủ công đức như trong kinh
Cúi xin các Thánh giáng Đạo Tràng
Khiến kẻ quy y lìa các Khổ
Thành tựu vô thượng nguyện Mâu Ni
Tịnh trừ hết thảy mọi khổ não
Vì lợichúng con giáng đạo tràng
Tiêu trừ dục lạc được tự tại
Phạm Thiên Đế Thích chư Hộ Pháp
Ưu Bà Tắc cùng các Thánh chúng
Vì lợi hữu tình giáng đạo tràng
Bí mật tự tại tâm sanh tử
Điều phục thương yêu tướng thiện ác
Bảy Phật đầy đủ các Diệu nguyện
Đủ đại thần lực giáng đạo tràng
Đủ đại oai thần và công đức
Làm Chủ Bộ xa lìa sợ sệt
Cung Tì La cùng các Thánh chúng
Vì lợi hữu tình nguyện giáng lâm
Không rời bổn nguyện cứu chúng sanh
Tám Đức Như Lai đủ Từ bi
Con nay thành tín tạo Đàn pháp
Chí thành cung thỉnh giáng Đạo tràng
Hết thảy Thiện Thệ Bạc Già Phạm
Rủ lòng từ bi thương xót cho
Chúng con đầy đủ phần công đức
Chí thành cung thỉnh ngồi tòa báu
Thế Tôn oai đức sức thần thông
Mẫn niệm chúng con với hữu tình
Thế Tôn đại bi xin giáng lâm
Chí thành cung thỉnh ngồi tòa báu
Cung kính dâng lên các cúng dường
Xin nguyện các Ngài đến Đạo tràng
Nạp thọ Ứ Già các món cúng
Cho con đủ đầy các đại nguyện
Như Đức Như Lai lúc giáng lâm
Tất cả Chư Thiên đến tắm rửa
Con nay dùng chút nước trong lành
Cũng như Chư Thiên xin tắm rửa
Chơn trí tự tánh vốn thanh tịnh
Không có các Chấp cùng phiền não
Trừ các chúng sanh các món chấp
Xin rửa chân tay chư Thánh chúng
Phiền não làm khổ các hữu tình
Nay dùng Pháp thủy khiến đầy đủ
Rửa sạch tạp uế của chúng con
Bình nước dâng lên xin nạp thọ
Sư tử, ngựa, voi cùng các loại
Kim Cang Ma Ni Nhật nguyệt luân
Không sạch không dơ tòa Liên hoa
Ở nơi vô trụ xin an trụ
Các Pháp tự tánh vốn thanh tịnh
Không có các tướng làm đắm nhiễm
Tùy thuận thế gian mà cung kính
Xin thỉnh an trú tòa Liên hoa
Không vào Niết Bàn vì Đại bi
Không lìa phiền não, không nhiễm trước
Tự tánh xưa nay vốn thanh tịnh
Xin thỉnh an trụ tòa Liên hoa
Phiền não, độc hại các hữu tình
Pháp thủy Cam lồ hay diệt sạch
Đầy đủ vi diệu các thượng nguyện
Chúng con đê đầu lễ Thế Tôn
Vì các não phiền luôn bức bách
Thương xót chúng sinh khởi lòng từ
Vì trừ phiền não phát nguyện rộng
Con nay đảnh lễ bảy Thế Tôn
Đầy đủ tất cả mọi công đức
Tướng tốt trang nghiêm, thân đẹp đẽ
Trời người cúng dường thân Kim sắc
Đảnh lễ Như Lai Thiên trung Thiên
Pháp giới thanh tịnh tánh trạm nhiêm
Khắp cả mười phương thân biến hóa
Ma Ni Bảo Vương các Như Lai
Con xin cúng dường, xưng tán lễ
Tam Bảo công đức không gì hơn
Lễ, tin đầy đủ phước không lượng
Tất cả Bồ Tát cứu thế gian
Tam Bảo Ứng Cúng con đảnh lễ
Thế Tôn Đại bi diệu trang nghiêm
Chánh biến tri tôn các Đạo sư
Như biển lớn kia ban Phước huệ
Con xin đảnh lễ các Như Lai
Tự tánh vốn tịnh lìa các dục
Hay khiến xa lìa các ác thú
Thậm thâm vi diệu chỉ một lý
Con xin đảnh lễ Pháp Thanh tịnh
Chứng Đạo rốt ráo được giải thoát
Giữ gìn luật nghi đáng tôn thờ
Tất cả Phước điền được phát sanh
Con xin đảnh lễ Chúng Trung Tôn
( Tất cả đầy đủ như trong kệ tán thán Tam Bảo )
Thân Phật đầy đủ các nghiêm sức
Tướng Đại tướng thật trang nghiêm
Vì trừ cấu nhiễm đủ các nguyện
Nay xin tạo lập Mạn Đà La
Tất cả nhân duyên do tự tánh
Chỗ có tất cả Ứ Già thủy
Xin đem hiến dâng Phật Thánh chúng
Mẫn niệm hữu tình xin nạp thọ
Tất cả nhân duyên tự tánh sanh
Tất cả các loại hoa trời đẹp
Nguyện xin cúng dường Phật Thánh chúng
Thương xót hữu tình xin nạp thọ
Nhân duyên vốn bởi tự tánh sanh
Các thứ hương trời thơm bát ngát
Xin dâng Thiện Thệ cùng chúng hội
Vì lợi hữu tình xin nạp thọ
Nhân duyên vốn bởi tự tánh sanh
Tất cả đèn trời xin dâng đốt
Cúng dường Thế Tôn chúng hải hội
Vì lợi hữu tình xin nhận lãnh
Nhân duyên vốn bởi tự tánh sanh
Ví như nước trời đầytrong sạch
Dâng hiến Thế Tôn và Thánh chúng
Vì lợi hữu tình xin nạp thọ
Tất cả nhân duyên tự tánh sanh
Các món ăn uống ở cõi Trời
Thành kính cúng dường Phật Thánh chúng
Vì lợi hữu tình xin nạp thọ
Tự tánh sanh ra bởi nhân duyên
Mọi thứ nhạc trời xin trổi hết
Cúng dường Chư Phật chúng Đạo tràng
Vì lợi hữu tình xin nạp thọ
Tự tánh sanh ra các nhân duyên
Áo trời tốt đẹp trăm ngàn thứ
Cúng dường Chư Phật và Thánh chúng
Vì lợi hữu tình xin nạp thọ
Nguyện dâng đầy đủ các cúng dường
Ở trong thế gian có các thứ
Đều dâng lên Phật và Thánh chúng
Vì lợi hữu tình xin nạp thọ
Tất cả các thứ thuốc thang hay
Trừ diệt tất cả các bệnh tật
Phụng hiến Thế Tôn hải hội chúng
Vì lợi … xin nạp thọ
Bảy Phật Như Lai và chúng hội
Con xin dâng cúng Đại Bảo Luân (Bánh xe báu)
Đoạn trừ ba cõi, các Luân hồi
Chuyển diệu Pháp luân độ hàm thức
Bảy Phật Như Lai và chúng hội
Con xin dâng cúng báu Ma Ni
Đoạn trừ nghèo cùng các khốn khổ
Khiến được đầy đủ thứ cần dùng
Bảy Phật Như Lai và chúng hội
Con xin dâng hiến mỹ nữ báu
Diệt trừ hắc ám các vô minh
Nguyện xin đầy đủ Bát Nhã trí
Bảy Phật Như Lai và chúng hội
Nay con dâng hiến Bảo Tạng Thần
Trí huệ hiểu sâu ba thừa giáo
Rốt ráo công đức thảy đủ đầy
Bảy Phật Như Lai và chúng hội
Nay con dâng hiến ngựa báu tốt
Ra ngoài ba cõi đủ thần thông
Tới tận vô cùng các cõi Phật
Bảy Phật Như Lai và chúng hội
Con xin dâng hiến voi báu đây
Nguyện theo Đại thừa trừ ác kiến
Mau đến giải thoát đầy đủ huệ
Bảy Phật Như Lai và chúng hội
Nay con xin hiến bảo Tướng quân
Điều phục tất cả mọi phiền não
Hiển thông hết thảy các lý màu
Con xưa vốn tạo các nghiệp ác
Đều do vô thủy tham sân si
Từ thân miệng ý mà sinh ra
Tất cả con nay xin sám hối
Mười phương tất cả các chúng sanh
Nhị thừa Hữu học và Vô học
Tất cả Như Lai và Bồ Tát
Có các công đức đều tùy hỷ
Mười phương tất cả thế gian đăng
Đầu tiên thành tựu chứng Bồ Đề
Tất cả con đều xin khuyến thỉnh
Chuyển bánh xe báu độ hàm linh
Chư Phật muốn hiện nhập Niết Bàn
Con đều ân cần xin khuyến thỉnh
Các Ngài ở mãi tận muôn đời
Để làm lợi ích loài chúng sanh
Các phước lễ bái cùng cúng dường
Thỉnh Phật ở đời chuyển xe Pháp
Tùy hỷ, sám hối các căn lành
Hồi hướng chúnh sanh và Phật đạo
Như kinh đã nói các công đức
Vì lợi thí chủ và chúng sanh
Nguyện tám Như Lai các Thánh chúng
Nạp thọ khiến mau đầy đủ nguyện
Tướng tốt đầy dủ như hoa nở
Trang nghiêm các thứ để nghiêm thân
Thấy nghe, nhớ niệm được bình an
Thiện danh xưng Phật con đảnh lễ
Thân thể trang nghiêm tướng Đại nhơn
Đủ Đại từ bi tâm ít có
Viên âm cùng khắp cả mười phương
Cúng dường Thiện Danh Xưng Vương Phật
Con xin dùng nước công đức sạch
Như nước sông Hằng không hết được
Cúng dường Thiện Danh Xưng Vương Phật
Xin nguyện Từ bi nạp thọ cho
Ba đầu ma nạn đà la la hoa
Ưu Bát La đủ hương thơm đẹp
Cúng dường Như Lai Thiện Danh Xưng
Xin nguyện Từ bi thường nạp thọ
Hương thơm ý đẹp hương cây tốt
Hương ở cõi trời bát ngát thơm
Cúng dường Đức Phật Thiện Danh Xưng
Xin nguyện Từ bi thương nạp thọ
Tốt đẹp quang minh đủ cát tường
Đèn sáng hay trừ chư hắc ám
Cúng dường Đức Phật Thiện Danh Xưng
Xin nguyện Từ bi thương nạp thọ
Uất Kim, Đàn Hương trộn lẫn nhau
Các thứ hương xoa cùng với nước
Cúng dường Thiện Danh Xưng Như Lai
Xin nguyện Từ bi thương nạp thọ
Các thứ phẩm vật đẹp ý người
Mỹ vị trân tu các món ăn
Dâng cúng Thiện Danh Xưng Vương Phật
Xin nguyện Từ bi thường nạp thọ
Trên đời các thứ kỹ nhạc hay
Các thứ âm thanh vi diệu tốt
Cúng dường Thiện Danh Xưng Như Lai
Xin nguyện Từ bi thương nạp thọ
Bao nhiêu tất cả loại thuốc thang
Hay trừ tất cả các bệnh khổ
Con xin dâng hiến Thiện Danh Xưng
Vì lợi … xin nạp thọ
Tất cả mọi thứ các cúng dường
Trong thế gian này không có thiếu
Nguyện hiến Thế Tôn hải hội chúng
Vì lợi thí chủ … xin nạp thọ
Tất cả mọi thứ các cúng dường
Trong thế gian này không có thiếu
Nguyện hiến Thế Tôn hải hội chúng
Vì lợi thí chủ … xin nạp thọ
Con xưa đã tạo các ác nghiệp
Đều do vô thủy tham sân si
Từ thân, miệng, ý phát sinh ra
Hết thảy con nay xin sám hối
Mười phương tất cả các chúng sanh
Nhị thừa hữu học và vô học
Tất cả Như Lai và Bồ Tát
Có các công đức đều tùy hỷ
Mười phương nơi có thế gian đăng
Đầu tiên thành tựu được Bồ Đề
Hết thảy con đều xin khuyến thỉnh
Cầu chuyển vô thượng Diệu Pháp luân
Chư Phật khi muốn nhập Niết Bàn
Con thảy chí thành xin khuyến thỉnh
Xin trụ ở mãi tận muôn đời
Làm lợi tất cả loài chúng sanh
Cúng dường, lễ, tán các phước báu
Thỉnh Phật ở đời chuyển Pháp luân
Tùy hỷ, sám hối, các Thiện căn
Hồi hướng chúng sanh và Phật đạo
Đạo sư thường làm chỗ dựa nương
Nhiêu ích tất cả các hữu tình
Ban cho tất cả đều an lạc
Nay xin an ẩn được cát tường
Bảo Nguyệt Liên hoa các trang nghiêm
Biến khắp cả nơi tất cả Pháp
Thân cao lớn như là biển cả
Bảo Nguyệt Trí Nghiêm đảnh lễ Ngài
Thân trong sạch giống bảo Ma Ni
Như ánh trăng kia trừ các Khổ
Như hoa sen nọ chẳng nhiễm ô
Cúng dường thân trang nghiêm tối diệu
Nay xin dâng hiến nước sạch trong
Không bẩn không dơ nước Ứ Già
Dâng hiến Phật Quang Âm Vương Đức
Vì lợi hữu tình xin nạp thọ
Tất cả các loại hoa tốt đẹp
Sanh ra nơi nước xin dâng cúng
Trước Phật Như Lai Quang Âm Vương
Dâng cúng, cúi xin Ngài nạp thọ
Hay trừ tất cả mọi vô minh
Như mặt trời, trăng chiếu khắp chỗ
Đèn sáng cúng dường Quang Âm Phật
Vì lợi hữu tình xin nạp thọ
Hay trừ phạm giới các tạp nhiễm
Có các hương hoa sạch sẽ thơm
Dâng hiến cúng dường Phật Quang Âm
Lợi ích hữu tình xin nạp thọ
Mười phương khắp cả thế giới đây
Các thứ uống ăn ở cõi Trời
Dâng hiến Quang Âm Như Lai Phật
Vì lợi hữu tình xin nạp thọ
Tiếng của Ma Ni chuông báu vang
Các thứ kỹ nhạc thảy đều dâng
Cung kính cúng dường Quang Âm Phật
Vì lợi hữu tình xin nạp thọ
Tất cả đầy đủ thứ thuốc thang
Hay trừ hết thảy các bệnh khổ
Phụng hiến Quang Âm Như Lai Vương
Vì lợi hữu tình xin nạp thọ
Như vậy tất cả mọi cúng dường
Ở trong thế gian đầy đủ cả
Dâng hiến cúng dường Phật Quang Âm
Vì lợi thí chủ … xin nạp thọ
Con xưa đã tạo các ác nghiệp
Đều do vô thủy tham sân si
Từ thân miệng ý phát sinh ra
Tất cả con đều xin sám hối
Mười phương tất cả các chúng sanh
Nhị thừa hữu học và vô học
Tất cả Như Lai cùng Bồ Tát
Có các công đức đều tùy hỷ
Mười phương chỗ có Thế gian đăng
Đầu tiên thành tựu được Bồ Đề
Con nguyện chí thành xin khuyến thỉnh
Quay bánh xe Pháp không gì hơn
Chư Phật khi muốn nhập Niết Bàn
Con thảy ân cần xin khuyến thỉnh
Cầu Ngài trụ mãi ở nơi đời
Lợi ích tất cả loài hàm linh
Tất cả cúng dường, lễ tán phước
Thỉnh Phật trụ đời chuyển Pháp luân
Tùy hỷ sám hối các thiện căn
Hồi hướng chúng sanh và Phật đạo
Thế Tôn cứu độ đại Từ bi
Thương xót tất cả mọi hữu tình
Như con trông chờ nơi cha mẹ
Nguyện được cát tường an ẩn luôn
Thân như vàng Diêm Phù sáng chói
Rực rỡ còn hơn ngàn mặt trời
Cũng như vô cấu tràng quang minh
Kim Sắc Bảo Quang con kính lễ
Trong sạch thân như Diêm Phù kim
Tướng tốt trang nghiêm không cấu nhiễm
Kim Sắc Bảo Quang thật thanh tịnh
Cúng dường Đạo sư diệu sắc thân
Trong sạch không dơ ý vui vẻ
Các nước công đức ở cõi trời
Dâng hiến Kim Sắc Quang Như Lai
Vì lợi hữu tình xin nạp thọ
Như vậy các thứ đèn, hương, hoa
Các món hương xoa, các món ăn
Các món kỹ nhạc, món cần dùng
Cúng dường Như Lai Kim Sắc Quang
Tất cả đầy đủ các thuốc thang
Hay trừ tất cả các bệnh khổ
Cúng dường Như Lai Kim Sắc Quang
Vì lợi hữu tình xin nạp thọ
Như vậy đầy đủ các cúng dường
Và ở thế gian tất cả thứ
Dâng cúng Như Lai Kim Sắc Quang
Vì lợi thí chủ … xin nạp thọ
Con xưa đã tạo các ác nghiệp
Đầu do vô thủy tham sân si
Từ thân miệng ý phát sinh ra
Hết thảy nay con xin sám hối
Mười phương tất cả các chúng sanh
Nhị thừa hữu học và vô học
Tất cả Như Lai và Bồ Tát
Có các công đức đều tùy hỷ
Mười phương tất cả thế gian đăng
Đầu tiên chứng đắc đạo Bồ Đề
Con nguyện thảy đều xin khuyến thỉnh
Quay bánh xe Pháp lợi quần sanh
Chư Phật khi muốn vào Niết Bàn
Con thảy chí thành xin khuyến thỉnh
Trụ thế lâu dài muôn kiếp tuổi
Lợi ích tất cả các chúng sanh
Các phước lễ tán và cúng dường
Thỉnh Phật nơi đời chuyển Pháp luân
Tùy hỷ sám hối các Thiện căn
Hồi hướng chúng sanh và Phật đạo
Sanh tử biển kia chìm đắm mãi
Vì chúng hữu tình làm dựa nương
Tạo ra Phật quốc cùng quyến thuộc
Khiến cho yên ổn được cát tường
Cứu cánh Niết Bàn đắc an lạc
Hay trừ chúng sanh các khổ nhơn
Cứu hộ sáu đường Cát Tường Vương
Vô Ưu Tối Thắng con kính lễ
Độ cho ba cõi đến bờ kia
Cứu cánh Niết Bàn vui an lạc
An trụ Pháp giới tối diệu thân
Cúng dường vượt ra được ba cõi
Thiện Thệ Vô Ưu cõi Tối Thắng
Ba đầu ma hoa Mạn Đà La
Ưu Bát La hoa hương tỏa ngát
Cùng các thứ hàng hoa xinh đẹp
Các thứ hương xông rất đẹp lòng
Như vậy đủ đầy hương vân hải
Các món ăn uống sạch thơm ngon
Cõi trời, cõi người cao quý nhất
Trang nghiêm các thứ hoa sen vàng
Đèn sáng Ma Ni chiếu đạo tràng
Khắp đất xoa hương thơm sực nức
Hoa rải cúng dường khắp mọi nơi
Các báu treo quanh nơi Bảo điện
Dùng các âm thanh ca xưng tán
Bảo châu anh lạc chiếu xung quanh
Đầy đủ trang nghiêm nhiều món báu
Tất cả biến đầy khắp hư không
Cúng dường Vô Ưu Cát Tường Phật
Tán cái các báu làm nên lọng
Che khắp mọi nơi, anh lạc võng
Trùm khắp mọi nơi thật đáng mừng
Cúng dường Vô Ưu Cát Tường Phật
Chỗ có tất cả các diệu dược
Hay trừ tất cả bệnh khổ đau
Dâng hiến Vô Ưu Cát Tường Vương
Vì lợi hữu tình xin nạp thọ
Như vậy đủ đầy các cúng cụ
Ở nơi thế gian các cúng dường
Dâng hiến Vô Ưu Cát Tường Vương
Vì lợi thí chủ … xin nạp thọ
Con xưa đã tạo các ác nghiệp
Đều do vô thủy tham sân si
Từ thân, miệng, ý phát sinh ra
Nay con thảy đều xin sám hối
Mười phương tất cả các chúng sanh
Nhị thừa hữu học và vô học
Tất cả Như Lai các Bồ Tát
Có các công đức đều tùy hỷ
Mười phương tất cả thế gian đăng
Đầu tiên thành tựu Bồ Đề đạo
Hết thảy con đều xin khuyến thỉnh
Quay bánh xe Pháp không gì hơn
Chư Phật nào muốn hiện Niết Bàn
Con nguyện chí thành xin khuyến thỉnh
Trụ ở đời lâu lợi hữu tình
Mãi mãi sống lâu muôn kiếp tuổi
Các phước cúng dường lễ tán trên
Thỉnh Phật ở đời chuyển Pháp luân
Tùy hỷ, sám hối các Thiện căn
Hồi hướng chúng sanh và Phật đạo
Hiện tiền chứng được Tịnh Pháp thân
Trong sạch không sai, không điên đảo
Do lời trong sạch khiến trong sạch
Xin nguyện Cát tường an ẩn luôn
Tiếng hải triều diệu âm sâu thẳm
Tiếng Pháp âm lý nghĩa sâu xa
Hay trừ đoạn phiền não khổ đau
Pháp Hải Lôi Âm con cúi đầu
Tiếng Pháp âm vang khắp tam thiên
Sáu mươi loại tiếng độ bàng sanh
Lý nghĩa sâu xa như biển lớn
Cúng dường Thế tôn lời tối diệu
Lọng báu che trùm cả hư không
Bảo kế rộng như anh lạc vân
Nước thơm đẹp ý như biển lớn
Đựng bát Ứ Già nước Cam lồ
Hương thơm vi diệu tỏa khắp nơi
Đèn sáng chiếu soi hơn nhật nguyệt
Đầy đủ vô cùng hoa Ma Ni
Trăm ngàn mùi vị uống ăn ngon
Cùng với vô lượng các kỹ nhạc
Đầy khắp hư không để cúng dường
Như vậy trăm ngàn các đồ dùng
Cho đến cõi Trời Đẩu Suất đà
Có các thứ hoa Mạn Đà La
Cùng các trang nghiêm trời có đủ
Như vậy tất cả các cúng dường
Cùng tâm thanh tịnh con hóa hiện
Hết thảy dâng cúng Thế Tôn tiền
Đem lòng cung kính mà cúng dường
Lại có tất cả các thuốc thang
Hay trừ tất cả các bệnh khổ
Thảy cúng Pháp Hải Lôi Âm Phật
Vì lợi thí chủ, xin mẫn nạp
Như vậy đầy đủ các cúng dường
Và nơi thế gian các phẩm vật
Dâng hiến Pháp Hải Lôi Âm Phật
Vì lợi thí chủ … xin mẫn nạp
Con xưa đã tạo các ác nghiệp
Đều do vô thủy tham sân si
Từ thân miệng ý phát sinh ra
Tất cả con đều xin sám hối
Mười phương tất cả các chúng sanh
Nhị thừa hữu học và vô học
Tất cả Như Lai và Bồ Tát
Chỗ có công đức đều tùy hỷ
Mười phương tất cả Thế gian đăng
Đầu tiên thành tựu Bồ Đề đạo
Con đều chí thành xin khuyến thỉnh
Quay chuyển bánh xe Vô thượng Pháp
Chư Phật muốn thị hiện Niết Bàn
Con đều chí thành xin khuyến thỉnh
Cầu Phật ở đời được lâu hơn
Lợi lạc tất cả loài quần sanh
Chỗ có phước lễ tán cúng dường
Cầu Phật ở đời chuyển Pháp luân
Tùy hỷ, sám hối các Thiện căn
Hồi hướng chúng sanh và Phật đạo
Khi các Thế Tôn nói Diệu Pháp
Thành tựu tất cả việc thành tựu
Nguyện xin Cát tường được an ổn
Huệ lớn sâu rộng khó so lường
Du hý thần thông trong Pháp giới
Cứu cánh thành tựu tất cả Pháp
Du Hý Thần Thông con kính lễ
Chứng được các thần thông du hý
Pháp thân che chở khắp hữu tình
Thắng huệ du hý độ bàng sanh
Cúng dường tự tánh thân vi diệu
Nhân duyên do tự tánh xuất sanh
Có nước Ứ Già ở cõi trời
Dâng cúng Du Hý Thần Thông Phật
Vì lợi thí chủ … xin mẫn nạp
Nhân duyên tự tánh phát sanh ra
Tất cả các thứ Thiên diệu hoa
Dâng cúng Du Hý Thần Thông Phật
Vì lợi thí chủ … xin mẫn nạp
Nhân duyên tự tánh phát sanh ra
Tất cả các thứ Thiên diệu hương
Dâng cúng Du Hý Thần Thông Phật
Vì lợi thí chủ … xin mẫn nạp
Nhân duyên tự tánh phát sanh ra
Tất cả các thứ Thiên diệu đăng
Dâng cúng Du Hý Thần Thông Phật
Vì lợi thí chủ … xin mẫn nạp
Nhân duyên tự tánh phát sanh ra
Tất cả các thứ Thiên diệu thủy
Dâng cúng Du Hý Thần Thông Phật
Vì lợi thí chủ … xin mẫn nạp
Nhân duyên tự tánh phát sanh ra
Tất cả các thứ Thiên diệu thực
Dâng cúng Du Hý ThầnThông Phật
Vì lợi thí chủ … xin mẫn nạp
Nhân duyên tự tánh phát sanh ra
Tất cả các thứ Thiên diệu nhạc
Dâng cúng Du Hý ThầnThông Phật
Vì lợi thí chủ … xin mẫn nạp
Nhân duyên tự tánh phát sanh ra
Tất cả các thứ Thiên diệu dược
Vì trừ tất cả các bệnh khổ
Dâng hiến Du Hý ThầnThông Phật
Vì lợi thí chủ … xin mẫn nạp
Như vậy các thứ cúng dường đủ
Và tại thế gian các cúng dường
Dâng hiến Du Hý Thần Thông Phật
Vì lợi thí chủ … xin mẫn nạp
Con xưa đã tạo các ác nghiệp
Đều do vô thủy tham sân si
Từ thân miệng ý phát sinh ra
Tất cả con đều xin sám hối
Mười phương tất cả các chúng sanh
Nhị thừa hữu học và vô học
Tất cả Như Lai và Bồ Tát
Chỗ có công đức đều tùy hỷ
Mười phương tất cả Thế gian đăng
Đầu tiên thành tựu Bồ Đề đạo
Con xin tất cả đều khuyến thỉnh
Quay bánh xe Pháp lợi hàm linh
Chư Phật khi muốn nhập Niết Bàn
Con nguyện chí thành xin khuyến thỉnh
Xin Phật nơi đời trụ dài lâu
Vì lợi tất cả các chúng sanh
Tất cả lễ, tán, cúng dường, phước
Thỉnh Phật nơi đời chuyển Pháp luân
Tùy hỷ, sám hối các Thiện căn
Hồi hướng chúng sanh và Phật đạo
Tất cả Chư Phật lúc ra đời
Núi non đất rừng đều chấn động
Tất cả hữu tình đều hoan hỷ
Nguyện được cát tường khiến an ổn
Hay trừ bệnh khổ đại an vui
Thân như lưu ly rất đáng ưa
Gặp ánh quang minh đều giải thoát
Như Lai Dược Vương, con quy y
Như ánh mặt trời phá tối tăm
Như ánh mặt trăng tiêu các khổ
Diệt trừ chúng sanh ba thứ độc
Cúng dường Dược Sư Lưu Ly Quang
Như thầy thuốc hay ở thế gian
Hay trừ phiền não các tật bệnh
Như Tịnh Lưu Ly bảo trí thân
Thường hay cúng dường trừ ba độc
Tất cả vi diệu nước Ứ Già
Và tại thế gian nước công đức
Dâng hiến Dược Sư Quang Như Lai
Vì lợi hữu tình xin nạp thọ
Tất cả các thứ Thiên diệu hoa
Và ở thế gian các thứ hoa
Dâng hiến Dược Sư Quang Vương Phật
Vì lợi chúng sanh xin nạp thọ
Tất cả các thứ Thiên diệu hương
Và tại thế gian các món hương
Dâng hiến Dược Sư Quang Vương Phật
Vì lợi hữu tình xin nạp thọ
Tất cả các thứ Thiên diệu đăng
Và tại thế gian các loại đèn
Dâng hiến Dược Sư Quang Vương Phật
Vì lợi chúng sanh xin nạp thọ
Tất cả các thứ Thiên đồ hương
Và tại thế gian các hương xoa
Dâng hiến Dược Sư Quang Vương Phật
Vì lợi chúng sanh xin nạp thọ
Tất cả các thứ Thiên diệu thực
Và tại thế gian các món ăn
Dâng hiến Dược Sư Quang Vương Phật
Vì lợi chúng sanh xin nạp thọ
Tất cả các thứ Thiên diệu nhạc
Và tại thế gian các thứ nhạc
Dâng hiến Dược Sư Quang Vương Phật
Vì lợi chúng sanh xin nạp thọ
Tất cả các thứ thuốc thang hay
Vì trừ chúng sanh các bệnh tật
Dâng hiến Dược Sư Quang Vương Phật
Vì lợi thí chủ … xin nạp thọ
Như vậy tất cả các cúng dường
Ở tại thế gian đầy đủ cả
Dâng hiến Dược Sư Lưu Ly Phật
Vì lợi thí chủ … xin mẫn nạp
Con xưa đã tạo các ác nghiệp
Đều do vô thủy tham sân si
Từ thân miệng ý phát sinh ra
Tất cả con đều xin sám hối
Mười phương tất cả các chúng sanh
Nhị thừa hữu học và vô học
Tất cả Như Lai, các Bồ Tát
Chỗ có công đức đều tùy hỷ
Mười phương tất cả Thế gian đăng
Đầu tiên thành tựu Bồ Đề đạo
Như vậy con đều xin khuyến thỉnh
Chuyển xoay Vô thượng diệu Pháp luân
Chư Phật khi muốn nhập hiện Niết Bàn
Con xin chí thành mà khuyến thỉnh
Cầu Phật sống lâu tại nơi đời
Lợi lạc tất cả loài quần sanh
Chỗ có lễ tán phước cúng dường
Thỉnh Phật nơi đời chuyển Pháp luân
Tùy hỷ, sám hối các Thiện căn
Hồi hướng chúng sanh và Phật đạo
Khi có vị nào đắc Bồ đề
Đại địa sáu món đều chấn động
Khiến các bọn Ma phải não phiền
Xin khiến cát tường được an ổn
Giống Thích Đại bi xuống cõi đời
Hàng phục các Ma oán khắp nơi
Thân thể trang nghiêm vàng rực rỡ
Thích Ca vua Pháp con kính thờ
Thiện Thệ có nhiều Bồ Tát chúng
Cứu giúp ba cõi Thiên Trung Thiên
Bất Động Thế Tôn Thích Ca Vương
Cúng dường trang nghiêm Mâu Ni Tôn
Tất cả các thứ vi diệu thủy
Và tại thế gian nước sạch trong
Dâng hiến Thích Ca Mâu Ni Vương
Vì lợi thí chủ … xin nạp thọ
Tất cả các thứ Thiên diệu hoa
Và tại Thế gian các thứ hoa
Dâng cúng Thích Ca Mâu Ni Phật
Vì lợi thí chủ … xin mẫn nạp
Tất cả các thứ Thiên diệu hương
Và tại Thế gian các thứ thơm
Dâng cúng Thích Ca Mâu Ni Phật
Vì lợi thí chủ … xin mẫn nạp
Tất cả các thứ Thiên diệu đăng
Và tại Thế gian các loại đèn
Dâng cúng Thích Ca Mâu Ni Phật
Vì lợi thí chủ … xin mẫn nạp
Tất cả các thứ Thiên đồ hương
Và tại Thế gian các hương thoa
Dâng cúng Thích Ca Mâu Ni Phật
Vì lợi thí chủ … xin mẫn nạp
Tất cả các thứ Thiên diệu thực
Và tại Thế gian các món ăn
Dâng cúng Thích Ca Mâu Ni Phật
Vì lợi thí chủ … xin mẫn nạp
Tất cả các thứ Thiên diệu nhạc
Và tại Thế gian các món nhạc
Dâng cúng Thích Ca Mâu Ni Phật
Vì lợi thí chủ … xin mẫn nạp
Tất cả các loại thuốc thang hay
Diệt trừ chúng sanh các bệnh tai
Dâng hiến Thích Ca Mâu Ni Phật
Vì lợi thí chủ … xin mẫn nạp
Như vậy tất cả thứ cúng dường
Thế gian hiện có thảy cúng dường
Dâng hiến Thích Ca Mâu Ni Phật
Vì lợi thí chủ … xin mẫn nạp
Con xưa đã tạo các ác nghiệp
Đều do vô thủy tham sân si
Từ thân miệng ý phát sanh ra
Tất cả con đều xin sám hối
Mười phương tất cả các chúng sanh
Nhị thừa hữu học và vô học
Tất cả Như Lai các Bồ Tát
Chỗ có công đức đều tùy hỷ
Mười phương tất cả Thế gian đăng
Đầu tiên chứng được Bồ Đề đạo
Tất cả con đều xin khuyến thỉnh
Chuyển quay xe Pháp diệu vô cùng
Chư Phật nếu muốn nhập Niết Bàn
Con thảy chí thành xin khuyến thỉnh
Nguyện Phật ở đời muôn ức kiếp
Lợi lạc tất cả loài chúng sanh
Lễ tán cúng dường các phước lành
Thỉnh Phật nơi đời chuyển Pháp luân
Tùy hỷ, sám hối các Thiện căn
Hồi hướng chúng sanh và Phật đạo
Đầu tiên lúc Phật thuyết Pháp thời
Chỉ có bốn Pháp Thánh Đế thôi
Hay khiến tin nghe ngày càng nhiều
Nguyện được cát tường được an ổn
Như hư không kia vốn không tướng
Hay hiện ra các thứ công đức
Cứu các chúng sanh lên giải thoát
Tất cả Pháp bảo con quy y
Các loại Pháp tánh có mười hai
Vốn không sanh diệt lìa bàn cãi
Nhớ nghĩ sanh ra các công đức
Con xin đảnh lễ Pháp lành kia
Trừ ngu trí huệ Đại Nhật Vương
Diệt khổ luân hồi tối thượng tôn
Tịnh các gốc khổ Cam lồ Vương
Cúng dường tất cả các Diệu Pháp
Tất cả các món cúng dường v.v… thảy đều đem hồi hướng chúng sanh và Phật đạo, lại dùng các kệ xưng tán Bát Nhã Phật Mẫu, Cứu Độ Phật Mẫu thọ trì kinh luật luận v.v… Tay cầm bình bát và tích trượng.
Phụng trì Đạo sư các Pháp diệu
Cúng dường Thanh Văn và Thánh chúng
Giống như trí kiếm rất bén nhọn
Tự chứng tất cả tánh duyên khởi
Hay hiện tất cả các thần biến
Cúng dường Duyên Giác và Thánh chúng
Tất cả các món cúng dường v.v…thảy đều hồi hướng chúng sanh và Phật đạo.
Ba đời tất cả Chánh Đẳng Giác
Tất cả chơn trí tự tánh thân
Lời kỳ diệu có lý nhiệm màu
Mạn Thù Thất Lợi con kính lễ
Tâm tịnh xa lìa các cấu nhiễm
Trang nghiêm trong sạch các công đức
Trời người đảnh lễ nơi Bản toạ
Cúng dường Mạn Thù Đại Bồ Tát
Tất cả các món cúng dường v.v…thảy đều hồi hướng chúng chúng sanh và Phật đạo.
Cứu bạt tất cả chúng sanh khổ
Cứu thoát ba cõi các ràng buộc
Chỉ bày con đường giải thoát cho
Cứu Thoát Bồ Tát con kính lễ
Cứu Thoát Bồ Tát ma ha tát
Ngồi tòa hoa sen màu đỏ thắm
Tay phải nắm giữ Tạng Diệu Pháp
Cúng dường tay trái để eo lưng
Tất cả các thứ cúng dường v.v…đều đem hồi hướng cho chúng sanh và Phật đạo.
Giữ gìn ba đời Chánh Đẳng Giác
Thân miệng ý đều là bí mật
Hàng phục trừ ma, Đại Minh Vương
Chấp Kim Cang chùy con đảnh lễ
Tất cả các thứ cúng dường v.v…đều đem hồi hướng cho chúng sanh và Phật đạo.
Giữ gìn ba đời Chánh Đẳng Giác
Chỗ có tất cả các Pháp Tạng
Trì Bí Mật Vương các quyến thuộc
Cung kính cúng dường con đảnh lễ
Tất cả các thứ cúng dường v.v… đều đem hồi hướng cho chúng sanh và Phật đạo.
Đầy đủ Đại bi các thần thông
Nhớ niệm hay thoát các nạn khổ
Chiếu khắp thế gian như mặt nhật
Cung kính cúng dường Biến Chiếu Tôn
Tất cả các thứ cúng dường v.v… đều đem hồi hướng cho chúng sanh và Phật đạo.
Nguyệt Nhật Biến Chiếu Đại Bồ Tát
Thân ngồi tòa sen màu trắng đẹp
Hai tay cầm chuỗi ấn thuyết Pháp
Cung kính cúng dường con đảnh lễ
Tất cả các thứ cúng dường v.v…đều đem hồi hướng cho chúng sanh và Phật đạo.
Đế Thích Thiên Chủ cầm chày báu
Cùng các Thiên Thần, chúa các Ma
Đông phương Thiên Thần các quyến thuộc
Cúng dường xưng tán xin kính lễ
Lại cúi xin tiên vị Hỏa Thần
Đại Tiên Thần Vương chúa các Ma
Đông Nam Tiên chúng các quyến thuộc
Cúng dường xưng tán xin đảnh lễ
Xa lìa chơn đế Cụ Mỹ Thần
Dạ Xoa Thần Vương chúa các Ma
Tây Nam Dạ Xoa các quyếc thuộc
Cúng dường xưng tán xin đảnh lễ
Tay cầm quyến sách Thủy thiên thần
Long chúng Thần Vương chúa các Ma
Tây phương Long Vương các quyến thuộc
Cúng dường xưng tán xin đảnh lễ
Tay cầm thọ mạng Phong thiên thần
Giữ gìn Thần vương chúa các Ma
Tây Bắc Phong Thần các quyến thuộc
Cúng dường xưng tán xin kính lễ
Tay cầm gậy báu La Xoa Thần
Nguyện hộ Pháp Tạng chúa các Ma
Bắc phương La Xoa các quyến thuộc
Cúng dường xưng tán xin kính lễ
Cụ chủ tể giả Dụ Dẫn Thần
Tỳ Nan Thần Vương chúa các Ma
Đông Bắc cụ chủ các quyến thuộc
Cúng dường xưng tán xin kính lễ
Thượng phương tất cả các Chư Thiên
Mặt trời, mặt trăng và các sao
Như vậy Chư Thiên và quyến thuộc
Cúng dường xưng tán xin kính lễ
Hạ phương các Rồng và Địa Thần
Giữ gìn đại địa được an ổn
Hộ tam muội da các quyến thuộc
Cúng dương xưng tán xin kính lễ
Phục các phiền não đủ công đức
Cứu hộ thế gian các Bồ Tát
Như các thứ báu thân giải thoát
Dâng lên tất cả mọi cúng dường
Chỗ có tất cả Ứ Già thủy
Cùng ở thế gian công đức thủy
Dâng hiến mười phương Hộ Pháp Thần
Vì lợi thí chủ … xin nạp thọ
Tất cả các thứ cúng dường v.v…đều đem hồi hướng cho chúng sanh và Phật đạo.
Đoạn trừ Dục giới các nhiễm ô
Trụ mơi Sắc giới các Phạm Thiên
Chúa cõi Ta Bà, Vua Đại Phạm
Cúng dường Đại Phạm các Thánh chúng
Ba mặt sáu tay thắng Tu La
Châu biến khắp nơi bình đẳng tánh
Thần thông Thiên giới chẳng ai hơn
Cúng dường Đại lực Na La Diên
Gần gũi Di Lặc cứu Thế Tôn
Đẩu Xuất Đà thiên và Thiên tử
Thí chủ … xin thành kính cúng dường
Đối địch Tu La chúa cõi trời
Ba mắt nhìn xem rõ ba đời
Hộ trì đạo Phật, an bốn chúng
Cúng dường Thiên chủ Đế Thích Tôn
Ở nơi cao xa Diệu Pháp đường
Tùy thuận chúng sanh dùng phương tiện
Tất cả Chư Thiên và quyến thuộc
Ban cho đủ nguyện nhận cúng dường
Đủ lòng trong sạch, đủ tín tâm
Dẹp tan các núi cao ngã mạn
Vâng lời Phật dạy luôn gìn giữ
Cúng dường Hộ Pháp tám bộ Tôn
Tất cả các thứ cúng dường v.v…đều đem hồi hướng cho chúng sanh và Phật đạo.
Đông phương Trì Quốc Đại Thiên Vương
Thân trắng sạch xinh giữ Tỳ Bà
Ở giữ cửa Đông làm Hộ Pháp
Đảnh lễ xưng tán dâng cúng dường
Tất cả các thứ cúng dường v.v…thảy đều đem hồi hướng cho chúng sanh và Phật đạo.
Nam phương Tăng Trưởng Đại Thiên Vương
Kiếm báu cầm tay thân sắc xanh
Cửa Nam thệ nguyện là Hộ Pháp
Tán lễ xin dâng các cúng dường
Tất cả các thứ cúng dường v.v… đều đem hồi hướng cho chúng sanh và Phật đạo.
Tây phương Quảng Mục Đại Thiên Vương
Thân sắc hồng tươi cầm quyến sách
Cửa Tây thệ nguyện hộ Đạo tràng
Xưng tán lễ lạy nguyện cúng dường
Tất cả các thứ cúng dường v.v…đều đem hồi hướng cho chúng sanh và Phật đạo.
Bắc phương Đa Văn Đại Thiên Vương
Thân màu lục, tay cầm giáo báu
Cửa Bắc giữ gìn Đàn Pháp Phật
Cúng dường lễ tán nguyện Ngài thương
Tất cả các thứ cúng dường v.v…đều đem hồi hướng cho chúng sanh và Phật đạo.
Mười hai Đại tướng Dược Xoa Vương
Mỗi Vị có trong bảy ức người
Thệ nguyện hộ trì lời Phật dạy
Đứng đầu tất cả Dạ Xoa Vương
Ưu Bà Tắc đủ đại oai đức
Dạ Xoa Đại tướng Cung Tỳ La
Thân sắc vàng tươi cầm gậy báu
Đứng đầu bảy ức Dạ Xoa thần
Thệ nguyện hộ trì lời Phật dạy
Cúng dường xưng tán xin lễ lạy
Đủ đại oai đức Ưu Bà Tắc
Dạ Xoa Đại tướng Phạt Chiết La
Thân sắc trắng trong cầm kiếm báu
Đứng đầu bảy ức Dạ Xoa thần
Thệ nguyện hộ trì lời Phật dạy
Cúng dường xưng tán xin lễ lạy
Đủ đại oai đức Ưu Bà Tắc
Dạ Xoa Đại tướng Mê Xí La
Thân sắc vàng ngồi cầm gậy báu
Thống lãnh bảy ức Dạ Xoa thần
Thệ nguyện giữ gìn lời Phật dạy
Cúng dường xưng tán xin lễ lạy
Đủ đại oai đức Ưu Bà Tắc
Dạ Xoa Đại tướng An Để La
Thân màu lục sẫm cầm chùy báu
Thống lãnh bảy ức Dạ Xoa thần
Thệ nguyện giữ gìn lời Phật dạy
Cúng dường xưng tán xin lễ lạy
Đủ đại oai đức Ưu Bà Tắc
Dạ Xoa Đại tướng Át Nễ La
Thân sắc đỏ tươi cầm giáo báu
Thống lãnh bảy ức Dạ Xoa thần
Thệ nguyện giữ gìn lời Phật dạy
Cúng dường xưng tán xin lễ lạy
Đủ đại oai đức Ưu Bà Tắc
Dạ Xoa Đại tướng San Để La
Thân màu khói đen cầm kiếm báu
Thống lãnh bảy ức Dạ Xoa thần
Thệ nguyện giữ gìn lời Phật dạy
Cúng dường xưng tán xin lễ lạy
Đủ đại oai đức Ưu Bà Tắc
Dạ Xoa Đại tướng Nhơn Đạt La
Thân màu đỏ thẫm cầm côn báu
Thống lãnh bảy ức Dạ Xoa thần
Thệ nguyện giữ gìn lời Phật dạy
Cúng dường xưng tán xin lễ lạy
Đủ đại oai đức Ưu Bà Tắc
Dạ Xoa Đại tướng Ba Di La
Thân màu đỏ hồng cầm chày báu
Thống lãnh bảy ức Dạ Xoa thần
Thệ nguyện giữ gìn lời Phật dạy
Cúng dường xưng tán xin lễ lạy
Đủ đại oai đức Ưu Bà Tắc
Dạ Xoa Đại tướng Ma Hổ La
Thân màu trắng đẹp cầm búa báu
Thống lãnh bảy ức Dạ Xoa thần
Thệ nguyện giữ gìn lời Phật dạy
Cúng dường xưng tán xin lễ lạy
Đủ đại oai đức Ưu Bà Tắc
Dạ Xoa Đại tướng Chơn Đạt La
Thân nọ sắc vàng cầm quyến sách
Thống lãnh bảy ức Dạ Xoa thần
Thệ nguyện giữ gìn lời Phật dạy
Cúng dường xưng tán xin lễ lạy
Đủ đại oai đức Ưu Bà Tắc
Dạ Xoa Đại tướng Chiêu Đổ La
Thân sắc màu xanh cầm chùy báu
Thống lãnh bảy ức Dạ Xoa thần
Thệ nguyện giữ gìn lời Phật dạy
Cúng dường xưng tán xin lễ lạy
Đủ đại oai đức Ưu Bà Tắc
Dạ Xoa Đại tướng Tỳ Yết La
Thân kia sắc đỏ cầm bánh xe
Thống lãnh bảy ức Dạ Xoa thần
Thệ nguyện giữ gìn lời Phật dạy
Cúng dường xưng tán xin lễ lạy
Đủ đại oai đức Ưu Bà Tắc
Tất cả các thứ cúng dường v.v… đều đem hồi hướng cho chúng sanh và Phật đạo.
Khi chưa chứng được Bồ Đề
Sinh vào ba cõi đủ đầy nghiệp duyên
Mạng thân bị các ngại phiền
Bồ Đề tâm nguyện ngày đêm giữ gìn
Sau đó thí thực, tắm rửa, lạy thù ân lại xưng tán.
Đạo Sư Thiện Danh Xưng Kiết Tường
Thân sắc vàng ngồi Vô úy Ấn
Tám lời nguyện lớn tòa Sư tử
Con nay cúng dường xin đảnh lễ
Đạo Sư Bảo Nguyệt Trí Nghiêm Phật
Thân sắc vàng ngời Thí diệu Ấn
Bốn lời nguyện lớn tòa Sư tử
Con nay cúng dường xin đảnh lễ
Đạo Sư Kim Sắc Bảo Quang Phật
Thân sắc vàng ngời Thuyết pháp Ấn
Bốn lời nguyện lớn tòa Sư tử
Con nay cúng dường xin đảnh lễ
Đạo Sư Pháp Hải Lôi Âm Phật
Thân sắc trắng trong Thuyết pháp Ấn
Bốn lời nguyện lớn tòa Sư tử
Con nay cúng dường xin đảnh lễ
Thiện Thệ Pháp Hải Thắng Huệ Phật
Thân sắc màu xanh Thuyết pháp Ấn
Bốn lời nguyện lớn Sư tử tòa
Con nay cúng dường xin đảnh lễ
Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật
Thân màu xanh trong Thí diệu Ấn
Mười hai nguyện lớn Sư tử tòa
Con nay cúng dường xin đảnh lễ
Đạo Sư Thích Ca Mâu Ni Tôn
Thân màu vàng kim Thuyết pháp Ấn
Phát lời nguyện lớn Sư tử tòa
Con nay cúng dường xin đảnh lễ
Đã từng vô số kiếp từ xưa
Thương xót chúng sinh khổ chẳng vừa
Phát thệ nguyện sâu thành cứu cánh
Cúng dường tám Đại Như Lai Tôn
Quá khứ vô số kiếp từ lâu
Thương xót hàm linh phát nguyện màu
Nay đã đủ đầy lời thệ nguyện
Cúng đường tám Đại Như Lai Tôn
Lời Thánh lớn rộng tợ hư không
Nghĩa lý vô cùng chẳng nghĩ bàn
Tánh của Viên âm trùm khắp cõi
Cúng dường Bát Nhã các Phật Mẫu
Từ lâu huân tập, tự tánh không
Nói Pháp tánh không nhiều loại thứ
Lại biến hiện ra thân đồng tử
Văn Thù Đại Trí xin kính lễ
Cứu hộ sáu đường tám nạn khổ
Rời biển sanh tử tới bờ kia
Khiến nhập Niết Bàn vui giải thoát
Cứu Thoát Bồ tát con kính lễ
Kim Cang thân báu chẳng ai lay
Mật chú Minh Vương thật mạnh thay
Chế ngự các loài không trở ngại
Kim Cang Thủ con xin lễ lạy
Đức Phật khi thành Chánh Đẳng Giác
Mười Địa Bồ Tát các Pháp Vương
Hiện các tướng thân lợi hữu tình
Cúng dường như trên vô lượng chúng
Thế Tôn Dược Sư Lưu Ly Quang
Giữ gìn tối thắng Diệu Pháp Tạng
Lợi lạc chúng sinh như Nhật Nguyệt
Quang minh tối thắng con đảnh lễ
Thọ trì các thứ Luật Luận Kinh
Bình bát Cà sa Tích trượng cầm
Theo học Thế Tôn nhiều Pháp báu
Cúng dường các vị chúng Thanh Văn
Đông phương Bách Thí Đế Thích Thiên
Thân sắc vàng tay giữ bảo chày
Ngồi ở trên lưng con tượng trắng
Con xin xưng tán lễ lành thay
Đông Nam Thần lửa Đại Phạm Thiên
Sắc đỏ thân tay giữ Quân trì
Cỡi lưng dê đỏ, lửa phủ quanh
Xin được cúng dâng đảnh lễ Ngài
Nam phương Âm Mẫu Diễm Ma Vương
Thân sắc màu xanh Trượng báu cầm
Ngồi ở lưng trâu xanh dũng mãnh
Cúng dường cung kính hết tâm thành
Tây Nam Ly Đế Dạ Xoa Vương
Kiếm báu cầm tay thân sắc đen
Ngồi cỡi trên lưng Khởi thi quỷ
Cúng dường các món xin kính lễ
Tây phương Thần nước Bà Rô Noa
Sắc trắng tay cầm Quyến sách xà
Ngồi ở Na già tòa sạch đẹp
Cúng dường đảnh lễ xin thọ nạp
Tây Bắc Phong thần Bà Da Ti
Thân sắc khói đen cầm túi gió
Ngồi lưng lừa lục đủ oai nghi
Xin nhận cúng dường và kính lễ
Bắc phương đã có Cu Tì La
Thân sắc vàng kim cầm gáy chuột
Cỡi trên ngựa báu sắc màu xanh
Con xin cung kính hết lòng thành
Đông Bắc Cụ chủ vua các Ma
Thân trắng tay cầm cây giáo báu
Ngồi lưng trâu xanh dạo lại qua
Con nay thành kính cúng dường lễ
Thượng phương tất cả các Chư Thiên
Nhật thiên, Nguyệt thiên, Tinh tú thiên
Các vị chư Thiên cùng quyến thuộc
Cúng dường kính lễ xin mẫn nạp
Hạ phương Long Vương với Địa thần
Bưng đỡ Địa luân tay lớn mạnh
Hộ các tam muội quyến thuộc đông
Xin nhận cúng dường các món dâng
Tuân theo lời Phật Ưu bà Tắc
Phương tiện tùy cơ biến hiện thân
Cung Tì La Tướng, các Dạ Xoa
Cùng các quyến thuộc xin kính lễ
Kiết tường oai đức Ưu Bà Tắc
Dữ dằn hung ác rất đánh sợ
Cung Tì La với Phạt Chiết La
Tỳ yết La xin thảy cúng dường
Tất cả tán lễ cúng dường phước
Thỉnh Phật trụ thế chuyển Pháp luân
Tùy hỷ sám hối các thiện căn
Hồi hướng chúng sanh và Phật đạo
Bởi vì ngu si không trí huệ
Tu các việc lành chẳng tới nơi
Vì độ chúng con và các loại
Nguyện xin từ bi thương nạp thọ
Vì chưa đầy đủ lực thắng thù
Chỗ các sai lầm không tự biết
Như vậy tất cả các điều kia
Xin nguyện từ bi thương nạp thọ
Lợi ích cho con với chúng sanh
Tất cả mong cầu thành tựu hết
Xin thỉnh Thế Tôn về chỗ cũ
Phụng thỉnh xin Ngài hãy giáng lâm.
( Bản Nghi quỹ cúng dường nầy không có Thần Chú )26/05/1006
KINH DƯỢC SƯ THẤT PHẬT
NGHI QUỸ CÚNG DƯỜNG NHƯ Ý VƯƠNG
Mật Tạng Bộ 2 - No 927 ( Tr.48 - Tr.62 )
Phổ Trí Trì Kim Cang Đạt Lai Lạt Ma soạn Phạn ra Hán văn
Việt Dịch: Sa Môn Thích Quảng Trí
Khể thủ vô cấu mãn nguyệt chủ
Pháp vũ nhiêu ích chư chúng sanh
Tu trì nghi quỹ hạnh nguyện Pháp
Nguyệt diệt chư khế hộ an ninh
( Kính lạy vị đầy đủ tướng tốt không dơ bẩn
Mưa Pháp lợi ích khắp chúng sanh
Tu trì nghi quỹ pháp hạnh nguyện
Nguyện các khổ diệt, được an vui )
Tu tạo Dược Sư Đàn Pháp: Hoặc tạo lập hoặc họa vẽ đều được, sau đó an Phật Thích Ca, Dược Sư bảy Phật Như Lai, các Đại Bồ Tát, Hộ Pháp, mười hai Dạ Xoa Đại tướng, mỗi mỗi theo thứ lớp, hương đèn hoa quả hiến cúng tùy sức bày biện.
Nếu muốn tu trì, tắm rửa sạch sẽ, mặc quần áo mới, không ăn uống các loại rượu thịt uế ác v.v… ăn tam bạch thực, tâm phải xa lìa các cấu nhiễm. Nếu là cư sĩ giữ gìn trai giới (ngày ăn một bữa ngọ). Nếu là xuất gia phải giữ gìn Đại thừa giới luật.
- Nguyện quy y Tam Bảo, cầu Chư Phật Bồ Tát nhiếp thọ thành tựu tất cả sức tối thắng, Pháp giới thanh tịnh bất tư nghị, tất cả Chư Phật gia hộ đệ tử …. Nơi đây làm Pháp Bồ Tát, phước điền xin nguyện giáng lâm nạp thọ.
Thương xót chúng sinh năm ác trược
Kinh Đại Phương đẳng nghĩa sâu xa
Gần gũi dạy dỗ cho chúng con
Các vị Tôn sư, con đảnh lễ
Thế Tôn đầy đủ Đại bi tâm
Đủ các món Trí làm Đạo sư
Phước đức trí huệ sâu như biển
Con xin đành lễ các Như Lai
Thanh tịnh xa lìa các tham dục
Hay khiến rời bỏ các ác thú
Tối thắng tối tôn nghĩa nhiệm màu
Thanh tịnh Pháp bảo con đảnh lễ
Tự mình hiểu được khiến người hiểu
Lại hay an trụ các học xứ
Đủ các công đức làm Phước điền
Các vị Tăng già, con đảnh lễ
Đảnh lễ Tối Tôn Chánh biến tri
Đảnh lễ tất cả các Diệu Pháp
Đảnh lễ tất cả hàng Tăng già
Mãi mãi chí thành xin đảnh lễ
Xem khắp mười phương các chúng sanh
Xót thương xoay chuyển Diệu Pháp luân
Độ cho tất cả loài hàm thức
Đảnh lễ mười phương Phật Thế Tôn
Đồng lòng phát thệ nguyện sâu dầy
Tu tập cùng nhau làm bạn lữ
Nguyện trong hiền kiếp chứng Như Lai
Đầy đủ ngàn Phật, con kính lễ
Từ lâu vô số kiếp ngày xưa
Vì cứu chúng sanh bị khổ hoài
Nên phát các lời đại nguyện thệ
Tám Phật Như Lai con cúi đầu
Duy Hệ, Thi Khí, Tỳ Xá Phù
Câu Lưu, Na Hàm và Ca Diếp
Thích Ca Như Lai ở cõi đời
Bảy Phật như trên, con đảnh lễ
Thù thắng mặt như mặt trăng tròn
Thân sắc vàng tươi, con đảnh lễ
Xa lìa ba cõi các bụi nhơ
Các vị Thế Tôn con đảnh lễ
Đại bi Thế Tôn xin thương xót
Nghe tên tiêu trừ khổ sáu đường
Trừ ba bệnh độc, Phật Dược Sư
Lưu Ly Quang Vương con đảnh lễ
Chỗ nơi Chánh Giác hiện ra đời
Và chỗ Ngài thành đạo Bồ đề
Cùng chỗ Pháp Luân đầu tiên nói
Nay con thảy đều xin đảnh lễ
Chỗ Đức Như Lai thường an ở
Kinh hành qua lại hoặc ngồi nằm
Nói Pháp thậm thâm dạy chúng sanh
Những chỗ như vầy con đảnh lễ
Trên dưới mười phương tới trung ương
Chẳng cần phân biệt các hướng phương
Có Xá lợi hay không Xá lợi
Hễ có chùa tháp, con cúi đầu
Trí huệ thâm sâu chẳng nghĩ bàn
Không sanh không diệt thể hư không
Tùy theo các loại mà sanh khởi
Phật Mẫu ra đời con kính lễ
Văn Thù,ø Cứu Thoát, Bí Mật Chủ
Cùng với Quan Âm hạnh rộng sâu
Độ khắp chúng sanh không mỏi mệt
Đại Thừa Tăng già, con đảnh lễ
Tâm sáng đầy đủ chiếu khắp nơi
Con xin đảnh lễ thân chói ngời
Khiến được an vui lìa các khổ
Các nơi như vậy con đảnh lễ
Các căn trong sạch trí mênh mông
Dạy bảo mọi loài ở thế gian
Pháp Phật lưu truyền hay ủng hộ
Mười sáu La Hán, con đảnh lễ
Tu quán mười hai khắp nhân duyên
Được gọi Duyên Giác quả như trên
Không nương nơi Pháp tự mình tu
Chứng Đạo Độc Giác, con đảnh lễ
Thần thông biến hóa thật khó lường
Vâng lời Phật dạy suốt ngày đêm
Ủng hộ Như Lai mật Pháp truyền
Hộ Giáo Kim Cương, con đỉnh lễ
Đời xưa Bố Thí nhân này
Đời nay thọ mệnh,tiền tài, trang nghiêm
Cúng dường Tam Bảo Đạo Tâm
Con xin kính lễ ân thâm mọi người
Chư Phật Bồ Tát khắp Hư Không
Biến hóa Thần Thông độ chúng sinh
Khắp cõi vi trần đều có đủ
Tất cả các Thời, con kính lễ
Mười Phương tất cả Thế Giới đây
Ba đời chư Phật hiện ra nay
Con dùng thân khẩu ý trong sạch
Cúi đầu đỉnh lễ các Như Lai
Phổ Hiền hạnh nguyện thật oai thay
Trước Phật Như Lai hiện đủ đầy
Một hiện ra trăm, trăm hiện ức
Thảy đều có đủ lễ Như Lai
Ở trong tất cả khắp mười phương
Phật Hội Bồ Tát Chúng hiện đương
Tin Phật rất sâu đầy đủ cả
Tận khắp vi trần thật khó lường
Hay dùng tất cả mọi âm thanh
Vô tận lời hay ý đẹp lành
Khen Phật vô cùng công đức lớn
Tận vi trần kiếp khắp nơi sinh
Lại dùng tất cả các tràng hoa
Âm nhạc và cùng các thứ hương
Đầy đủ trang nghiêm không có sót
Xin đều dâng hiến Phật mười phương
Tất cả y phục, tất cả hương
Hương bột, hương đốt, đèn đuốc trong
Tất cả chứa đầy như núi lớn
Cúng dường chư Phật hết lòng thành
Lại dùng rộng lớn Thắng Giải Tâm
Tin Phật sâu xa chẳng đổi lòng
Y Đức Phổ Hiền hạnh nguyện đó
Cúng dường khắp hết Phật mười phương
Con xưa đã tạo các aÙc nghiệp
Đều do vô thủy Tham Sân Si
Từ thân miệng ý phát sinh ra
Tất cả con đều xin sám hối
Mười Phương tất cả các chúng sinh
Nhị Thừa Hữu Học và Vô Học
Tất cả Như Lai và Bồ Tát
Có bao Công Đức đều tùy hỷ
Mười Phương tất cả Thế Gian Đăng
Đầu tiên thành tựu Đạo Bồ Đề
Nay con thảy đều xin khuyến thỉnh
Cầu Ngài xoay chuyển bánh xe Pháp
Chư Phật nếu muốn vào Niết Bàn
Con nguyện chí thành xin khuyến thỉnh
Cầu Phật ở lâu tại nơi đời
Lợi lạc tất cả các chúng sanh
Tất cả lễ tán, cúng dường phước
Thỉnh Phật nơi đời chuyển Pháp luân
Tùy hỷ sám hối các Thiện căn
Hồi hướng chúng sanh và Phật đạo
(Chắp tay đọc lời Bồ Tát rằng: )
Nhớ xưa Đức Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác như người dạy ngựa, dạy voi, chỗ đáng làm đã làm xong, thệ nguyện đủ đầy, lợi mình lợi người, hết các kiết sử, đủ các giải thoát, đủ các trí huệ. Nay vì chúng con, vì lợi ích, vì giải thoát, vì xa lìa tật bệnh, xa lìa đói khát, vì đầy đủ các phương tiện, vì Chánh Đẳng Bồ đề làm Pháp giải thoát. Chúng con … từ lúc này cho đến lúc mặt trời mọc, xin thọ Bồ Tát.
Bắt đầu từ đây không sát hại
Lại cũng không trộm cướp của người
Lại cũng không làm chuyện dâm dục
Lại cũng không nói dối mọi lời
Lại cũng nguyện xin chừa bỏ rượu
Mọi tội phát sinh bởi đây thôi
Chẳng nằm giường rộng ngồi chỗ cao
Chẳng có thèm ăn uống trái thời
Cũng chẳng đeo hoa xoa phấn sáp
Chẳng cần ca hát nhạc vui chơi
Như Phật xưa kia cũng đã làm
Nay con theo Phật chẳng sát sanh
Tất cả việc trên đều theo học
Nguyện thành vô thượng, chứng kim thân
Nguyện sớm thoát ly qua biển khổ
Nguyện đem an lạc cứu quần sanh
- Ngạc ma a ma hắc hợp tí y lạp, tát ma bạt hợp lặc tát ma bạt hợp lạt, bạt hợp lạt, bạt hợp lạt, ma hợp a thư bạt đạt hợp tát linh ba đạt ma tất bất lương y đáp bất tạp đạt hợp lặt đạt hợp lặc tát mạn đáp a oát la cơ đắc hồng phì dà sa a hợp a (21 lần)
Giữ gìn giới cấm lìa ô nhiễm
Thanh tịnh đầy đủ chẳng ngại ngăn
Lìa xa cấm giới bị chấp trước
Luôn luôn giữ Giới Ba La Mật
Quy y mười phương ba đời các Như Lai, công đức của ba nghiệp Thân, Khẩu, Ý, tự nơi tự tánh sanh tám vạn bốn ngàn Pháp. Tất cả Thánh Tăng tôn làm Thân giáo sư (A Xà Lê) và các Ngài có đủ oai đức tự tại.
Quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng, quy Thế Tôn và tám Như Lai trong Hội Dược Sư cùng các quyến thuộc.
Phát tâm Bồ đề: Vì các hữu tình nguyện thành Phật quả. Do tu trì tám Đại Như Lai Phật hội, cùng các quyến thuộc cúng dường lễ thỉnh. Dùng ý phát nguyện lần lượt theo thứ tự :
Từ trong bản tánh Chân như phát bốn Tâm Vô lượng: Ta cùng các hữu tình Pháp tánh bổn lai không khác, do vì không hiểu lý này, nguyện cho tất cả chúng sanh thường được an lạc và các nghiệp thanh tịnh.
Nguyện khiến xa lìa khổ não và các nhân khổ
Nguyện khiến dứt các khổ, thường được an lạc
Nguyện khiến bỏ các nhân ác chấp trước được an ẩn thường lạc, luôn có tâm bình đẳng.
Cúi mong Tam Bảo, tất cả Chư Phật và Bồ Tát nhiếp thọ, hai món đầy đủ, lực Pháp giới thanh tịnh không thể nghĩ bàn. Nguyện bảy Phật Như Lai bổn nguyện như trong kinh đã nói, mười phương Như Lai chứng cho đệ tử, các Thánh Hộ Pháp nơi đàn cùng các cúng vật, nguyện oai lực của Phật Bồ Tát biến thành cõi Phật thanh tịnh như cõi Cực Lạc của Phật A Di Đà đầy đủ tất cả công đức trang nghiêm. Đất này đều do các thứ báu mà thành, bằng phẳng sạch sẽ rộng rãi, ánh sáng vi diệu chiếu khắp mọi nơi, hoa trời tán rải, các mùi hương Ngưu Đầu, Chiên Đàn xông khắp, vàng bạc các báu rải lát nơi đất, các ao báu có nước tám công đức, các thứ chim chóc đủ màu bay nhảy hót lên các âm thanh vi diệu. Lại có cây báu Như ý nghiêm sức bằng các báu ma ni, trân châu, san hô, treo thòng các ngọc báu, nở các hoa quả, khi có gió thổi rung động các chuông vàng phát ra âm thanh vi diệu, đầy đủ các món như vậy, tự nhiên thành tựu.
Lại nơi giữa đất do bảy báu thành tựu, có vô lượng cung điện phóng ánh sáng rực rỡ chiếu khắp vô lượng thế giới, các cảnh như thế, thế gian không gì sánh kịp, dùng các món thiện căn thanh tịnh oai đức tự tại lễ nơi Đức Như Lai ngự cùng các chư Bồ Tát, Thánh Tăng, Thiên Long, Dạ Xoa, Càn Thát Bà, A Tu La, Khẩn Na La, Ma Hầu La Dà, Nhân, Phi nhân vô số qua lại giỡn chơi, lại phát ra các Pháp vị độ tất cả hữu tình thảy đều an lạc, xa lìa các phiền não cấu chướng, vĩnh viễn không có việc ma. Tất cả việc như trên thành tựu không nghi, thế gian không bì được, cũng như cõi Tịnh độ của Phật, được đại trí huệ quyết định chứng ngộ Đại thừa chỉ quán, nhập vào cửa Giải thoát, tự tánh không tướng, vô lượng tòa sen báu, vô lượng công đức, vô lượng bảo điện tự nhiên thành tựu.
Lại nơi trong đàn tòa Như Lai Liên Hoa Sư tử Thiện Danh Xưng Cát Tường Vương, Như Lai Bảo Nguyệt Liên Hoa Trí Nghiêm Quang Âm Vương, Như Lai Kim Sắc Vô Cấu Bảo Quang Diệu Hạnh Thành Tựu, Như Lai Vô Ưu Tối Thắng Cát Tường, Như Lai Pháp Hải Lôi Âm, Như Lai Pháp Hải Thắng Huệ Du Hý Thần Thông, Như Lai Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Như Lai Thích Ca Mâu Ni và mười phương Như Lai, Bồ Tát Thánh thần Hộ Pháp chúng hội, các vị đều nơi tòa của mình an trụ theo thứ lớp, tự nhiên thành tựu đầy đủ.
Lại nữa trong ngoài tất cả mọi nơi, tùy lực các món thắng diệu uống ăn nơi cõi trời ngườ, y phục âm nhạc các thứ vật cúng như trong kinh đã nói, nơi phẩm Hạnh Nguyện Phổ Hiền đầy như mây biển cúng dường khắp Thánh chúng. Xin nguyện nạp thọ.
- Chỉ ngạt ma nạp ma bạt hợp hắc oác đắc bạt nan lặc tát a lặc ba lặc ma lặc đạt nạp đáp tháp a hắc đáp a nha a lặc hợp đắc tát ma nha ưu tát ma phổ đạt đạt hợp nha đáp đạt nha tháp a chỉ ngạc ma bạt tạp phù bạt tạp phù ma lạp a tất đạt nha a bạt tạp phù, ma lạp a bạt đề tư đáp đáp bạt tạp phù ma cáp a bạt đề mạn đốt ba tang kiết lạt ma na bạt tạp phù tát lạt oát kiết lạt ma a a oát lạt ma tất thạc đạt cáp nạp bạt tạp phù sa a cáp a.
Lại xin tất cả Chư Phật Bồ Tát nhiếp tho,ï hai món tư lương đầy đủ sức tối thắng, lực bất khả tư nghị tối thắng của Pháp giới như vậy thành tựu.
Như Lai Thiện Danh Xưng Cát Tường Vương, Như Lai Bảo Nguyệt Liên Hoa Trí Nghiêm Quang Âm Vương, Như Lai Kim Sắc Vô Cấu Bảo Quang Diệu Hạnh Thành Tựu, Như Lai Vô Ưu Tối Thắng Cát Tường, Như Lai Pháp Hải Lôi Âm, Như Lai Pháp Hải Thắng Huệ Du Hý Thần Thông, Như Lai Dược Sư Lưu Ly Quang Vương, Như Lai Thích Ca Mâu Ni … Ba đời mười phương tất cả Như Lai Ứng Cúng Chánh Đẳng Giác cùng tất cả chư Bồ Tát xót thương chứng giám. Thế Tôn đầy đủ Đại Từ Bi, do vì khi Tượng Pháp chuyển năm trăm năm sau, tất cả chúng sanh bị các nghiệp chướng ràng buộc, tất cả ác bệnh bức bách, tất cả khổ não làm hại cùng sự nghèo kho,å vì muốn cứu vớt các hữu tình như vậy và vì lợi ích trời người được an lạc. Tất cả Như Lai đủ các phương tiện khéo léo và đủ các đại nguyện do các lực tối thắng này nhiếp thọ không cùng, khiến cho con tên … cầu xin … và tất cả chúng sanh làm chỗ dựa nương. Nguyện xin giáng lâm tại Đạo tràng này thọ các cúng dường, từ bi nhiếp thọ gia hộ cho.
Bổn sư hiện tại của chúng con : Thích Ca Mâu Ni Văn Phật phân thân biến hóa khắp mười phương cõi, du hý thần thông làm lợi ích chúng sanh. Nguyện Thế Tôn đại từ đại bi không bỏ lời thệ nguyện thương xót con và tất cả chúng sanh thời Mạt Pháp làm chỗ nương dựa, giáng lâm Đạo tràng thọ lãnh cúng dường ban cho thành tựu.
Bồ Tát Ma Ha Tát Văn Thù Sư Lợi, Bồ Tát Cứu Thoát, Bồ Tát Kim Cang Thủ … và tất cả các Bồ Tát từng ở nơi Hội của bảy Như Lai, khi nghe kinh Bổn nguyện Công đức ở trong đại hội nhiếp thọ kinh nghĩa, vì thành tựu Diệu Pháp của Như Lai mà phát tâm, nay vì tên … cùng chúng con và tất cả chúng snah làm nơi nương dựa, xin thỉnh giáng lâm tại đạo tràng này thương xót nạp thọ.
Lại ở trong Pháp hội của các Như Lai từ xưa đã dùng lời chân thật của cõi Trời, các vị thệ nguyện ủng hộ kinh Công Đức Bổn Nguyện của bảy Như Lai, Chánh Pháp cùng bốn chúng nguyện xin Thích Đề hoàn nhân, Đại Phạm Thiên Đế, Thiên Vương Trì Quốc, Thiên Vương Tăng Trưởng, Thiên Vương Quảng Mục, Thiên Vương Đa Văn … cùng các Hộ Pháp Thánh chúng. Nay vì (tên … ) con cùng tất cả chúng sanh làm nơi nương dựa, nguyện xin giáng lâm tại đạo tràng thương xót nạp thọ.
Lại nơi trong Pháp hội của các Như Lai, thuở xưa đã từng phát nguyện hộ trì các hữu tình ủng hộ Chánh Pháp Bổn Nguyện Công Đức Kinh, các vị đó là : Đại Tướng Cực Ý Dạ Xoa, Đại Tướng Kim Cang Dạ Xoa, Đại Tướng Chấp Nghiêm Dạ Xoa, Đại Tướng Chấp Tinh Dạ Xoa, Đại Tướng Chấp Phong Dạ Xoa, Đại Tướng Cư Xử Dạ Xoa, Đại Tướng Chấp Lực Dạ Xoa, Đại Tướng Chấp Ẩm Dạ Xoa, Đại Tướng Chấp Ngôn Dạ Xoa,
Đại Tướng Chấp Tưởng Dạ Xoa, Đại Tướng Chấp Động Dạ Xoa, Đại Tướng Viên Tác Ý Dạ Xoa. Các vị Dạ Xoa Đại Tướng xưa đã có ý cao đẹp, nay vì …. (tên … ) con và tất cả chúng sanh làm nơi nương dựa, xin phụng thỉnh giáng lâm đạo tràng thọ nạp cúng dường, xót thương gia hộ.
Chẳng có tới lui thân bất hoại
Tùy cơ mà hiện các Hóa thân
Như vầng trăng sáng ở trên không
Chiếu rọi thế gian trừ tăm tối
Phụng thỉnh Thế Tôn Xuất Hữu Hoại
Con nay có chút phần công đức
Cầu xin từ bi thương nạp thọ
Chư Tôn Pháp thân vốn thanh tịnh
Xa lìa tham ái các buộc ràng
Thương xót chúng con trừ các chướng
Nước ròng tinh khiết xin gội rửa
Tất cả Chư Tôn đều đầy đủ
Nước thơm, con chứa trong bình báu
Viên mãn tràn đầy xin hiến cúng
Lại dùng các món kỹ nhạc đây
Dâng cúng tối thắng vô tỷ y
Ứơp tẩm hương thơm phủ Phật thân
Lại nguyện dâng hoa đủ sắc màu
Hương thơm vô cùng xin hiến cúng
Lại dùng các món của cõi trời
Cúng dâng Bất hoại Kim Cang thể
Con dùng tâm bền không lui sụt
Xin nguyện đắc được thân Kim Cang
Phiền não làm khô các hữu tình
Nước Pháp rưới cho được đầy đủ
Thành tựu tất cả các nghiệp duyên
Nay xin dâng hiến bình nước sạch
Tại nơi thanh tịnh đạo tràng này
Oai đức tòa sen xin phụng cúng
Ở nơi Thiền định không lay động
Cầu thỉnh Chư Tôn nguyện an trụ
Ngồi trên tòa báu, quý không lường
Hiển hóa thần thông không chướng ngại
An nơi bình đẳng tánh kiên cố
Phẩm vật nơi đây xin nạp thọ
Tám đại Như Lai ở tại quốc độ mình, dùng thần thông nương hư không mà lại nơi đạo tràng, an nhiên trụ nơi tòa Sư tử báu nơi trung ương. Chư Bồ Tát, quyến thuộc Phạm Thiên Đế Thích, Hộ Pháp, Đại Tướng Thập Nhị Dạ Xoa, mỗi vị đều y nơi bổn tòa của mình an trụ.
Tưởng xong dâng các món cúng dường v.v… các món dâng cúng tùy sức bày biện.
Cứu độ Trời người, chúng sanh, con Đại Phạm
Văn Thù Sư Lợi là con của Pháp Vương
Đạo giáo gốc rễ Đức Phật thường nuôi dưỡng
Ngay ngắn đoan trang, chí thành con kính lễ
Thánh thiên chi tử Tát trì nạp lặc y
Giải thích đính chánh các văn tự
Hay Nhẫn, Khổ hành thiên phổ Kim Cang Đức
Chủ Tể hộ quang bốn vị con đảnh lễ
Tôn sùng Tam Bảo Tối thượng, đức bền chắc
Thành kính Thánh giáo an đế nhật quang tôn
Chúa tể các đại diệu Pháp cát tường đế
Thượng sư nơi đời bốn vị con đảnh lễ
Chấp Tài tự hộ Thiên trung đế
Chúng tôn tộc tánh đại đức quang minh đế
Tuyết lảnh tối thân nhất Thiên đảnh tôn đế
Phan địa hàng oan bốn vị con đảnh lễ
Đại Thiện tri thức, Thư an, Trí huệ xưng
Dương địa độc tuyền mậu thạnh Pháp tràng sư
Phù xuyên Thành giáo Nhật quang trác ma xa
Chánh giác tu quán bốn vị con đảnh lễ
Cao tộc giáng sanh tâm tạng Kiết tường tràng
Vô tỉ lạc phổ biến hoan nguyện hộ túc
Thảo xá Thượng sư danh xưng Kiết Tường hiền
Thượng sư Phước xưng, bốn vị con đảnh lễ
Pháp phổ Đại sư Bảo danh kiết tường phan
Như Ngài Bồ Tát Văn Thù trí huệ đủ
Trì luật tối thượng tôn đủ các nghi tắc
Biến hỷ trí huệ, bốn vị con đảnh lễ
Giữ gìn giới luật ngừa tội phước lục sư
Diệt vọng ngữ Phổ Hiền lực oai mãnh sư
Quyết định tất cả chủng trí thật đầy đủ
Tự tại bền chắc, bốn vị con kính lễ
Thế Tôn phước đức đầy đủ thật an lành
Pháp sư ân nghĩa gối rễ sạ rô ba
Cư xử Pháp sư ý tứ quảng bác sư
Tu Bảo Thần Hải, ba vị con kính lễ
Diệu ngữ cụ tư lệ tạng thắng trí huệ
Trụ trì Kim Cang tối thượng hai vị sư
Nên được tên Pháp ân Ngữ vương trí huệ
Hiền nhận Diệu hải, hai vị con kính lễ
Chánh giác tu quán tùy trì hư không xưng
Đại Thiện trí thức phước đức trí huệ đủ
Chánh biến tri giác gọi là Phước Đức Hòa thượng
Vô tỉ hàng chỉ, ba vị con kính lễ
Thánh giác Căn bản pha đề tát anh tôn
Thí chủ Pha đề tát anh là sau xửa
Ở trong tát hòa lặc là vua Thiện kiết tường
Để y bà ma kiết a lặc, bốn vị con kính lễ
Thánh giáo mạng Mộc Thiên đức Bồ đề quang
Cứu độ hữu tình Đế tư Quảng đại hiệu
Bồ Tát ma cáp a tát anh nguyệt tràng sư
Công bà Thích sư bốn vị con kính lễ
Thắng tràng sư hay diệt phiền não các báu
Gia oát tự tại Diệu mỹ tên lừng lẫy
Gia oát Đức diệu nói giới đủ các hành
Oai đức tự tại bốn vị con kính lễ
Quảng đại công đức Thương ba trì Luật sư
Các Pháp sư Bồ Tát Hoà thượng được khen
Tám đại Như Lai bổn nguyện nghi quỹ kinh
Cùng các Đại sư danh xưng con kính lễ
Tuuyết lảnh lợi ích phước lục là chỗ sanh
Thắng liệt tu hành đều có thể lâm đạo
Kim Bổn Nguyện Công Đức của Đấng Pháp Vương
Các vị Hộ pháp giúp lưu truyền, con kính lễ
Nhị lợi cứu cánh Phật đạo sư chánh đẳng
Nhị đế lưỡng trùng Thánh giáo Chánh diệu pháp
Nhị túc thọ trì Tối thắng chúng Tăng già
Quy y tất cả Tam Bảo, con kính lễ
( Phần kệ này do các Lạt Ma soạn vào đời Thanh, có những câu xưng tán bằng tiếng Tây Tạng nên không cần phải thọ trì và hơn nữa, có tên các vị của Tây Tạng trong này. Vì dịch thuật nên phải dịch ra.)
- Đảnh lễ cúng dường quy y ba đời mười phương các Thiện Thệ và chúng đệ tử
- Đảnh lễ cúng dường quy y Ứng Cúng Chánh Đẳng Chánh Giác Như Lai Thiện Danh Xưng Kiết Tường Vương cùng trăm ngàn vạn ức vô lượng vô biên các chúng Bồ Tát đoanh vây.
- Đảnh lễ cúng dường quy y Ứng Cúng Chánh Đẳng Chánh Giác Như Lai Bảo Nguyệt Liên Hoa Trí Nghiêm Oai Âm Vương cùng các Bồ Tát đoanh vây.
- Đảnh lễ cúng dường quy y Ứng Cúng Chánh Đẳng Chánh Giác Như Lai Kim Sắc Vô Cấu Bảo Quang Diệu Hạnh Thành Tựu cùng trăm ngàn vạn ức Bồ Tát đoanh vây.
- Đảnh lễ cúng dường quy y Ứng Cúng Chánh Đẳng Chánh Giác Như Lai Vô Ưu Tối Thắng Kiết Tường cùng vô lượng ức Bồ Tát đoanh vây.
- Đảnh lễ cúng dường quy y Ứng Cúng Chánh Đẳng Chánh Giác Như Lai Pháp Hải Lôi Âm Như cùng vô lượng Bồ Tát quyến thuộc đoanh vây.
- Đảnh lễ cúng dường quy y Ứng Cúng Chánh Đẳng Chánh Giác Như Lai Pháp Hải Thắng Huệ Du Hý Thần Thông cùng vô lượng Bồ Tát đoanh vây.
- Đảnh lễ cúng dường quy y Ứng Cúng Chánh Đẳng Chánh Giác Như Lai Dược Sư Lưu Ly Quang Vương cùng quyến thuộc Bồ Tát, Nhật Quang Biến Chiếu, Nguyệt Quang Biến Chiếu, vô lượng Bồ Tát.
Thân thể sáng xanh màu ngọc báu
Quang minh tướng hảo thể hư không
Biến khắp mọi nơi ban thành tựu
Dược Sư Như Lai, con kính lễ
Pháp ngữ nhiều lời làm lợi ích
Phạm âm thanh tịnh đủ lời hay
Đủ đầy giải thoát các Pháp tạng
Dược Sư Diệu ngữ, con kính lễ
Trí huệ thâm sâu như biển cả
Vô duyên từ bi cứu mọi loài
Tất cả thệ nguyện vì độ chúng
Dược Sư Thắng ý, con kính lễ
- Đảnh lễ cúng dường quy y Bản Sư Thế Tôn Như Lai Ứng Cúng Chánh Đẳng Chánh Giác Thích Ca Mâu Ni Văn Phật cùng các quyến thuộc ba vạn sáu ngàn Bồ Tát.
Diệt mọi tối tăm đuốc tối thắng
Trừ các bệnh khổ thuốc thang hay
Tất cả các Pháp bảo vi diệu
Đảnh lễ quy mạng và cúng dường
- Đảnh lễ cúng dường quy y Thánh giả Văn Thù đồng tử Cứu Thoát, Kim Cang Thủ vàcác Bồ Tát ma ha tát.
- Đảnh lễ cúng dường quy y Đại Phạm, Đế Thích, Tứ Đại Thiên Vương, tất cả các Hộ Pháp. Đảnh lễ cúng dường quy y Cực Úy Dạ Xoa Đại Tướng, mười hai vị Dạ Xoa Đại Tướng nơi Thánh hội này. Phụng cúng nước công đức, hương thoa, hoa đẹp thơm, hương xông, đèn sáng, đồ ăn, thuốc thang, bảo cái, tràng phan, tận lực bày biện dâng cúng, thiên thượng nhơn gian có các món tốt đẹp nào thảy đều dâng cúng với lòng thành kính đầy đủ như mây biển, giống như Phổ Hiền hạnh nguyện phẩm trong kinh đã nói rõ, như hư không, như biển lớn không có bờ bến, tất cả đều dâng hiến. Nay vì tên … con và tất cả hữu tình từ vô thủy lại đây ở trong luân hồi thọ các thứ thân, không làm các việc lành, việc không đáng làm lại làm, việc đáng làm lại không làm v.v… Tất cả mọi việc phải trái trên thảy đều thành tâm sám hối, ba đời phàm thánh chỗ có các việc lành, tất cả phước đức thảy đều tùy hỷ, mười phương Chư Phật xin thỉnh chuyển bánh xe Pháp làm đèn sáng nơi đời. Nếu có vị nào muốn nhập Niết Bàn, con đều chí thành cầu khẩn các Ngài thường ở mãi nơi đời làm lợi ích an lạc chúng sanh. Như vậy, tất cả phước đức của mình của người thảy đều hồi hướng. Xin nguyện làm nhơn chứng đắc Vô thượng bồ đề.
Cúi xin tất cả Thế Tôn ở nơi Pháp đàn xót thương hộ niệm. Chư Phật đủ đại từ đại bi vì chúng sanh ở đời vị lai năm trăm năm sau khi Tượng Pháp chuyển, bị các ác nghiệp ràng buộc, các bệnh khổ bức bách, các khổ não làm hại, bị nghèo đói khốn khổ, vì muốn cứu độ các chúng sanh kia, vì muốn lợi ích trời người, từ xưa bảy Phật Như Lai Ứng Cúng Chánh Đẳng Giác dùng phương tiện thiện xảo phát ra các lời nguyện rộng lớn gia hộ nhiếp thọ không thể nghĩ bàn. Đức Bổn sư hiện tại của chúng con Như Lai Thích Ca Mâu Ni đã gần gũi dạy bảo, xin vì nhiếp thọ, các Thánh Văn Thù Sư Lợi, Cứu Thoát Kim Cang Thủ v.v… Các chư Tôn Bồ Tát ma ha tát ngày trước đã từng thề nguyện làm cho thành tựu các nghĩa nơi kinh, nguyện xin nhiếp thọ. Phạm Thiên, Đế Thích, Tứ Đại Thiên Vương, mười hai Đại Tướng Dạ Xoa v.v…ủng hộ Phật Pháp làm các việc lớn. Nay nơi Pháp hội, chỗ nào có Bổn Nguyện Công Đức Kinh, nếu có ai thọ trì đọc tụng sẽ được ủng hộ cứu độ, nay chúng con y theo Bổn Nguyện Kinh Nghi quỹ hòa hợp các cúng phẩm tận lực bày biện hiến dâng, ngưỡng mong ơn trên ban cho đầy đủ các nguyện, chư Thế Tôn ở nơi Pháp đàn từ bi hộ niệm, chư tôn Thánh giả đầy đủ trí huệ thương xót, nguyện tất cả các việc không thể nghĩ bàn này đều xin hồi hướng Phật Pháp hưng long, các vị Thượng sư chưởng giáo thân thể bình an mạnh khỏe sống lâu, Tăng già hưng thạnh an hóa đầy đủ mười Pháp hành, các người thọ trì, tăng trưởng lưu thông thế lực. Tất cả hữu tình đều được an lạc, hiện tiền thí chủ … tiêu trừ tai chướng, đủ hai món tư lương, mau chứng Chánh Đẳng Chánh Giác. Cúi xin gia hộ.
( Lại mỗi khi cúng dường đều phát nguyện, đảnh lễ tám Như Lai, Diệu Pháp, Tăng già, xin thành tựu Tổng trì bảo bình … tám Như Lai bắt đầu từ Thiện Danh Xưng …
- Thứ nhất niệm danh hiệu Như Lai Thiện Danh Xưng Kiết Tường Vương dâng cúng và phát nguyện.
- Đảnh lễ cúng dường quy y Thế Tôn Ứng Cúng chánh Đẳng Chánh Giác Như Lai Thiện Danh Xưng Kiết Tường Vương (7 lần)
Các Phật tử nay tại đạo tràng trước Như Lai Đức Thiện Danh Xưng Kiết Tường Vương nghe tên nhớ niệm tụng 7 lần cúng dường xưng tán Như Lai Thiện Danh Xưng Kiết Tường Vương đã từng phát nguyện :
- Ta sẽ vì tất cả chúng sanh, nếu ai bị các thứ bệnh khổ, nóng lạnh, quỷ mị, chú khởi thi quỷ, các nạn bức bách, tai họa, bệnh tật tức thời tiêu diệt cho đến cứu cánh Bồ đề không bị các bệnh nóng, quỷ mị, tội chướng thảy đều trừ diệt.
- Ta nguyện vì tất cả chúng sanh nếu bị điên cuồng lác hủi các bệnh, ta sẽ cứu cho đến cứu cánh Bồ đề, các căn đầy đủ, tất cả khổ não tật bệnh thảy đều chấm dứt đoạn tuyệt.
- Ta nguyện vì tất cả chúng sanh, nếu bị tham sân ngu muội hoặc làm các tội ngũ nghịch, làm các hành phi pháp, phỉ báng Chánh Pháp, tạo các tội nghiệp chẳng lành đọa vào tam đồ Địa ngục, các chúng sanh đó ở nơi Điạ ngục thọ khổ, nhớ niệm tên ta thì tất cả các tội ngũ nghịch, các ác nghiệp chướng thảy đều tiêu trừ cho đến chứng được Vô thượng Chánh Đẳng Chánh Giác không bị đọa vào các ác đạo, Địa ngục, thường sanh Chư Thiên hưởng các điều vui sướng.
- Ta nguyện vì tất cả chúng sanh, nếu ai bị nghèo cùng đồ ăn thức uống món mặc tiền bạc lúa gạo v.v…nguyện cho tất cả đến khi chứng đạo Bồ đề, vàng bạc, lúa gạo, quần áo v.v… tất cả các thứ cần dùng đều đầy đủ, lại nếu bị cùm trói lao ngục, chiến đấu, thân thọ các thứ khổ, nguyện cho tất cả cho đến khi được đạo Bồ đề, thường được giải thoát các khổ, diệt trừ tất cả phiền não nơi thân.
- Ta nguyện vì tất cả chúng sanh nếu không nơi nương dựa, thân bị sa vào các chỗ sư tử, hổ lang, gấu, rắn độc, hầm lửa khiến cho nguy hiểm tánh mạng, nguyện tất cả cho đến Bồ đề, hầm lửa dập tắt, các loài ác thú đều khởi lòng từ được đến chỗ an ổn.
- Ta nguyện vì tất cả chúng sanh nếu có kiện cáo đấu tranh làm não loạn sợ sệt, nguyện cho tất cả đến khi cứu cánh Bồ đề, kiện cáo đấu tranh đều tiêu diệt lại khởi lòng thương xót lẫn nhau.
- Ta nguyện vì tất cả chúng sanh nếu đi thuyền bè vào trong sông lửa gặp các hiểm nghèo, muốn đoạt mạng sống bị các thứ khổ, nguyện cho tất cả đến cứu cánh Bồ đề ở nơi sông biển an nhiên vào ra không có sợ sệt. Nguyện con khi hết thân này được sanh nơi cõi Phật Thiện Danh Xưng Kiết Tường Vương Như Lai Ứng Cúng Chánh Đẳng Giác, nơi tòa Liên Hoa Sư tử đầy đủ các Pháp Tổng trì thiền định …v…v… tất cả công đức. Hiện tiền được Vô thượng Đạo sư Thiện Danh Xưng Kiết Tường Vương và mười phương Chư Phật xoa đầu thọ ký, tâm sanh vui vẻ, trong khoảng chốc lát dạo chơi các cõi Phật vô ngại tự tại.
Từ xưa tối thắng Phật Như Lai
Đã phát rộng sâu tám đại nguyện
Y Phật từ bi nhiếp thọ cho
Tất cả chúng sanh đều thành tựu
Xin nguyện Phật Pháp thường còn mãi
Khiến cho hữu tình được an vui
Tối tăm phiền não đều tiêu trừ
Mau được vô thượng Bồ đề đạo.
Thứ hai niệm danh hiệu và phát nguyện dâng cúng Như Lai Oai Âm Vương.
- Đảnh lễ cúng dường quy y Thế Tôn Ứng Cúng Chánh Đẳng Chánh Giác Như Lai Bảo Nguyệt Liên Hoa Trí Nghiêm Oai Âm Vương (7 lần).
Các Phật tử nay tại đạo tràng này trước Đức Như Lai Bảo Nguyệt Trí Nghiêm Oai Âm Vương nghe danh và nhớ niệm 7 lần, xưng tán cúng dường các căn lành. Đức Như Lai Bảo Nguyệt Trí Nghiêm Oai Âm Vương khi xưa đã có phát nguyện :
- Ta vì tất cả chúng sanh nếu có người kinh doanh buôn bán làm các nghề nghiệp, tâm bị các lo rầu bỏ quên các Pháp lành và tâm Bồ đề, ham ưa nơi luân hồi thọ các thứ khổ não, sanh lão bệnh tử, thương yêu ghét muốn, các khổ không được an lạc, vô lượng vô biên các lo buồn, nguyện cho tất cả thảy đều tiêu trừ cho đến Chánh Đẳng Bồ đề Ứng Chánh Đẳng Giác, đồ ăn thức uống y phục các thứ cần dùng đều đầy đủ, tiền tài lúa gạo vàng bạc giàu có, lại khiến các Pháp lành tăng trưởng, không xa lìa tâm Bồ đề, các loài ác đạo, địa ngục, các luân hồi khổ nạn đều được giải thoát.
- Ta vì tất cả chúng sanh nếu có nóng lạnh đói khát làm cho thân bị các khổ não đáng thương xót. Nguyện cho tất cả túc nghiệp chướng đều được tiêu trừ cho đến nơi thân này và thân cuối cùng và cho đến Vô thượng Bồ đề, tất cả các khổ đều được giải thoát, thọ các điều vui sướng nơi cõi trời.
- Lại nữa nếu có người nữ bị các thứ bệnh tật bức bách muốn bỏ thân nữ hoặc bị các khổ sanh đẻ. Nguyện cho tất cả hết thảy các khổ não đều đoạn trừ sạch, từ thân này cho đến thân cuối và cho đến Vô thượng Bồ đề thường làm thân nam. Ta nguyện vì tất cả chúng sanh bị các nạn sáu đời chết chóc, vào các chỗ hiểm nạn bị giặc cướp và cha mẹ, anh em, chị em, bà con quyến thuộc thọ các khổ não bức bách nơi thân, nguyện cho tất cả đều được giải thoát cho đến cứu cánh Bồ đề, tử ách oán nạn, các chỗ thọ khổ thảy đều tiêu trừ mau được xa lìa.
- Ta nguyện vì tất cả chúng sanh nếu trong ban đêm đi vào các chỗ tối tăm hoặc vì các nhân duyên sự nghiệp bị các ác quỷ thần làm cho sợ sệt não loạn, lớn tiếng la hét kêu gào. Nguyện cho tất cả thảy đều tiêu trừ cho đến cứu cánh Bồ đề, không còn các chỗ tối tăm, ác quỷ thần thảy đều giải thoát, đều cúng dường thừa sự làm các việc lành tốt.
- Ta nguyện vì tất cả chúng sanh ngu si đần độn không có trí huệ đối với các Pháp lành, Bồ đề giác chi Thiền định các môn Tổng trì và Phật Pháp Tăng hay quên mất. Nguyện cho tất cả đều được giác ngộ cho đến cứu cánh Bồ đề, Thiền định, chánh niệm, các môn Tổng trì, Bồ đề giác chi hiện tiền thành tựu, được trí huệ lớn, việc làm không có ngăn ngại.
- Ta nguyện vì tất cả chúng sanh vì nghĩ tưởng hạ liệt, muốn cầu Thanh Văn và Độc Giác thừa tu hành theo đó, không ham ưa Vô thượng thắng diệu Bồ đề. Nguyện cho tất cả thảy đều tiêu trừ cho đến cứu cánh Bồ đề nơi Vô thượng Chánh Đẳng Chánh Giác không có thối chuyển, các quả vị Độc Giác, Thanh Văn đều vượt khỏi, làm đạo Bồ đề không lìa bỏ.
- Ta nguyện vì tất cả chúng sanh hoặc gặp lúc đại kiếp tận, lửa lớn nổi dậy thiêu đốt tất cả khiến bị lo rầu do bị ác nghiệp đời trước, nay chịu báo khổ không có chỗ dựa nương. Nguyện cho tất cả các khổ não lo rầu đều được xa lìa, được mát mẻ. Nguyện thân này lúc lâm chung được sanh về cõi của Đức Ứng Cúng Chánh Đẳng Chánh Giác Như Lai Bảo Nguyệt Liên Hoa Trí Nghiêm Oai Âm Vương, liên hoa hóa sanh nơi tòa Sư tử, lại được các môn Tổng trì thiền định công đức hiện tiền, Vô thượng Đạo sư Như Lai Bảo Nguyệt Liên Hoa Trí Nghiêm Oai Âm Vương và mười phương Chư Phật thảy đều thọ ký, tâm sanh vui vẻ, trong khoảng chốc lát đi đến các cõi Phật tự tại vô ngại.
Thế Tôn oai đức Diệu Âm Vương
Đã từng phát tám lời thệ nguyện
Y theo Phật từ bi nhiếp thọ
Tất cả chúng sanh đều thành tựu
Duy nguyện Phát Pháp luôn hưng thạnh
Khiến cho hữu tình được an lạc
Vô minh phiền não đều tiêu trừ
Mau được Vô thượng Bồ đề đạo
* Như Lai Kim Sắc Vô Cấu :
- Đảnh lễ cúng dường quy y Thế Tôn Ứng Cúng Chánh Đẳng Chánh Giác Như Lai Kim Sắc Vô Cấu Bảo Quang Diệu Hạnh Thành Tựu (7 lần)
Các Phật tử nay tại đạo tràng này trước Đức Như Lai Kim Sắc Vô Cấu Bảo Quang Diệu Hạnh Thành Tựu được nghe và niệm danh hiệu Ngài 7 lần, xưng tán cúng dường đảnh lễ các căn lành, Như Lai Kim Sắc Vô Cấu Bảo Quang Diệu Hạnh Thành Tựu đã từng phát nguyện :
- Ta nguyện vì tất cả chúng sanh nếu tạo các việc sát hại không lành, đoạn mạng các loài chúng sanh, do các nghiệp ác này bị đoản mạng, nhiều bệnh tật, nước lửa, đao, độc, các bệnh làm cho phải chết. Nguyện cho tất cả các ác nghiệp chướng ràng buộc thảy đều tiêu diệt, sống lâu không bệnh, bất cứ ở đâu, lúc nào cũng không bị phi thời mà chết.
- Nguyện vì tất cả chúng sanh làm tất cả các nghiệp tội ác, trộm tiền của người nên bị bần cùng hạ tiện, thiếu quần, thiếu áo bị đói khát, thân bị các khổ. Nguyện cho tất cả các tội tiêu trừ cho đến cứu cánh Bồ đề, giàu có tự tại không có thiếu thốn.
- Nguyện vì tất cả chúng sanh nếu có tâm độc hại làm các việc đấu tranh, giết hại lẫn nhau. Nguyện cho tất cả đều được tiêu sạch cho đến Vô thượng Chánh Đẳng Bồ đề, thương yêu lẫn nhau xem như cha mẹ.
- Nguyện vì tất cả chúng sanh nếu bị tham sân si phạm các giới cấm, làm các tội lỗi nơi các học xứ, thọ lãnh của tín thí đọa vào tam đồ Địa ngục. Nguyện cho tất cả nghiệp chướng đều tiêu trừ, xa lìa tất cả phiền não cho đến khi ngồi nơi Bồ đề đạo tràng giữ gìn Giới luật, hay phòng hộ ba nghiệp thân, khẩu, yÙ không xa lìa tâm Bồ đề.
- Đáp đạt nha tháp a, tây đạt đắc tây đạt đắc ma tạp ni ma ưu sát nisam ưu đắc tất sam ưu đắc a ma lặc, tất ma lặc ma ma hắc lạp diệp, hy lặc ra nha yết lặc bạch, lặt đáp nạp hắc lặc bạch tát lợi oát a lặc tháp tát ha đạt cáp ni ma nạp tắc, ma cáp a ma nạp tắc, a đạt bất đắc a đáp nha đạt bất đắc, tất y đáp bạt cáp nha tô bạt lạt nạp ba lạt cát ma quách khái ba lặc cáp ma a đạt cáp khê đắc, tát lạp oát a lặc trì quật, a ba lặt a tư đắc tạp da tư tạp tạp si phố đạt đạt cáp oa chi bạt cáp a khê đắc nạp ma ma tát lặc oát đát tháp a hắc đáp a nan a bà a cáp a.
Đức Thế Tôn Vô Cấu Bảo Quang Diệu Hạnh Thành Tựu Như Lai khi xưa nơi tòa Bồ đề quán xét các hữu tình bị tham, sân, si làm chướng ngại, các ác tật bệnh làm cho khổ não, oan gia các nạn làm chết chóc, bị nạn nơi các chỗ nguy hiểm, vào Địa ngục cả kiếp thọ các thứ khổ, vì muốn lợi ích các hữu tình khiến họ vào đạo Bồ đề Ứng chánh Tri giác, tiêu trừ tất cả nghiệp chướng nên nói ra căn bản Tổng trì, tụng chân ngôn này nhiếp thọ chúng con và tất cả chúng sanh các tội Vô Gián thảy đều tiêu trừ, tất cả các nguyện vọng đều đầy đủ, khi mạng chung lại được Như Lai Kim Sắc Bảo Quang Diệu Hạnh Thành Tựu hộ niệm. Nguyện cho thân này khi xả bỏ được vãng sanh cõi Phật Kim Sắc Bảo Quang Diệu Hạnh Thành Tựu, hoa sen hóa sanh nơi tòa Liên hoa Sư tử, lại được các môn Tổng trì thiền định, các công đức đầy đủ, hiện tiền Vô Thượng Đạo Sư Như Lai Kim Sắc Bảo Quang Diệu Hạnh Thành Tựu cùng mười phương Chư Phật thọ ký cho, tâm sanh hoan hy,û trong khoảng chốc lát dạo chơi các cõi Phật được tự tại vô ngại.
Thế Tôn Kim Sắc Vô Cấu Quang
Đã từng phát ra bốn nguyện lớn
Y Phật từ bi sức nhiếp thọ
Tất cả chúng sanh đều thành tựu
Duy nguyện Phật Pháp thường hưng thạnh
Khiến khắp hữu tình đều an lạc
Vô minh phiền não thảy tiêu trừ
Mau đắc Vô thượng Bồ đề đạo
* Như Lai Vô Ưu Tối Thắng :
- Đảnh lễ cúng dường quy y Thế Tôn Ứng Cúng Chánh Đẳng Chánh Giác Như Lai Vô Ưu Tối Thắng Kiết Tường (7 lần).
Các Phật tử nay tại nơi đạo tràng được nghe và nhớ niệm danh hiệu Như Lai Vô Ưu Tối Thắng Kiết Tường, cung kính ngợi khen niệm tụng 7 lần, Đức Phật kia đã từng phát nguyện :
- Nguyện vì tất cả chúng sanh bị thọ các khổ não, tâm ý không vui sướng, nhiều thứ buồn khổ. Nguyện cho tất cả các thứ buồn rầu, tâm ý không ưa các buồn khổ đều được tiêu trừ, vĩnh viễn xa lìa không còn bị nữa, thường được an vui, vừa ý sống lâu.
- Nguyện vì tất cả chúng sanh, nếu tạo các nghiệp ác bị đọa vào Địa ngục Vô Gián, các chỗ tối tăm. Nguyện khi bị sanh vào các chốn đó gặp được ánh quang nơi thân của Như Lai Vô Ưu Tối Thắng Kiết Tường Vương chiếu đến thân, tất cả các tội chướng đều được tiêu diệt, giải thoát các khổ nơi Địa ngục cho đến Bồ đề, thường hưởng các điều vui sướng nơi cõi trời người.
- Nguyện vì tất cả chúng sanh khi xưa đã từng làm các nghiệp ác, đoạt tiền của kẻ khác nên sanh vào nhà nghèo cùng áo quần, đồ ăn, thức uống, các tư cụ đều bị thiếu thốn, thường bị khổ vì nóng lạnh, đói khát bức bách, thân hình tiều tụy. Nguyện cho tất cả đến cứu cánh Bồ đề, y phục, ẩm thực, ngọa cụ thọ dụng đều được đầy đủ như các chư Thiên, thân có ánh sáng đẹp đẽ đáng ưa, đầy đủ các thứ nghiêm sức.
- Nguyện vì tất cả chúng sanh bị các ác quỷ thần đoạt lấy tinh khí, khiến bị các thứ bệnh khổ. Nguyện cho tất cả cho đến Bồ đề, các loại ác quỷ thần đoạt lấy tinh khí thảy đều bỏ chạy, lại khởi lòng từ giải thoát tất cả bệnh tật khổ não. Nguyện thân này khi lâm chung được sanh về cõi Phật Vô Ưu Tối Thắng Kiết Tường Như Lai Ứng Cúng Chánh Chánh Giác, hoa sen hóa sanh nơi tòa Liên hoa Sư tử, sau đó lại được các môn Tổng trì, thiền định, các thứ công đức, được Vô Thượng Đạo sư Như Lai Vô Ưu Tối Thắng Kiết
Tường và mười phương Chư Phật thọ ký cho, tâm sanh hoan hỷ, trong khoảng giây lát, dạo đi các nước Phật tự tại vô ngại.
Thế Tôn Vô Ưu Tối Thắng Vương
Từ xưa đã phát bốn nguyện lớn
Y Phật từ bi sức nhiếp thọ
Tất cả chúng sanh đều thành tựu
Quy nguyện Phật Pháp thường hưng thạnh
Khiến khắp hữu tình được an lạc
Vô minh phiền não thảy tiêu trừ
Mau thành Vô thượng bồ đề đạo
* Như Lai Pháp Hải Lôi Âm :
- Đảnh lễ cúng dường quy y Thế Tôn Ứng Cúng Chánh Đẳng Chánh Giác Như Lai Pháp Hải Lôi Âm (7 lần)
Các Phật tử nay tại đạo tràng này được nghe và xưng niệm nhớ nghĩ danh hiệu của Như Lai Pháp Hải Lôi Âm 7 lần, cung kính xưng tán cúng dường Đức Phật kia đã từng phát nguyện :
- Nguyện vì tất cả chúng sanh nếu sanh vào các nhà tà kiến, không tin Phật, Pháp, Tăng, xa lìa tâm Bồ đề. Nguyện cho tất cả nghiệp chướng thảy đều tiêu trư,ø cho đến cứu cánh Bồ đề thành tựu chánh kiến nơi Phật, Pháp, Tăng, kính tín đầy đủ tâm Bồ đề không thối chuyển.
- Nguyện vì tất cả chúng sanh, nếu không nghe Phật, nghe Pháp, nghe Tăng, sanh vào các chỗ biên địa, gần gũi các ác tri thức làm các tội, sau khi mạng chung đọa vào ba nẻo ác, không tu các các việc lành. Nguyện khi danh hiệu của Đức Như Lai Pháp Hải Lôi Âm lọt được nơi tai, tự nhiên phát sanh như tiếng Pháp, tất cả các nghiệp chướng đều được tiêu trừ cho đến cứu cánh Bồ đề, không bỏ tâm Bồ đề.
- Nguyện vì tất cả chúng sanh bị các khổ não vì thiếu thốn y phục, các thứ trang nghiêm nơi thân, hương xoa, hương đốt, đồ nằm, thuốc thang, làm các việc ác. Nguyện cho tất cả y phục trang nghiêm, hương xoa, hương đốt, đồ nằm, thuốc thang, các vật cần dùng tùy ý mong cầu đều được, cho đến cứu cánh Bồ đề bất cứ món gì thảy đều đầy đủ.
- Nguyện vì tất cả chúng sanh vì các nghiệp quá khứ đã chín muồi, tranh đấu sát hại lẫn nhau khiến phải chết chóc, cung, tên, đao, gậy làm cho thương hại, bị các đại nạn khổ
não. Nguyện cho tất cả cung, tên, đao, gậy đều quay ngược lại, tất cả oan gia đều khởi lòng từ, tôn trọng mạng sống không còn sát hại cho đến cứu cánh Bồ đề, các thứ cần dùng tự tại đầy đủ.
- Nguyện thân này khi mạng chung được vãng sanh nơi cõi Phật Pháp hải Lôi Âm Như Lai, hoa sen hóa sanh nơi tòa Liên hoa Sư tử, lại được các Pháp môn Tổng trì, Thiền định, các công đức. Hiện tiền Như Lai Pháp Hải Lôi Âm và mười phương Chư Phật thọ ký, tâm sanh hoan hỷ, trong khoảng chốc lát dạo chơi các cõi Phật được tự tại vô ngại.
Thế Tôn Pháp Hải Lôi Âm Thắng
Từ xưa đã phát bốn nguyện lớn
Y Phật từ bi sức nhiếp thọ
Tất cả chúng sanh đều thành tựu
Duy nguyện Phật Pháp thường hưng thạnh
Khiến khắp hữu tình được an lạc
Vô minh phiền não thảy tiêu trừ
Mau chứng Vô thượng Bồ đề đạo
* Như Lai Thần Thông Vương :
- Đảnh lễ cúng dường quy y Thế Tôn Ứng Cúng Chánh Đẳng Chánh Giác Như Lai
Pháp Hải Thắng Huệ Du Hý Thần Thông (7 lần).
Các Phật tử nay ở tại nơi đạo tràng này được nghe và nhớ niệm danh hiệu Như Lai Pháp Hải Thắng Huệ Du Hý Thần Thông 7 lần, xưng tán cúng dường v.v… Đức Phật Pháp Hải Thắng Huệ Du Hý Thần Thông Như Lai đã từng phát nguyện :
- Nguyện vì tất cả chúng sanh vì cày cấy canh tác, buôn bán giao dịch mà tranh chấp lẫn nhau tạo ra các nghiệp ác. Ta nguyện cho tất cả món cần dùng cho dời sống đều tùy tâm mong muốn đầy đủ, tiêu trừ các việc ác, thường làm các việc lành.
- Nguyện vì tất cả chúng sanh do tạo mười nghiệp bất thiện nên bị đọa vào Địa ngục. Nguyện cho tất cả ở nơi mười nghiệp lành đều tu hành đầy đủ, vô lượng chúng sanh đều không bị đọa vào các nẻo ác.
- Nguyện vì tất cả chúng sanh vì đi đến chỗ công, thân bị đánh đập cột trói, giam giữ lao tù cho đến bị chết. Nguyện cho tất cả thảy đều tiêu trừ cho đến cứu cánh Bồ đề, tất cả trói buộc lao ngục thảy đều giải thoát, được tự tại giàu có đầy đủ.
- Nguyện vì tất cả chúng sanh hoặc tạo các nghiệp ác khiến cho phải bị chết non, chết yểu. Nguyện cho tất cả tội nghiệp thảy được tiêu trừ, không bị vĩnh viễn các nạn tử vong, thường được sống lâu, khi chết được nghe danh hiệu của Đức Phật Pháp hải Thắng Huệ Du Hý Thần Thông lọt vào tai, tùy theo ý niệm tức được sanh về các cõi lành, được địa vị cao quý, cho đến cứu cánh Bồ đề, thường hưởng các điều vui sướng cõi Trời người.
- Nguyện khi hết thân này được sanh về cõi Phật Pháp Hải Thắng Huệ Du Hý Thần Thông, hoa sen hóa sanh nơi tòa Liên hoa Sư tư,û sau đó các môn Tổng trì, Thiền định công đức thảy đều hiện tiền, Như Lai Vô thượng Đạo sư Pháp Hải Thắng Huệ Du Hý Thần Thông và mười phương Chư Phật thảy đều thọ ký, tâm sanh vui vẻ, trong khoảng chốc lát dạo đi đến các cõi Phật, được tự tại vô ngại.
Thế Tôn Pháp Hải Thần Thông Phật
Từ xưa đã phát bốn nguyện lớn
Y Phật từ bi sức nhiếp thọ
Tất cả chúng sanh đều thành tựu
Duy nguyện Phật Pháp thường hưng thạnh
Khiến khắp hữu tình được an lạc
Vô minh phiền não thảy tiêu trừ
Mau được Vô thượng Bồ đề đạo
* Như Lai Dược Sư :
- Đảnh lễ cúng dường quy y Thế Tôn Ứng Cúng Chánh Đẳng Chánh Giác Như Lai Dược Sư Lưu Ly Quang Vương (7 lần).
Chư Phật tử nay tại đạo tràng này, được nghe và xưng niệm danh hiệu Như Lai Dược Sư Lưu Ly Quang Vương 7 lần, cúng dường xưng tán, Đức Phật kia khi xưa đã từng phát nguyện.
- Nguyện vì tất cả chúng sanh 32 tướng Đại Trượng phu, 80 tướng tốt, thân tướng trang nghiêm của Ta thế nào, tất cả chúng sanh cũng đều được như vậy. Hào quang nơi thân của Đức Như Lai Dược Sư Lưu Ly Quang chiếu khắp vô lượng vô biên thế giới, oai đức rực rỡ, thân như ngọc lưu ly báu, tướng Ngài thế nào thì chúng sanh cũng được như vậy. Trong ngoài sáng suốt, quang minh chói lọi rộng lớn, oai đức kiết tường, an trụ nơi lưới diệm võng trang nghiêm sáng hơn nhật nguyệt. Ngài như thế nào, tất cả chúng sanh đều y như vậy, phàm các hữu tình sanh ở khoảng giữa hai thế giới nơi chốn tối tăm, ở nơi thế giới kia ban đêm khi đi đứng, nguyện cho tất cả thấy được oai quang an lành, sung
sướng, tùy ý làm các sự việc. Như Lai Dược Sư Lưu Ly Quang dùng vô lượng trí huệ phương tiện lợi ích, nguyện vì tất cả chúng sanh chỗ cần các vật thọ dùng, đều không thiếu thốn, bất cứ lúc nào cũng được đầy đủ.
- Nguyện vì tất cả chúng sanh hoặc hành tà đạo, hoặc hành Thanh Văn, Độc Giác đạo, nguyện cho tất cả đều được an trụ nơi đạo Bồ đề, trong Pháp Đại thừa.
- Nguyện vì tất cả chúng sanh cho đến cứu cánh Bồ đề, gìn giữ ba nghiệp, tất cả học xứ không có sai phạm, nếu có hủy phạm giới luật cũng không bị đọa ác thú.
- Nguyện vì tất cả chúng sanh thân thể xấu ác, các căn không đủ, xú lậu ngoan ngu, thân hình cong quẹo, bối lũ bạch lại, loan tích điên cuồng, tất cả các bệnh khổ bức bách. Nguyện cho tất cả các nghiệp chướng đời trước đều được tiêu trừ, thân thể các căn đều đoan chánh trang nghiêm.
- Nguyện vì tất cả chúng sanh bị các chứng bệnh bức bách, không nơi dựa nương, không ai nuôi dưỡng, không thuốc thang, không bà con thân thích nghèo cùng khốn khổ. Nguyện cho tất cả các bệnh đều trừ, thảy đều tiêu tán cho đến cứu cánh Bồ đề không còn bị bệnh tật não hại, các thứ cần dùng đầy đủ, giàu có.
Nếu có người nữ vì thân nữ có các điều ác làm cho phiền não, không ham thân nữ muốn thành thân nam. Nguyện cho tất cả chuyển nữ thành nam cho đến Bồ đề, thuờng làm thân nam. Nguyện vì tất cả chúng sanh bị lọt lưới ma cột trói đều được giải thoát, tất cả các dị kiến, các lý bất đồng thảy đề đoạn dứt, lại được chánh kiến, các hạnh Bồ đề rộng lớn thảy đều thành tựu.
Nguyện vì tất cả chúng sanh hoặc phạm pháp vua nhốt vào tù ngục, xiềng xích đánh đập, lại có chúng sanh bị khổ vì bức thiết thân, khẩu, ý, ưu phiền tán loại. Nguyện cho tất cả do phước lực của Ta tất cả tai hại đều được giải thoát.
- Nguyện vì tất cả chúng sanh vì bị đói khát tìm cầu miếng ăn, tạo các nghiệp ác. Nguyện cho tất cả đều được đầy đủ các món ăn ngon, sau đó lại dùng Pháp vị khiến được an vui sung sướng.
- Nguyện vì tất cả chúng sanh, thân thể không y phục, nghèo cùng khổ não, nóng lạnh, ruồi muỗi ngày đêm bức bách. Nguyện cho tất cả thảy đều được như ý mong cầu, tức được quần áo tốt đẹp, các đồ trang sức quý báu hương xoa, tràng hoa, các thức kỹ nhạc, các thứ chúng sanh mong muốn thảy đều đầy đủ, vui vẻ giữ gìn Thánh giới, các khổ não đều được giải thoát thường được an lạc.
- Nguyện hết thân này tức được vãng sanh về cõi Phật Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai, hoa sen hóa sanh nơi tòa Liên hoa Sư tử, sau đó các môn Tổng trì, Thiền định, công đức thảy đều hiện tiền. Vô thượng Đạo sư Như Lai Dược Sư Lưu Ly Quang Vương và mười phương Chư Phật thảy đều thọ ký, tâm sanh vui vẻ, trong khoảng giây lát, dạo đi các cõi Phật được tự tại vô ngại.
Thế Tôn Dược Sư Lưu Ly Quang
Từ xưa đã phát mười hai nguyện
Y Phật từ bi sức nhiếp thọ
Tất cả chúng sanh đều thành tựu
Duy nguyện Phật Pháp thường hưng thạnh
Khắp vì lợi ích các hữu tình
Vô minh phiền não tận tiêu trừ
Mau được Vô thượng Bồ đề đạo
* Như Lai Thích Ca :
- Đảnh lễ cung kính quy y Thế Tôn Ứng Cúng Chánh Đẳng Chánh Giác Oai Thắng Như Lai Thích Ca Mâu Ni ( 7 lần ).
Các Phật tử nay tại đạo tràng này, được nghe và nhớ niệm danh hiệu Như Lai Thích Ca Mâu Ni 7 lần, cung kính cúng dường ngợi khen. Đạo sư Như Lai Thích Ca Mâu Ni Phật vì chúng ta và tất cả chúng sanh bị các nghiệp ác ràng buộc, các thứ tật bệnh, buồn khổ bức bách, nghèo cùng thiếu thốn, rất đáng thương xót vì các hữu tình, lợi ích trời người kiến được an lạc mới nói phương tiện thiện xảo cùng các bổn nguyện nhiếp thọ của bảy Đức Phật, mà bảo Mạn Thù Thất Lợi rằng : “Nếu có người muốn cầu các công đức được thành tựu, phải xa lìa phiền não, niệm danh hiệu của 7 Đức Như Lai ngày 3 thời, đêm 3 thời, ý niệm bền chắc, cung kính tin trọng, hết lòng tạo hình tượng Phật, hương hoa đèn nến, các món ăn uống kỹ nhạc, các thứ phẩm vật dâng cúng, thọ tám phần trai giới, trong 7 ngày ở nơi thanh tịnh, phát nguyện cầu sanh nơi cõi Phật kia, khởi lòng từ bi xem khắp chúng sanh, lại tụng chú này:
- Đát đạt nha tháp a Đề tắc đề tắc y mặc ni mật kì ma cô ma cô tát ba đáp đáp tháp a hắc đáp tát ma a đạt cáp nha, đề từ si đắc, a đắc ma đắc ba a lặc ba a lặc thạc đạt cáp ni tát lặc oát ba a ba ma nạp ha sa nha, ma ma bố đạt đắc phố đạt đá đáp đát mặc ô mặc cô mặc phố đạt đạt cáp kiết vi đát lặc ba lịt hạc đạt cáp ni, đạt cáp mặc ni đạt cáp mặc, mặc rô mặc rô mặc rô bái dung hồ tát lặc át a kiết a lạp mật lạt đáp ứ ni bạt a lặc ni phố đạt đác tô phố đạt đắc phố đạt đạt cáp a đề tư xoa a nạp lặc kiết ky bộ mặc tát lặc oát đức oát tát mặc a tát mặc tát a mặc oát a cáp lam bộ tát lặc oát phố đạt đạt cáp pha đề tát cưu sa mặc sa mặc ba đế sa mạn đô mặc, tát lặc oát y đáp ứ ba đạt lặc oát bạt nha a đáp nha tư phổ ô lặc nạp phổ ô lặc ni phổ ô lặc nha mặc tát lặc oát a a sa a nha tự ách châu nha ba lặc đề bạt cáp a mặc tát lặc oát ba a bạt ma kiết sát ương kiết lị sa a cáp kha.
Đây gọi là Bệ Lưu Ly Tổng Trì. Nếu có Thiện nam tử Thiện nữ nhân cúng dường thọ trì, đọc tụng mãn 1080 lần, tất cả Như Lai đều hộ niệm, các Bồ Tát nhớ nghĩ, Bồ Tát Chấp Kim Cang lân mẫn, Đế Thích, Phạm Thiên, Tứ Đại Thiên Vương thảy đều ủng hộ, các tội nặng Vô Gián, tất cả nghiệp chướng đều tiêu diệt, không có tật bệnh, sống lâu, không bị chết uổng, tất cả các nạn oan gia, ma quỷ khoáng dã, giặc giã đấu tranh, kiện cáo thảy đều tiêu trừ, xa lìa các oán hại, có chỗ mong cầu đều được toại ý. Như vậy, tất cả đều vì chúng con như trong Nghi Quỹ Bảy vị Phật, Đức Như Lai Thích Ca đã nói trước chúng hội, cúng dường, cầu nguyện, niệm tụng thần chú, nhiếp thọ lợi ích chúng con và tất cả chúng sanh mau được hộ trì.
Thế Tôn, Chánh Đẳng Thích Ca Phật
Nói chú Dược Sư được lợi quả
Y phật từ bi sức nhiếp thọ
Tất cả chúng sanh đều thành tựu
Duy nguyện Phật Pháp thường hưng thạnh
Khắp cả hữu tình được an lạc
Vô minh phiền não đều tiêu trừ
Mau chứng Vô thượng Bồ đề đạo
* Pháp Bảo :
Phá dẹp tối tăm duốc tối thắng
Trừ các bệnh khổ thuốc thang hay
Tất cả ly dục các Pháp Bảo
Đảnh lễ quy mạng và cúng dường ( 7 lần )
Diệu chỉ của Phật là chân thật không thay đổi, xin cho chúng con hiện tiền được như bổn nguyện đúng nghĩa chân thật.
Nghe danh tiêu tội, sanh công đức
Như Lai đã nói, không sai khác
Y Phật từ bi sức nhiếp thọ
Tất cả chúng sanh đều thành tựu
Duy nguyện Phật Pháp thường hưng thạnh
Khiến khắp hữu tình được an lạc
Vô minh phiền não thảy tiêu trừ
Mau chứng Vô thượng Bồ đề đạo
* Tăng Bảo Bồ Tát Mạn Thù :
- Đảnh lễ cúng dường quy y Thánh giả Bồ Tát ma ha tát Văn Thù Thất LợÏi. Tâm xa lìa tất cả phiền não cấu uế tội lỗi, thân đầy đủ oai đức thanh tịnh sáng sửa, oai nghi trang nghiêm, như hoa sen sạch đẹp, Trời, người, A Tu La, Rồng, các Trì Minh Tiên vi nhiễu, đầu đội mão báu, phá 3 đường ác và các khổ chúng sanh ( 7 lần ).
Bạch Thế Tôn! Ngài Mạn Thù Thất Lợi thương xót chúng sanh nơi đời bị các nghiệp chướng ngăn che, các bệnh tật ràng buộc, buồn rầu, khổ não bức bách, các tà kiến làm mê hoặc khiến bị đọa lạc vào các chốn ác. Vì thương xót các hữu tình hoặc nếu người nghe được kinh này, ở nơi Vô thượng Bồ đề không bị thối chuyển, tiêu trừ tội chướng, ma quỷ không não, tai hoạ, các việc không vừa ý thảy đều tiêu tan, các việc mong cầu đều được thuận duyên, tùy ý thành tựu Bảy danh hiệu của Phật Dược Sư và Bổn Nguyện Công Đức Kinh, ở nơi Pháp hội mà thưa cùng Đức Như Lai Thích Ca rằng: “Bạch Thế Tôn! Sau khi Tượng Pháp chuyển, nếu có người tụng trì Kinh Bổn Nguyện Công Đức, rộng nói cho người khác hoặc tự chép, hoặc bảo người chép, tạo thành bản tiếng Phạn, kính tín tôn trọng, dùng các hoa thơm, hương bột, hương xoa, hương đốt, vòng hoa, phướng lọng cúng dường, con sẽ vì người kia xưng danh hiệu của Như Lai Dược Sư Lưu Ly Quang, cho đến trong giấc ngủ cũng nói nơi tai cho rõ biết, lại dùng lụa năm màu làm đãy đựng kinh này để nơi sạch sẽ, tức thì chỗ đó có bốn Đại Thiên Vương và các quyến thuộc và vô lượng trăm ngàn các vị Trời lại nơi đó. Người thọ trì kinh này không bị hoạnh tử, các quỷ thần không thể đoạt lấy tinh khí, giả sử có bị đoạt sẽ được hoàn lại như cũ . Tất cả lời trên đều là lời Thánh chân thật, không có nói dối. Nay tại Đàn này, dâng cúng các phẩm vật cúng dường Hải hội các Như Lai, chắc có tiền duyên tu theo nghi quỹ, việc Thánh lưu thông trong kinh đã nói, tất cả mọi việc lợi ích con và chúng sanh đều thành tựu.
Văn Thù thâm rộng Bổn nguyện Kinh
Ân cần thưa hỏi các lợi ích
Y Phật từ bi sức nhiếp thọ
Tất cả chúng sanh đều thành tựu
Duy nguyện Phật Pháp thường hưng thạnh
Khắp cả hữu tình đều an lạc
Vô minh phiền não thảy tiêu trừ
Mau chứng Vô thượng Bồ đề đạo
* Bồ Tát Cứu Thoát :
- Đảnh lễ cúng dường quy y Bồ Tát ma ha tát Cứu Thoát ( 7 lần).
Bạch Thế Tôn ! Ngài Cứu Thoát thương xót chúng sanh đời ác bị các nhân khổ, nên khởi lòng từ, nơi trước Thế Tôn trong Hải Hội chúng mà nói rằng: “ Đại Đức Thế Tôn! Nơi đời sau này khi Tượng Pháp chuyển, nếu có chúng sanh bị các bệnh khổ bức bách, thân hình gầy ốm không ăn uống được, môi cổ khô khốc tướng chết hiện ra, cha mẹ, bà con bạn bè quen biết vây quanh khóc lóc mặt nhìn không rõ, thấy Sứ giả của vua Diêm Ma Pháp Vương dẫn thần thức đi đến chỗ Vua Diêm Ma, các thần Câu Sanh ghi rõ các việc làm Thện Ác đầy đủ dâng lên vua Diêm Ma. Diêm Ma Pháp Vương y theo Pháp luật, hỏi các tội phước mà xử đoán. Nếu vì người bệnh quy y Đức Như Lai Dược Sư Lưu Ly Quang như Pháp cúng dường, thần thức người kia hoặc qua 7 ngày, hoặc 21 ngày, 35 ngày, 49 ngày như chiêm bao tỉnh dậy thấy rõ Thiện Ác đều có quả báo, do tự thấy biết, nên cho đến chết cũng không làm ác.
* Pháp tắc cúng dường : Lại bảo Đức A Nan, nếu có người muốn khỏi các bệnh nạn lớn, phải vì người bệnh kia bảy ngày đêm đọc tụng, bố thí, giữ tám trai giới, dùng các món ẩm thực và các món cần dùng tùy sức cúng dường, phụng sự các chúng Tỳ Kheo, ngày đêm sáu thời đọc tụng danh hiệu Như Lai Dược Sư Lưu Ly Quang, lại tụng ngày 49 lần, thắp đèn đủ 49 ngày, tạo 7 tượng, trước mỗi tượng để 7 ngọn đèn, mỗi ngọn đèn lớn như bánh xe cho đến 49 ngày đêm thắp sáng luôn, lại làm 49 cái phướng ngũ sắc. Đại Đức A Nan! Nếu Sát Đế Lợi, Hoán Đảnh Vương v.v… có các bệnh nạn, hoặc trong nước hoặc nước ngoài xâm lăng phản nghịch, tinh tú biến quái, nhật nguyệt bạt thức, mưa gió trái mùa, quá thời không mưa, dân chúng tật bệnh, tất cả các ách không được an ổn; thời Sát Đế Lợi, Hoán Đảnh Vương kia … bấy giờ nên khởi lòng từ đối với tất cả hữu tình, mở các tù ngục, giải bớt khổ nạn, như Pháp thức trên cúng dường Phật Dược Sư Lưu Ly quang Vương. Do căn lành này và công đức bổn nguyện lực của Phật Dược Sư, khiến trong nước an ổn, mưa gió thuận thời, lúa thóc được mùa, nhân dân không bịnh, an lạc vui vẻ, tất cả bạo ác quỷ thần không nhiễu loạn, tất cả ác tướng đều tiêu diệt, Quán đảnh vua kia được sống lâu, tăng trưởng sắc lực, không bệnh, tự tại. Tất cả lời trên là lời của Thánh chắc thật không sai, nay xin dâng cúng tất cả phẩm vật nơi Đàn này lên Hải hội Như Lai, nghĩ nhớ duyên xưa có tu Nghi quỹ nên mới được nghi quỹ này, trong kinh nói đến các thứ lợi ích khiến con và tất cả chúng sanh đều được thành tựu, cúi mong nhiếp thọ.
Cứu Thoát thương xót bệnh nạn thời
Trừ diệt ban cho được an lạc
Y Phật từ bi sức nhiếp thọ
Tất cả chúng sanh đều thành tựu
Duy nguyện Phật Pháp thường hưng thạnh
Khiến khắp hữu tình được an lạc
Vô minh phiền não thảy tiêu trừ
Mau thành Vô thượng Bồ đề đạo
* Bồ Tát Kim Cang Thủ :
- Đảnh lễ cúng dường quy y oai đức Bồ Tát ma ha tát Kim Cang Thủ ( 7 lần ).
- Đảnh lễ cúng dường quy y Đại Phạm Thiên Đế Thích, Trì Quốc, Quảng Mục, Tăng Trưởng, Đa Văn bốn Đại ThiênVương, các Trời gần gũi, Hộ Pháp Thiện Thần ( 7 lần ).
Xin dâng các phẩm vật đầy đủ lên các Trời Thần trấn giữ 10 phương, Bốn Đại Thiên vương và các quyến thuộc, xin nguyện Phật Pháp được hưng thạnh, chúng sanh được an lạc, Bồ Tát ma ha tát Kim Cang Thủ cùng Đại phạm Đế Thích, Trì Quốc, Tăng Trưởng, Quảng Mục, Đa Văn, 4 Đại Thiên Vương, Hộ pháp, Thiện Thần ở nơi Hải hội trước đại chúng, đã dùng lời chân thật bạch hỏi Đức Phật. Con đã nghe Bổn Nguyện của bảy Như Lai, được thấy và gần gũi phụng sự Như Lai, ở nơi nào có niệm tụng danh hiệu của bảy Như Lai, sao chép lưu thông cúng dường, con và các bổn hộ quyến thuộc đều đến chỗ đó. Nếu có Thiện nam tử, Thiện nữ nhân, vua, quan thọ trì, chép viết Bổn Nguyện Tôn Kinh, con thừa oai thần của Phật thảy đều ủng hộ. Thành ấp tụ lạc đều được ủng hộ, nạn chết chóc, oan gia, khoáng dã các nạn, tất cả tật bệnh đều tiêu tan. Chúng con theo Phật từ bi thương xót hữu tình, khiến thảy đều thối tán, đấu tranh kiện tụng đều được tiêu trừ, có mong cầu gì đều được thành tựu, thân tâm an lạc, thọ dụng tự tại, tiền của, lúa gạo tăng trưởng, trong tất cả thời, con đều ủng hộ. Nay con ở trước Phật tự xin lập thệ : Nếu có Thiện nam, Tín nữ nhớ nghĩ chúng con nên tụng chú này:
- Đát đạp nha tháp a, a cô ma cô đáp lặc cô ma ma cô cô phù cáp hô ha ma lặc ma lặc ma lặc ma lặc đát đát phù sa ha cáp a
( TADYATHÀ : AKU MAKU TRAKU MAMAKU KURE HA HO HE MARA MARA MARA MARA PUCURE PURE_ SVÀHÀ ).
Nếu có người niệm danh hiệu bảy Như Lai và tụng Chú này hoặc chép hoặc bảo người chép, cung kính cúng dường. Các người như trên không đọa tam đồ, không thối chuyển nơi Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, nơi các cõi Phật tùy ý thọ sanh, thường được thấy Phật, được Túc mạng trí, Tổng trì, Thiền định đều đầy đủ. Các điều đó tự miệng nói ra. Lại nữa, Bồ Tát Kim Cang Thủ có bạch Phật rằng : "Nếu có người trì tụng Bổn Nguyện Tôn Kinh vì lợi các hữu tình kia, con xin nói thần chú xin Chư Phật ủng hộ cho con.
- Chí tâm đảnh lễ bảy Đức Phật Chánh Đẳng Chánh Giác.
- Chí tâm đảnh lễ tất cả các vị Chấp Kim Cang.
- Đát đạp nha tháp a ngạc ma bạt tạp phù bạt tạp phù ma cáp a bạt tạp phù bạt tạp lặc ba a thương đạt cáp ba lặc ni y tát ma tát ma tát mạn đáp a ba lặc đề cáp đáp bạt tạp phù sa ma sa ma ba lặc sa mạn đô tát lặc oát bạt nha a đạt cáp nha ma nổ tát ma lặc bạt cáp hắc oát a nạp bạt tạp ma lặc ba a ni tát lặc oát a thương mặc ba lị phổ ô lặc điệp sa ha cáp a.
Bạch Thế Tôn! Nếu có người niệm danh hiệu bảy Phật và Bổn Nguyện Kinh, trì tụng Chú này, con khiến họ thành tựu các mong cầu, tất cả Pháp lành đều được thành tựu. Nếu muốn thấy con nên chép kinh này, tạo 7 tượng Phật và tượng Chấp Kim Cang, dùng Xá Lợi Phật để nơi phụng tượng, y theo Như Lai đã nói các Pháp tắc trên, dùng các hương hoa đèn nến, anh lạc, kỹ nhạc trang nghiêm cúng dường, lại tụng chú này, vì tất cả chúng sanh làm các việc lợi ích, thọ tám phần trai giới, ba thời tắm rửa, ba thời thay áo quần, từ ngày 8 cho đến ngày 15, mỗi ngày tụng 108 lần, con ở nơi mộng tức tự hiện thân cùng nhau nói chuyện, tùy ý cầu xin, con sẽ ban cho. Các lời ở trên đều là lời Thánh không có sai khác. Nay tại Đàn này, có các món phẩm vật cúng dường dâng lên Hải hội Như Lai, chắc do nhân duyên đời trước được gặp đạo Thánh lưu thông, tu theo nghi quỹ như Bổn Kinh nói các việc lợi ích, xin cho con và tất cả chúng sanh mau được thành tựu. Cúi xin nạp thọ.
Lại nguyện Kinh Bổn Nguyện Công Đức của bảy Phật, các Pháp vi diệu thâm sâu luôn luôn hưng thạnh, tất cả ma chướng làm gián đoạn sự tu hành ở tại phương này hoặc làm hại người, súc vật, bệnh tật, gió mưa sương tuyết hại mùa màng, hoa màu, tất cả tai nạn ác tướng, các việc không tốt làm cho hữu tình lo lắng buồn rầu, tất cả tà ma, lị, mị, vọng lượng ở trong thế giới này, hoặc ở hoặc đi khắp nơi, tất cả các đẳng loại nay vì … con hoặc có oan cừu đời trước, hoặc nay kết các ác duyên hoặc do địa lý làm ngại, hoặc do ông bà để lại các tai ách họa ương. Nay vì … con và tất cả hoặc hại mạng kẻ khác, hoặc trong quốc giới quyến thuộc lấy vật của người, tất cả ma quái, ma quỷ làm các tai ương, não hại hữu tình, thảy đều dùng phương tiện khéo léo điều phục, khiến cho các tâm tổn hại kia thảy đều khởi lòng từ, xa lìa tất cả sự xấu ác, lại không tạo các điều ác nữa, được vào Thánh hội, Thánh giáo lưu thông. Cúi xin nạp thọ.
Mật Chú chư Thiên phát nguyện thề
Nói chú Pháp tu Kim Cang Thủ
Y Phật từ bi sức nhiếp thọ
Tất cả chúng sanh được thành tựu
Duy nguyện Phật Pháp thường hưng thạnh
Cầu cho tất cả các Đàn việt
Nghiệp chướng tiêu trừ nguyện đầy đủ
Tà ma tiêu tán duyên thuận lợi
* Mười hai Dạ Xoa Đại Tướng :
- Đảnh lễ cúng dường quy y Đại Tướng Cực Úy Dạ Xoa
- Đảnh lễ cúng dường quy y Đại Tướng Kim Cang Dạ Xoa
- Đảnh lễ cúng dường quy y Đại Tướng Chấp Nghiêm Dạ Xoa
- Đảnh lễ cúng dường quy y Đại Tướng Chấp Tinh Dạ Xoa
- Đảnh lễ cúng dường quy y Đại Tướng Chấp Phong Dạ Xoa
- Đảnh lễ cúng dường quy y Đại Tướng Cư Xử Dạ Xoa
- Đảnh lễ cúng dường quy y Đại Tướng Chấp Lực Dạ Xoa
- Đảnh lễ cúng dường quy y Đại Tướng Chấp Ẩm Dạ Xoa
- Đảnh lễ cúng dường quy y Đại Tướng Chấp Ngôn Dạ Xoa
- Đảnh lễ cúng dường quy y Đại Tướng Chấp Tưởng Dạ Xoa
- Đảnh lễ cúng dường quy y Đại Tướng Chấp Động Dạ Xoa
- Đảnh lễ cúng dường quy y Đại Tướng Viên Tác Ý Dạ Xoa
( 3 lần )
Các phẩm vật ngon đầy đủ xin dâng hiến lên chư Đại Tướng Dạ Xoa cùng các thị tùng, cầu xin Phật Pháp được hưng thạnh, cầu xin cho Đàn việt tất cả chướng nạn đều tiêu trừ, thành tâm khấn bái mười hai Dạ Xoa, oai đức thân cận các thần tướng cùng các quyến thuộc mỗi vị có 7 ức Dạ Xoa đồng xót thương chiếu giám, nhớ nghĩ khi trong chúng hội đã dùng lời chân thật bạch Phật rằng : "Chúng con nương theo oai lực của Phật, được nghe danh hiệu của Đức Như Lai Dược Sư Lưu Ly Quang không còn sợ sệt bởi các ác thú, tất cả chúng con đều đồng một lòng cho đến hết đời quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng, thề không bỏ một hữu tình nào, làm các việc nghĩa lợi nhiêu ích an lạc, tùy ở chỗ nào thành ấp, tụ lạc, các chỗ yên lặng vắng vẻ, nếu có kinh này lưu bố hoặc có người đọc tụng thọ trì danh hiệu của Đức Như Lai Dược Sư Lưu Ly Quang cung kính cúng dường, con và tất cả quyến thuộc sẽ ủng hộ người đó khiến thoát các nạn các chỗ nguyện cầu đều được thành tựu đầy đủ".
Bấy giờ Thế Tôn đã bảo các vị : "Các ông vì muốn báo ân đức của Như Lai Dược Sư Lưu Ly quang nên làm như vậy, lợi ích an lạc tất cả hữu tình. Lành thay! Lành thay! Tùy ý các ông". Hôm nay tại đạo tràng này dâng cúng các phẩm vật, cúi xin các vị cùng các quyến thuộc phát lòng từ bi thọ các phẩm vật. Con có duyên xưa gặp được Thánh giáo lưu thông, tu được nghi quỹ như kinh đã nói, các việc lợiích cho con và tất cả chúng sanh đều được thành tựu.
Lại nguyện công đức bổn nguyện kinh, các Pháp thậm thâm vi diệu, luôn được hưng thạnh, tất cả chướng nạn tu hành nửa chừng bỏ lỡ, tất cả ma chướng ở tại nơi đây làm người bệnh tật, hoặc mưa gió sương tuyết phá hại hoa màu, tất cả tai nạn ác tướng, các việc không lành làm cho hữu tình phải bị buồn rầu lo lắng, tất cả tà ma lị, mị, vọng lượng ở tại cõi này hoặc đi khắp chốn các đẳng loại, nay vì … chúng con hoặc do oan báo đời trước, hoặc kết ác duyên đời này hoặc do địa lý ngăn ngại, hoặc do Tổ Tông truyền lại, nên bị các tai ương họa hoạn làm não loạn, nhân vì … và chúng con hoặc hại thân mạng hoặc các quyến thuộc lấy của người, tất cả ma quỷ yêu quái làm các tai ương, thảy đều dùng phương tiện khiến cho điều phụ, bỏ các tâm tổn hại, khởi lòng từ, các thứ xấu ác, các tà hạnh đều được xa lìa, không còn tạo các ác nghiệp nữa. Nguyện cho tất cả đều vào Thánh Hội nơi tại Đạo Tràng, không quên lời thề làm cho Thánh giáo lưu thông. Cúi xin nạp thọ.
Dạ Xoa nghe thấy Bổn Nguyện Kinh
Lập thệ bảo hộ cứu quần sanh
Y Phật từ bi nhiếp thọ lực
Tất cả chúng sanh đều thành tựu
Duy nguyện Phật Pháp thường hưng thạnh
Cầu cho tất cả các Đàn việt
Chúng sanh tiêu chướng mãn nguyện cầu
Thối tán tà ma được thuận duyên
* Địa thần :
Nay đem ngũ dục, các món công đức đầy đủ thí thực rộng lớn, phụng hiến Kiên Lao Địa Thiên Thần Nữ là vị trên hết, nơi nơi chốn chốn hộ quốc an dân, tất cả thần kỳ ở tại nơi đây, các vị Trời Rồng, mười hai vị Thần đầy đủ sức lực, tất cả đại lực Phi nhân, các vị thọ hưởng thí thực, gia hộ cho … và quyến thuộc đại chúng khi tu đạo, chướng duyên tiêu trừ, tùy ý đầy đủ.
- Đát đạp nha tháp a cô mặc cô mặc y mặc ni mật hi ma đề ma đề tát ba đáp tháp hắc đáp tát ma a đạt cáp nha đề tạp si đắc a đắc ma đắc ba a lặc ba a ba thạc đạt cáp ni tát lặc oát ba a ba ma nạp a s nha ma ma phố đạt đắc phố đạt đà nạp nạp mặc, ô mặc cô mặc phố đạt đạt cáp kiết vi đạp lặc ba lị thạc đạt cáp ni, đạt cáp mặc ni đạt cáp mặc, mặc rô mặc rô mặc rô thí tạp phù tát lặc oát a kiết a lạp mật lặc đạt ứ ni bạt a lặc ni, phố đạt đắc tô phố đạt đắc phố đạt đạt cáp a đề tạc xoa a nạp lặc kiết đảm cô mặc a lặc oát đức oát tát mặc a tát mặc, tát ma nạp oát a cáp dủ bộ tát lặc oát phố đạt đạt cáp bạt đề tát anh sa mặc sa mặc ba lặc sa mạn đô mặc tát lặc oát y đáp ứ ba ma đạt lặc oát bạt nha a đáp nha tư, phổ ô lặc nạp phổ ô lặc ni, phố ô lặc nha mặc tát lặc oát a a sa a nhạ tự ách chu ô lặc nha ba lặc đề bạt cáp a mặc a lặc oát ba a bạt ma kiết sát ương kiết lỵ sa a cáp a.
Nạp ma bạt hắt oát đắc tự ách tạc tạp diệp cô rô tự ách chu ô lặc nha ba lặc bạt cáp lặc a tạp a nha đát tháp a hắt đáp nha a lặc cáp đắc tát ma nha kiết tát ma phố bạt cáp nha đát đạp nha tháp a, ngạc ma tự ách tạc tạp diệp lặc a tạp a tát sa đạt hắc đắt sa a cáp a. ( Chú đọc càng nhiều càng tốt )
Do sức chú lực, tám Như Lai và quyến thuộc từ nơi thân phóng ra vô lượng ánh sáng chiếu vào trong các bình đựng nước nhiếp thọ gia trì.
- Đảnh lễ các chư Tôn Thượng Sư của Tông phái
Tướng tốt thanh tịnh như sen báu
Tám mươi vẻ đẹp kết thành thân
Nếu được thấy nghe đều hộ niệm
Đạo Sư Thiện Danh, con kính lễ
Bảo Nguyệt Liên Hoa Thắng trang nghiêm
Trí huệ cao vời hiểu tất cả
Lời nói thâm sâu dường biển rộng
Oai Âm Vương Phật, con kính lễ
Đảm bộ hà Kim Thắng quang minh
Oai đức sáng hơn ngàn mặt Phật
Thân đẹp còn hơn công báu tốt
Kim Sắc Vô Cấu, con kính lễ
Đắc được Niết Bàn thường an lạc
Tiêu trừ khổ não của hữu tình
Ở trong sáu đường làm chúa tể
Vô Ưu Thắng Phật, con kính lễ
Pháp âm truyền khắp phá các nạn
Sâu như biển cả lời chân thật
Diệt trừ chúng sanh ba món độc
Pháp Vương Hải Âm con kínhl ễ
Pháp huệ xét thấu các lý màu
Du hý ở trong cảnh Pháp giới
Trước mặt thấy khắp tánh các loài
Thần Thông Như Lai, con kính lễ
Đại bi Thế Tôn nhiếp hết thảy
Nghe tên tức trừ các nẻo khổ
Trừ ba độc bệnh Phật Dược Sư
Lưu Ly Quang Vương, con kính lễ
Đại bi phương tiện sanh dòng Thích
Dẹp trừ tất cả các loài Ma
Thân vàng như thể núi Tu Di
Thích Ca Mâu Ni, con kính lễ
Phương Đông xa cách bốn hằng sa
Cõi Phật thanh tịnh tên Vô Thắng
Vô lượng Bồ Tát thảy đoanh vây
Thiện Danh Thắng Vương, con kính lễ
Phương Đông xa các năm hằng sa
Cõi Phật thanh tịnh hiệu Diệu Bảo
Vô lượng Bồ Tát thảy đoanh vây
Bảo Nguyệt Như Lai, con kính lễ
Phương Đông xa các sáu hằng sa
Cõi Phật thanh tịnh hiệu Hương Tích
Vô lượng Bồ Tát thảy đoanh vây
Vô Cấu Kim Sắc, con đảnh lễ
Phương Đông xa các bảy hằng sa
Cõi Phật thanh tịnh hiệu Vô Ưu
Vô lượng Bồ Tát thảy đoanh vây
Thắng Đức Vô Ưu, con kính lễ
Phương Đông xa các tám hằng sa
Cõi Phật thanh tịnh hiệu Pháp Tràng
Vô lượng Bồ Tát thảy đoanh vây
Pháp Hải Lôi Âm con kính lễ
Phương Đông xa các chín hằng sa
Cõi Phật thanh tịnh hiệu Bảo Hải
Vô lượng Bồ Tát thảy đoanh vây
Thắng Huệ Như Lai, con kính lễ
Phương Đông xa các mười hằng sa
Cõi Phật thanh tịnh hiệu Lưu Ly
Vô lượng Bồ Tát thảy đoanh vây
Dược Sư Như Lai, con kính lễ
Đại bi tinh tấn hơn các Thánh
Đời ác năm trược khó điều phục
Kham nhẫn ra đời cứu chúng sanh
Đạo Sư Thích Ca, con kính lễ
Hay trừ thế gian các tối tăm
Tiêu diệt trần lao các khổ nhân
Phật Mẫu trí huệ đến bờ Giác
Ba thừa Diệu Pháp, con kính lễ
Trí Tạng Đồng Chân con Pháp Vương
Thương con có đủ trăm bức bách
Thỉnh Phật cầu xin Pháp vi diệu
Văn Thù Bồ tát, con kính lễ
Phương tiện vì con bị trầm luân
Quốc thái dân an tăng phước thọ
Nên nói các Pháp tu cúng dường
Cứu Thoát Bồ Tát, con kính lễ
Trang nghiêm chúng hội trước Như Lai
Phát nguyện giữ gìn kinh điển Phật
Mỗi Vị thảy đều vâng lịnh Phật
Mật chư các Thánh, con kính lễ
Rộng nghe danh hiệu Phật Dược Sư
Rộng phát từ tâm hộ kinh điển
Mỗi Vị có bảy ức quyến thuộc
Mười hai Đại Tướng, con kính lễ
Lại lễ mười phương tất cả cõi
Tin sâu tất cả các công đức
Vô cùng biến hóa khắp các thân
Đảnh lễ khắp cả các cõi Phật
Ở trong thế giới có bao nhiêu
Ba đời hết thảy các Đức Phật
Con dùng thanh tịnh Thân Ngữ Ý
Đảnh lễ hết thảy không thiếu sót
Phổ Hiền hạnh nguyện sức oai thần
Hiện thân đầy khắp trước Như Lai
Một thân biến hiện hết thảy thân
Mỗi thân lễ lạy hết thảy Phật
Nơi trong tất cả các cõi Phật
Và nơi chúng hội các Bồ Tát
Vô tận Pháp giới nhiều như thế
Tin Phật sâu xa đều có đủ
Lại dùng tất cả thứ tiếng tăm
Phát ra tất cả lời cao đẹp
Tận cùng vị lai vô số kiếp
Xưng tán công đức của Chư Phật
Lại dùng tất cả các tràng hoa
Kỹ nhạc, hương xoa, cùng phướng lọng
Như vậy các thứ để trang nghiêm
Thảy đều dâng cúng lên Chư Phật
Áo quần sạch tốt hương thơm ngát
Hương bột, hương xoa, đèn đuốc sáng
Tất cả chất đầy như núi cao
Hết thảy cúng dường đến Chư Phật
Lại dùng thắng giải tâm rộng lớn
Tin sâu ba đời các Đức Phật
Đều dùng hạnh nguyện của Phổ Hiền
Rộng khắp cúng dường các Như Lai
Con xưa đã tạo các vọng nghiệp
Đều do vô thủy tham, sân, si
Từ thân, miệng, ý phát sanh ra
Hết thảy con đều xin sám hối
Mười phương hết thảy các chúng sanh
Nhị Thừa Hữu học và Vô học
Tất cả Như Lai và Bồ Tát
Chỗ có công đức đều tùy hỷ
Mười phương tất cả thế gian đăng
Đầu tiên thành tựu đạo Bồ đề
Con đều chí thành xin khuyến thỉnh
Cầu Phật chuyển Vô thượng Pháp luân
Chư Phật khi muốn nhập Niêt Bàn
Con nguyện chí thành xin khuyến thỉnh
Cầu Phật ở mãi nơi thế gian
Lợi ích tất cả loài quần sanh
Tất cả lễ tán phước cúng dường
Cầu Phật ở đời chuyển Pháp luân
Tùy hỷ sám hối các Thiện căn
Hồi hướng chúng sinh và Phật đạo.
Như thế, Bảy Phật Công Đức Bổn Nguyện Kinh đã nói. Cung kính bày biện trần thiết đạo tràng, dâng các món cúng dường, cung kính chí thành phụng thỉnh bảy Đức Như Lai Ứng Cúng Chánh Đảng Chánh Giác và Phật Thích Ca mâu Ni cùng các quyến thuộc giáng lâm đạo tràng, chứng minh nạp thọ. Nơi trước Chư Phật, con xin sám hối các tội lỗi, trước Chư Phật con xin tùy hỷ các căn lành, lại nương vào sức của các căn lành, sức nhiếp thọ oai thần của Phật, Bồ Tát, cầu xin các Đạo sư hoằng Pháp lợi sanh, các tội lỗi từ vô thủy trở lại đây thảy đều tiêu trừ, không bệnh, sống lâu, thân thường an ổn, làm các sự nghiệp thế gian xuất thế gian đều cát tường, giàu có đầy đủ, hai món tư lương cứu cánh đầy đủ, chứng được thân bền chắc, mau được vô thượng Phật đạo, tất cả tai nạn trong ngoài ở thế gian đều tiêu tan, vui sướng giàu có, mau chứng Vô thượng Bồ đề. Lại nguyện tất cả mọi nơi, người vật không tai ương bệnh tật, không có đói nghèo, tất cả ách nạn thảy đều vĩnh viễn tiêu trừ, mưa hòa gió thuận, lúa cốc được mùa, tất cả chúng sanh an cư lạc nghiệp, đời sau được vãng sanh nơi các cõi Phật, được thấy Phật, được nghe Pháp, được thọ ký, phước huệ hai món tư lương đầy đủ, chứng được quả vị Đại giác. Lại nguyện, Pháp bảo ở đời lâu dài khiến cho nhân gian đều được khai hiểu.
Xuất Hữu Hoại Như Lai Ứng Cúng Chánh Đẳng Chánh Giác bảy vị Phật và quyến thuộc cùng Đức Thích Ca Mâu Ni và quyến thuộc trong Thánh hội. Nay vì … chúng con vì lợi lạc tất cả chúng sanh, trì tụng kinh này không đúng giờ khắc, làm các ác hạnh, việc làm thiếu sót vì không hiểu biết hết được, phiền não sâu dày hoặc vật cúng ít, hoặc không sạch sẽ, hoặc làm các Pháp tắc không đầy đủ, tất cả mọi việc như trên cúi xin đại từ đại bi thương xót nạp thọ, vĩnh viễn xa lìa chướng nạn, cúi xin nạp thọ.
Không được và sai phạm Do nhân ngã ngu si
Tự làm hoặc bảo người Thảy đều xin thương xót
Các hữu tình đời ác Ít phước nhiều tối tăm
Không hiểu trọn ý Thánh Thảy đều xin thương xót
Không trí do tham lam Vật cúng không đầy đủ
Cúi xin Đấng Đại bi Thảy đều xin thương xót
Việc làm có thiếu sót Không y như nghi quỹ
Không vừa ý Như Lai Thảy đều xin thương xót
Tất cả mọi lỗi lầm Không y nơi nghi quỹ
Có các điều sai lầm Thảy đều xin thương xót
Phụng tống (tiễn đưa) Thế Tôn lợi ích các hữu tình
Hạnh nguyện công đức đều thành tựu
Xin Phật trở về nơi bổn độ
Lại thỉnh xin Ngài lại giáng lâm
Đại từ Đại bi Chư Phật Thế Tôn, đã làm các việc lợi ích xong, cúi xin Ngài dùng sức thần thông cùng các quyến thuộâc trở về bổn độ.
* Hồi Hướng :
Văn Thù Sư Lợi trí mạnh mẽ
Phổ Nguyện hạnh nguyện cũng như nhau
Con xin hồi hướng các Thiện căn
Cầu cho tất cả đều tu học
Ba đời Chư Phật xin khen ngợi
Hết thảy nguyện lớn của các Ngài
Con xin hồi hướng các Thiện căn
Nguyện làm Phổ Hiền, Văn Thù hạnh
Đem các công đức thí chúng sanh
Phước đức trí huệ đã tu tập
Phát sanh các món trí phước đức
Nguyện được tối thắng hai thứ tâm
Thuốc thang hay trừ các bệnh nạn
Tất cả an lạc được phát sanh
Nguyện được cúng dường và cung kính
Thánh giáo, luôn luôn mãi trường tồn
Chư Phật Bồ Tát sức nhiếp thọ
Bốn duyên đầy đủ lực chân thật
Dùng sức thanh tịnh, sức tin sâu
Tất cả mong cầu đều đầy đủ
* Kiết Tường kệ :
Từ quang chiếu rọi hết tối tăm
Oai đức lẫy lừng bảy Như Lai
Bổn nguyện tôn kinh đầy đủ cả
Chư Phật an lành xin tập hội
Kinh lọt vào tai, trừ các khổ
Thậm thâm diệu pháp cứu chúng sanh
Bổn nguyện gồm thâu tám trăm Tạng
Các Pháp an lành xin tập hội
Kinh đây ban cho đầy đủ cả
Hộ trì khiến được thảy lưu thông
Bồ Tát, Thanh Văn, các Thần Tướng
Đại chúng an lành xin tập hội.
Kinh Dược Sư Thất Phật Cúng Dường Nghi Quỹ Như Ý Vương
25/ 06/ 1996
DƯỢC SƯ THẤT PHẬT CÚNG DƯỜNG NGHI QUỸ
KINH BẢN TỰA KHẮC LẠI
Mật Tạng Bộ 2 No. 928 (Tr.62 - Tr.67 )
ĐẠI CHÁNH NGUYÊN BẢN
Việt Dịch: Sa Môn Thích Quảng Trí
Kinh chép: Khi xưa Đức Phật ở tại thành Quảng Nghiêm dùng Phạm Âm nói kinh Thất Phật Dược Sư Bổn Nguyện Công Đức. Truyền đến đời Đường, nhiều người thọ trì. Vua Tây Tạng là Tụng Tạng Cang Bố chuyển qua Tạng văn để trong nước tu tập. Đợi đến triều đại bây giờ, Lạt Ma Vương Bối Lặc chế ra nghi quỹ cúng dường, cách thức lễ lạy tôn trọng đầy đủ, người đời sau y theo đây tu trì, trong đủ lòng thành kính, ngoài đủ cách thức; khiến hay giải thoát các khổ trong đời, mau chứng Vô Thượng Bồ Đề, thật là lợi ích vô cùng. Nhưng có thêm các phần văn của Tây Tạng, nhiều người không rõ. Sau đó, Hiển Thân Vương truyền cho Nghĩa Tân Công Công Bố Tra Bó Sở giải thích bản chữ Hán, văn tự đầy đủ giống như trong Kinh, trong Nguyên bản không có lời Tựa và không có cách thức an bố Đàn Pháp nghi quỹ và các bày bố phương vị các Tôn. Nay khắc lại không dám giấu, chỉ muốn cho mọi người biết. Nhân vì sức không đủ, dùng giáo pháp dạy lại từ từ. Nay gặp đại Đàn việt Tông Chí giúp đỡ khắc lại bản Kinh này, thêm vào các nghi thức và Phật tượng ở mỗi phương vị, cùng 35 vị Phật Cứu Độ Phật Mẫu, 21 vị, cùng hoạ vẽ Phạn tự cho thêm phần trang trọng. Lại có đàn việt (thí chủ) Lý Lập Viện Chánh
Lang Định Quan nghe khắc bản Kinh này cũng muốn phụ giúp, được gặp duyên lành, thỏa lòng mong ước, cùng nhau thích giải ra văn Hán các phần trong kinh có danh hiệu Phật đều viết ra hai loại chữ để cùng đối chiếu, cúi mong các chùa chiền cùng các bậc tín sĩ cùng nhau tu học là đồng chí, là kẻ hiền thảy không coi nhẹ. Nên, khi khắc bản Kinh này rồi không thể không nhớ đến các vị đã bỏ tiền của, công sức cùng nhau làm việc Pháp thí, nên có lời Tựa này.
Nhà Thanh hiệu Đạo Quang, năm Giáp Thân tháng Chạp ngày lành.
Chùa Tịnh Trụ . Trụ trì: Đặc Thụ
Thạnh Kinh chùa Chân Thắng
Chưởng ấn là LaÏt Ma A Vượng Trá Kế viết
(Hình tượng Đàn Pháp)
NGHI QUỸ LẬP ĐÀN TU PHÁP DƯỢC SƯ
Bắc Kinh, chùa Tịnh Trụ. Trụ Trì : A Vượng Tra Kế giải
Tu tập theo nghi quỹ Pháp Dược Sư có ba phần. Như trong Thất Phật Bổn Nguyện Quảng Đại Công Đức Nghi Quỹ Kinh Niệm Tụng có nói: “Người muốn kính lễ 7 Đức Phật tu theo nghi quỹ cần phải tắm rửa thân thể, mặc áo mới sạch, ăn đồ ăn thanh tịnh, các thứ phiền não dơ uế nơi tâm cần phải dứt bỏ, các lợi ích công đức của Tam Bảo cần cung kính, hiểu rõ, tin chắc, tu bốn món vô lượng tâm; hành giả nếu là tại gia cần thọ trì Trai giới, ngày Tám mỗi tháng bắt đầu. Tìm chỗ vừa ý, cần phải sái tịnh, treo các tràng phan để nghiêm sức, bên trong tạo đại Mạn Đà La, hoặc dùng bột màu, bột gạo, hoặc bột họa mà an bố, ở trên an trí tượng Phật ( Tượng vẽ, khắc, chạm trổ đều được), nếu có Xá Lợi nên để và quyến thuộc thế-xuất thế gian ( Xá Lợi, ngọc của các loại), y Pháp trần thiết. Các món cúng dường tận lực sắm sửa dâng cúng trước 7 tượng Phật, trước mỗi tượng đốt 7 ngọn đèn, treo 7 cái phướng 5 màu, lại để các thứ hương, hoa, hương bột, đồ ăn uống, thuốc thang, thất trân, bát cát tường bình báu các vật … Như vậy an bố cúng dường xong, đại chúng ngồi tại chỗ nhập vào Không Tánh Thiền định, tùy sức đọc tụng Thất Phật Bổn Nguyện Công Đức Kinh và Bát Nhã … phải tin sâu các kinh điển. Sau đó tận lực tụng Tổng Trì nghi quỹ này. Ít nhất là 7 ngày, hoặc 21 hoặc 35, cho đến 49 ngày, việc này trong các nghi quỹ cũng có nói. Pháp này có hai: một là Pháp Bố Đàn, hai là Pháp Tu Tập.
1- Pháp Bố Đàn : Tìm đất tốt thù thắng, trên, dưới, bốn bên sái tịnh, sạch sẽ trang nghiêm. Ở giữa để một cái kệ, nếu không có kệ, lập một đài sạch sẽ, trên dùng thuốc thơm mà bôi. Trên làm cung điện không thể sánh được, 4 góc có 4 cửa, trừ bỏ các Bài Phòng (các cánh cửa) Điện này phải như nghi thức làm chuẩn. Trong Điện khởi 8 tòa Đại Thừa cho đến các ngạch cửa cũng phải đúng nghi thức (cung điện y trong Mật Bộ Pháp giăng dây).
- Pháp chia màu sắc: Trong vô tỷ cung điện, trung vị, bốn phương, đài, có ba bậc, bậc trên màu trắng, giữa và dưới, hướng Đông màu xanh, hướng Nam màu vàng, hướng Tây màu đỏ, hướng Bắc màu lục; bề mặt thượng đài để 8 hoa sen, trên mặt trung đài để 16 hoa sen, trên mặt đài dưới để 24 hoa sen; thượng đài trung tâm và các phương bên trên hoa sen để tòa báu hình mặt trăng. Đài Giới bắt đầu từ cửa Đông, theo bên phải để 10 Hộ phương Thần, và Nhật, Nguyệt Thiên đều để tòa núi, theo bên trái bắt đầu để 12 Đại Tướng Dạ Xoa, để tòa bằng lụa là, trong 4 cửa để 4 Thiên Vương đều để Liên Hoa Nhật Luân tòa (toà hình mặt trời có hoa sen), hoặc dùng bột màu an bố mặt đất phía ngoài dùng cát báu mà rải, dùng các thứ hoa tốt, thơm để nghiêm sức, như cảnh giới trang nghiêm của cõi Cực Lạc. Bên ngoài có tường bao bọc, dùng núi sắt bao quanh, trên tường có các cọc báu trang trí như trong vườn rộng lớn, cung điện, đất Phật cần biết.
Phàm lập ra nghi quỹ có nhiều, khiến người Phật tử không gặp các Thầy dạy rõ ràng, bị dính mắc nghi quỹ. Thượng đài nơi trung ương nơi tòa Sư tử, an để hình Mạn Tư, nơi trên để bức kinh (tấm vải), trên để 8 hộp đựng Kinh. Hướng Đông, an Phật Thích Ca màu vàng, tay phải trấn Địa ấn, tay trái Chánh Định ấn. Hướng Nam, an Như Lai Oai Âm Vương màu vàng, tay phải Thí Nguyện ấn, tay trái Chánh Định ấn. Hướng Tây an Vô Ưu Tối Thắng Như Lai màu hồng nhạt, hai tay Trì ấn. Hướng Bắc Thiện Danh Xưng Cát Tường Như Lai màu vàng, tay phải Thí Vô Úy ấn, tay trái Chánh Định ấn. Đông Bắc Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai màu lam, tay phải Thí Nguyện ấn cầm trái A Rô Lợi, tay trái Chánh Định ấn, trên để bình bát. Đông Nam Kim Sắc Vô Cấu Như Lai màu vàng, hai tay Thuyết Pháp ấn. Tây Nam Pháp Hải Lôi Âm Như Lai màu đỏ, hai tay Thuyết Pháp ấn. Tây Bắc Pháp Hải Thắng Huệ Du Hý Thần Thông Như Lai màu đỏ, tay phải Thí Nguyện ấn, tay trái Chánh Định ấn. Như trên các Đức Như Lai đều mặc Pháp y màu vàng đỏ, tướng hảo trang nghiêm, kết Kim Cang già phu (ngồi Kim Cang). Trung đài trên hoa sen chính Đông an Văn Thù Sư Lợi màu vàng đỏ, tay trái cầm kinh, tay phải cầm kiếm, bên phải Ngài để Cứu Thoát Bồ Tát màu trắng, hai tay Kim Cang Quyền ấn để nơi hai bắp vế, tướng hơi dữ. Đông Bắc an Nhật Quang Biến Chiếu Bồ Tát màu vàng đỏ, tay phải cầm Ô Bà Lạp Hoa, trên hoa để trắp kinh, trên có mặt trời, tay trái Kim Cang Quyền ấn để nơi bắp đùi. Bên trái Văn Thù Sư Lợi an Kim Cang Thủ Bồ Tát màu lục, tay phải cầm chày đặt ở ngực, tay trái cầmcái chuông báu góc Đông Nam Nguyệt Quang Biến Chiếu Bồ Tát màu trắng, tay phải cầm Ô Ba Lạp Hoa, trên hoa có trắp kinh, trên trắp có Nguyệt Nha tướng (trăng lưỡi liềm), tay trái Kim Cang Quyền ấn để nơi đùi. Ở ngoài có 11 vị Bồ tát y trong bổn kinh có nói. Chánh hớng Đông Nam an Quan Thế Âm màu trắng, tay cầm hoa sen, bên trái Ngài là Đại Huệ Bồ Tát màu vàng, tay cầm hoa sen, trên hoa sen để một con mắt, bên phải là Từ Thị Bồ Tát màu vàng, tay cầm cây Long Hoa, trên có Bình Quân Trì. Tây Nam Biện Ích Bồ Tát màu trắng, tay cầm kiếm. Chánh Tây Bất Không Siêu Việt Bồ Tát màu trắng, tay cầm kiếm, bên tả Diệu Đoan Bồ Tát màu trắng, tay cầm cây hoa sen, trên hoa có trắp kinh, trên trắp có bảo châu, bên phải Phá
Minh Tuệ Bồ Tát màu trắng, tay cầm gậy. Tây Bắc Thiện Tư Duy Bồ Tát màu trắng, tay cầm Bảo bình. Chánh Tây Bắc Tu Di Tích Bồ Tát màu trắng, tay cầm cây hoa sen, trên hoa có Nguyệt Nha tướng, bên trái Vi Diệu Âm Bồ Tát màu lam nhạt, tay cầm Ô Ba Lạp Hoa, trên hoa có chày và Bảo châu chiếu sáng, bên phải Diệu Cao Phong Vương Bồ Tát màu vàng, tay cầm Bảo Tuệ (bông lúa). 11 vị Bồ Tát tay phải đều kết Tự ấn để nơi ngực, tay trái Kim Cang Quyền ấn để nơi đùi, dùng các báu trang nghiêm, thân mặc Thiên y nhiều màu, tướng hiền lành vui vẻ ngồi kết già.
Hạ đài tên hoa sen trong cửa Đông, bên trái Cực Ý Dạ Xoa Đại Tướng màu vàng cầm gậy, bên phải Kim Cương Dạ Xoa Đại Tướng màu xanh cầm kiếm, lại Chấp Trang Dạ Xoa Đại Tướng màu vàng cầm gậy. Đông Bắc Chấp Tinh Dạ Xoa Đại Tướng màu lam nhạt cầm gậy, hướng Bắc Chấp Phong Dạ Xoa Đại Tướng màu đỏ cầm Tam xoa, Cư Xử Dạ Xoa Đại Tướng màu khói am kiếm, Chấp Lực Dạ Xoa Đại Tướng nàu đỏ cầm gậy, Chấp Ẩm Dạ Xoa Đại Tướng màu vàng cầm gậy. Tây Bắc Chấp Ngôn Dạ Xoa Đại Tướng màu càng cầm búa. Hướng tây Chấp Tưởng Dạ Xoa Đại Tướng màu vàng cầm dây Quyến sách, Chấp Động Dạ Xoa Đại Tướng màu lam cầm gậy, Viên Tác Dạ Xoa Đại Tướng màu đỏ cầm bánh xe. Các Dạ Xoa Đại Tướng tay đều kết Tự ấn để nơi ngực, tay trái đều cầm chuột báu, miệng phun bảo châu, dùng các báu trang nghiêm, thân mặc Thiên y, thân hình vạm vỡ to lớn, hình tớng đáng sợ, đều ngồi tòa Đế Vương (ngai). Trong của Đông trên tòa sen để Nhật Quang Thiên Tử màu đỏ, hai tay bưng mặt trời, bên trái trên tòa Ngỗng Nguyệt Quang Thiên Tử màu trắng, hai tay bưng mặt trăng. Lại trên tòa Ngỗng (con ngỗng) an Phạm Thiên bốn mặt, màu vàng, tay phải cầm bánh xe, tay trái cầm Bảo bình. Đông Nam trên tòa Voi an Đế Thích Thiên màu trắng cầm chày. Hướng Nam tòa Dê núi an Hỏa Thiên màu đỏ tay bưng Lư lửa, trên tòa Trâu nước an Diêm Ma Thiên màu lam cầm gậy, trên tòa Khởi Tử Thi an La Sát Thiên màu xanh cầm kiếm, trên tòa Nước Thủy Thiên màu trắng, hai tay cầm con rắn quấn thành dây, góc tây nam Lộc tòa (con nai) Phong Thiên màu lam nhạt, tay cầm phan gió, hướng Tây tòa Ngựa Dạ Xoa Thiên màu vàng tay cầm gậy, trên tòa Bò Tự Tại Thiên màu trắng cầm xoa, trên tòa Heo Địa Thiên Mẫu màu vàng hai tay cầm bình. Các chư Thiên đầu đội mão báu, thân mặc áo Trời.
Trong cửa Đông Trì Quốc Thiên Vương màu trắng, hai tay cầm đàn Tỳ Bà. Cửa Nam Tăng Trưởng Thiên Vương màu lam cầm kiếm. Trong cửa Tây Quảng Mục Thiên Vương màu đỏ cầm dây rắn. Trong cửa Bắc Đa Văn Thiên Vương màu vàng tay cầm chuột báu. Bốn Thiên Vương đầu đội mão báu, thân mặc áo Trời, hai chân đều đứng; như vậy các tượng chạm, khắc, vẽ … đều được. Nếu dùng vàng bạc mà đúc thì rất là tốt, cần theo nghi quỹ phân bố, mặt các Vị đều xây vào ở trong Đàn.
Trong bản xưa có nói rằng, tùy theo phương tiện mà làm. Nếu không có họa tượng, dùng Mạn Tra y theo nghi quỹ, dùng bột hoa mà phân bố cũng được. Nhưng như vậy mà nói thì khiến người không tưởng đến Phật, điều này cần phải biết đó, cần phải một lòng tin tưởng liền thành tòa rộng lớn. Trên thỉnh Chư Phật giáng lâm, không cần như trước bày biện y trong kinh tạo tượng Phật, 7 Vị là chính yếu. Bảy vị Phật cùng với quyến thuộc nương vào sức này mà hiện như mời khách đến, có trí huệ thì hiểu rõ không nên nghi ngờ, đây là do các vị Hiền giả nói ra. An trí xong, sau đó an bày cácmón cúng dường. Trước mỗi vị Phật đốt 7 ngọn đèn, treo 7 cái phướng. Nhân vì Cứu Thoát Bồ Tát
nguyện văn có nói. Lại dùng các thứ hương dược, nước công đức, hương xoa, hoa mới, hoặc hoa tạo (như hoa vải, giấy), Chiên Đàn Hương, A Hạ Rô Hương, Đổ Hạ Rô Hương, các thứ hương đốt cho đến các